Wednesday, September 25, 2019

PHƯỚC HẠNH NƯỚC TRỜI

Ma-thi-ơ (Matthew) 5:1-3
Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng:
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!

Suy gẫm:
Ma-thi-ơ giới thiệu Chúa Jesus là Vua ra từ dòng dõi của vua Đa-vít. Ngài là Vua dân Giu-đa, Đấng Mê-sia của người Do-thái. Sau phần miêu tả chức vụ toàn diện (wholistic ministry) của Chúa Jesus, trong đó Ngài cung ứng sự chữa lành đầy trọn cho con người trong ba phương diện: tâm thần, linh hồn, và thân thể (4:23-25), Ma-thi-ơ trình bày Bài giảng Trên Núi (the Sermon on the Mount) của Ngài (Ma-thi-ơ đoạn 5 đến 7). Tác giả sách Phúc Âm Lu-ca ghi lại bài giảng này của Chúa Jesus ngay sau biến cố quan trọng Ngài chọn 12 sứ đồ để bắt đầu chức vụ trên đất, mở mang Nước Trời (Lu-ca 6:12-49). Như thế, theo nghĩa rộng, Bài Giảng Trên Núi được xem là “Hiến Chương” (Constitutions) của Nước Trời cho tất cả tín nhân sống trong Nước Trời. Trong nghĩa hẹp, Bài giảng Trên núi cũng là “Kim Chỉ Nam” (Guidelines) cho đời sống và chức vụ của các sứ đồ ngày xưa và cho môn đồ của Chúa Jesus trải qua các thời đại.
Câu 1 của đoạn 5 tác giả Phúc Âm Ma-thi-ơ bắt đầu: “Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệngtruyền dạy rằng…” Sau khi dành thì giờ cho đám dân đông, Chúa Jesus cùng các môn đồ núi để chuẩn bị họ cho sứ vụ trước mắt. Việc Chúa Jesus lên núi ở riêng với các môn đồ khiến chúng ta nhớ lại biến cố Môi-se được Chúa gọi lên núi Si-nai để nhận hai bảng luật pháp (10 điều răn) Ngài ban cho dân sự Y-sơ-ra-ên sau khi ra khỏi Ai-cập. Chỉ có một sự khác biệt giữa Chúa Jesus và Môi-se là Ngài là Đấng ban luật pháp còn Môi-se là người nhận luật pháp. Chúa Jesus ngồi trong khi dạy dỗ môn đồ mình. Các Thầy Ra-bi Do thái lúc thuyết giảng thì đứng nhưng Chúa Jesus khi dạy dỗ thì ngồi như một vị giáo sư. Chúa Jesus được trình bày trong sách Ma-thi-ơ là giáo sư như Môi-se trong Cựu Ước.  Ngoài ra, Chúa Jesus ngồi trong tư cách là một vị vua ban hành luật pháp cho dân sự trong Nước Trời. Ma-thi-ơ dùng hai động từ “mở miệng” (opening His mouth) và “truyền dạy” (teaching) để miêu tả việc Chúa Jesus ban hành giới mạng. Với động từ “mở miệng” tác giả sách Phúc Âm muốn nhấn mạnh điều Chúa Jesus chuẩn bị nói ra đây chứa đựng tính chất quan trọng (solemn) và mạc khải (revelatory) như là lời sấm truyền (oracles) đến từ Đức Chúa Trời. Hơn thế nữa, những điều Chúa Jesus truyền dạy là sự đổ ra của tấm lòng của Ngài, mong ước các môn đồ đón nhận như một món quà thiêng liêng mà họ phải biết trân trọng. Còn động từ “truyền dạy” ngụ ý sự dạy dỗ không với mục đích truyền đạt kiến thức nhưng nhằm khuấy động lòng thính giả và đòi hỏi họ phải đáp ứng với điều mình nghe. Cả hai động từ này được dùng trong thể quá khứ diễn tiến (imperfect) cho thấy việc làm của Chúa Jesus như một thói quen. Như thế, đối với Chúa Jesus, con đường giáo dục là huyết mạch của cuộc cách mạng đời sống tâm linh con người và khiến họ trở nên thích hợp với tánh chất cao trọng của cõi thiên thượng của vương quốc Đức Chúa Trời.
Giới mạng của Nước Trời bắt đầu bằng tám phước lành. Mỗi phước lành bắt đầu bằng từ “Phước” (Blessed). Từ ngữ này đóng vai trò như một lời mời gọi vào trong ân sủng Đức Chúa Trời dành cho những ai thuộc về vương quốc của Ngài. Trong mỗi lời mời gọi kèm theo một điều kiện rõ ràng. Trong nguyên văn Hi-lạp, từ “phước” (makarios) thường được dùng cho các vị thần, nói đến niềm hạnh phúc hay niềm vui tự tại, sâu kín trong tâm hồn con người trào dâng ra ngoài mà không bị bất cứ một quyền lực hay ảnh hưởng nào bên ngoài có thể dập tắt được. Niềm hạnh phúc hay niềm vui này hoàn toàn độc lập với mọi tình huống dẫu là hanh thông hay bất hạnh đang xảy ra bên ngoài, đang mang đến sự thay đổi tư duy và lối sống của con người. Đây không phải là sản phẩm của lối suy nghĩ hay là sự nhào nặn của con người bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời khi con người bằng lòng chấp nhận và tôn trọng quyền chủ trị (lordship) của Ngài trong đời sống của mình. Điều kiện tiên quyết của người bước vào trong vương quốc của Đức Chúa Trời là phải biết đặt ý muốn và đời sống của mình dưới quyền cai trị của Ngài. Không thể có sự chọn lựa nào khác.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Jesus, con cảm ơn Ngài đã đến để mang vương quốc của Đức Chúa Trời đến với con và bởi chính Ngài con được dự phần vào trong vương quốc hạnh phúc thật. Xin cho những ngày trên đời này của con sẽ là những chuỗi ngày nếm biết phước hạnh của thiên đàng và chia sẻ phước hạnh đó cho những ai được mời gọi vào trong vương quốc của Ngài. Amen!

Wednesday, September 18, 2019

THAN KHÓC ĐỂ ĐƯỢC PHƯỚC

Ma-thi-ơ (Matthew) 5:1-10
Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng:
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!

Suy gẫm:
Một trong những đặc điểm trong cuộc đời những người thuộc về vương quốc của Đức Chúa Trời là có lòng than khóc. Chúa Jesus phán: “Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được an ủi.”  Trong câu Kinh Thánh này, Chúa Jesus dùng động từ “than khóc” với một ý nghĩa rất mạnh mẽ và rõ ràng.  Từ này được dùng để chỉ về sự than khóc khi người thân yêu nhất của mình qua đời (Sáng 23:2; 37:34, 35; 50:3).  Đồng thời, nó cũng được dùng để diễn tả sự than khóc vì tội lỗi của chính mình hay của dân sự (Ma-thi-ơ 26:75; 2 Cô-rinh-tô 5:2; 12:21; Gia-cơ 4:9).  Trong đời sống con người, không có gì đau khổ và sầu thảm bằng xa lìa người thân yêu tạm thời hay vĩnh viễn. Sở dĩ chúng ta than khóc vì trên một phương nào, họ ra đi mà chẳng bao giờ trở lại.  Hơn thế nữa, những kỷ niệm của người đó để lại trong tâm trí và tấm lòng chúng ta những dấu vết chẳng bao giờ xóa nhòa theo thời gian. Than khóc nói lên sự bất lực và giới hạn của con người trước một hoàn cảnh nằm vượt ra khỏi vòng tay với và khả năng của chính mình.  Than khóc cũng nói lên sự tiếc nuối về một điều nào đó hay sự đổ vỡ thất bại do chúng ta gây ra mà chẳng bao giờ hàn gắn hay tìm lại được. Nói chung, than khóc là sự biểu lộ tính chất yếu đuối của con người. Nhưng than khóc cũng là món quà Chúa ban cho con người. Nó vừa là cách biểu lộ sự đau khổ và thất vọng nhưng vừa là cách làm vơi đi những nỗi đau khổ và tuyệt vọng của chính mình. Nó là một lối thoát của sự ức chế và dồn nén cực độ trong đời sống tâm lý của con người.
Nhìn qua lăng kính của con người, người than khóc là người yếu hèn, không đủ can đảm và sức mạnh để chống chọi lại với những lượn sóng đau khổ đang ập đến cuộc đời mình.  Nhưng đó chính là sự biểu lộ của lòng tự mãn và kiêu căng trống rỗng của bản chất của con người sau sự sa ngã.  Chính vì thế, có người không muốn bày tỏ sự yếu mềm của mình và cố gắng phủ lên chính mình một lớp áo can đảm và cứng rắn.  Nhưng sâu xa trong tấm lòng của người đó là nỗi thất bại và cay đắng đang gậm nhấm chính mình. Cuối cùng hậu quả là người đó không dám sống thật với chính mình, tự lừa dối mình và lừa dối người khác.  Người không dám để cho tiếng khóc bật lên như là lối thoát của đời sống tình cảm, đó chính là người sẽ làm cạn khô giếng nước mắt của mình và rồi làm cho con tim của mình trở nên băng giá, lạnh lùng và hửng hờ đối với những nỗi đau khổ của người khác.
Nhưng nhìn theo phương diện của Đức Chúa Trời, người than khóc là người hạnh phúc vì đã để cho chính mình tự diễn tả tình cảm thầm kín của mình và biết tạo cho mình một lối thoát của đời sống nội tâm. Hơn thế nữa, Chúa Jesus nói người biết than khóc sẽ được an ủi. Không biết khóc thì chẳng bao giờ nhận được sự an ủi. Khi than khóc, con người nhận biết sự bất lực và yếu đuối của chính mình. Điều này sẽ đẩy con người đến một trong hai thái cực: (a) tự tìm cho mình lối thoát giả tạo; hay (b) tìm cho mình một nơi nương tựa vững chắc và đầy hy vọng để có câu trả lời. Vì thế, Chúa Jesus cho thấy ngưỡng cửa đầu tiên của một người muốn bước vào vương quốc Đức Chúa Trời đó là tấm lòng biết than khóc. Người đó phải biết than khóc về tình trạng bất lực, yếu đuối, tội lỗi của chính mình. Đó là sự biểu lộ của tấm lòng ăn năn về tội lội mình đã phạm, sự thất bại về lầm lỡ mình phải mang, sự yếu đuối không thể vượt qua được mà mình phải chấp nhận. Ngay tại thời điểm này, người bước chân vào vương quốc của Đức Chúa Trời muốn ký thác đời sống của mình cho Đấng có thể làm cho mình điều mà chính mình không thể làm được. Khi đó, người ấy sẽ nhận được sự an ủi và vỗ về của chính Chúa là Vua của thiên đàng. Chúa Jesus xưng Ngài là Đấng An Ủi và gọi Chúa Thánh Linh là Đấng An Ủi khác (Giăng 14:16-17). Như thế, sự an ủi mà Chúa Jesus ban cho những kẻ thuộc về vương quốc của Ngài không phải là hành động vỗ về của Đấng An Ủi nhưng chính sự hiện của Ngài là thân vị an ủi thật sự cho đời sống chúng ta.
Điều đáng cho chúng ta chú ý là động từ “than khóc” được dùng trong thì hiện tại. Còn động từ “an ủi” được dùng trong thì tương lai chắc chắn và thể thụ động.  Như thế, điều Chúa Jesus muốn nói ở đây là: những con người thuộc về vương quốc của Ngài trong hiện tại không được miễn trừ những nỗi đau khổ khi sống trong một thế giới đau khổ do hậu quả của tội lỗi gây ra như: bệnh tật, sự thất bại của chính mình, và ngay cả sự ra đi của những người thân yêu. Nhưng tất cả những điều đó chỉ là tạm thời.  Người đó sẽ có một cái nhìn vào cuối con đường xuyên qua những nỗi đau khổ gây than khóc đó, nhìn thẳng vào cõi đời đời. Có một quang cảnh tuyệt vời của sự an ủi hiện ra trước mắt được Giăng mô tả như sau: “Nầy, đền tạm của Ðức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Ðức Chúa Trời sẽ ở với chúng. Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhứt đã qua rồi” (Khải huyền 21:3-4). Nhưng đang khi trông chờ đến ngày đó, Đức Chúa Trời dùng những thử thách, đau khổ, mất mát trong cuộc đời tạm đầy nước mắt này để thánh hóa và chuẩn bị chúng ta cho cõi đời đời của Ngài mà chỉ có những ai thuộc về vương quốc của Ngài mới thấu hiểu được tại sao những điều đó xảy đến với mình.  Chỉ có những con người thuộc vương quốc của Đức Chúa Trời mới hiểu được nguyên tắc này: than khóc trong hiện tại để mỉm cười trong tương lai đời đời. Còn những con người không thuộc về vương quốc của Ngài sẽ phải khóc trong hiện tại lẫn trong cả cõi đời đời (Ma-thi-ơ 24:51).

Wednesday, September 11, 2019

TRẢI NGHIỆM CỦA ÂN SỦNG

I Sa-mu-ên (Samuel) 1:19-20
“Qua ngày sau vợ chồng dậy sớm, thờ lạy trước mặt Ðức Giê-hô-va, đoạn trở về nhà mình tại Ra-ma. Ên-ca-na ăn ở cùng An-ne, là vợ mình; Ðức Giê-hô-va bèn nhớ đến nàng. Ðương trong năm, An-ne thọ thai và sanh một con trai, đặt tên là Sa-mu-ên, mà nói rằng: Tôi đã cầu xin nó nơi Ðức Giê-hô-va.”
Suy gẫm:
Bối cảnh thời kỳ cuối cùng của sách Các Quan Xét là một xã hội chìm ngập trong sự hoang loạn, buồn thảm và đen tối. Đạo đức thuộc linh suy đồi; phẩm trật của chức tư tế rơi vào hụt hẫng và hỗn loạn, ý muốn con người vượt trổi hơn mọi tiêu chuẩn và nguyên tắc thần thượng vì “… ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải” (Quan xét 21:25). Sa-mu-ên xuất hiện như ngôi sao sáng giữa vùng trời đen kịt. Đây là sự ban cho bắt nguồn ân sủng bất tận của Đức Chúa Trời tràn ngập và bao trùm trên đống dơ nhớp của sự bội nghịch và bất kính của gia đình Hê-li và dân sự Đức Chúa Trời. Giữa một mớ hỗn độn của những kẻ vô đạo đức và vô luật pháp, Đức Chúa Trời vẫn còn dành để cho Ngài những con người như gia đình Ên-ca-na và An-ne. Ên-ca-na có nghĩa là “Đức Chúa Trời chiếm hữu” (God has possessed). Một con người và gia đình đã được Ngài chiếm hữu thuộc riêng về mình, để rồi qua gia đình đó Đức Chúa Trời làm việc lớn cho dân sự Ngài. Mặc dầu chịu ảnh hưởng bệnh đa thê của một xã hội vốn thánh thiện bị nhuốm màu thế tục, Ên-ca-na quyết không để tình trạng thối nát của nhà Hê-li ảnh hưởng đến đời sống thuộc linh của chính mình và gia đình. Ông vẫn một mực giữ lòng trung tín yêu mến Chúa và muốn dẫn dắt gia đình mình đi trong đường lối tin kính (I Sa 1:3). Lòng yêu mến Chúa của Ên-ca-na bị thử nghiệm cách mãnh liệt bởi việc Chúa để cho An-ne son sẻ. Tuy nhiên, từ trong lò lửa thử nghiệm nghiệt ngã đó đã nung đúc ra những con người cho Đức Chúa Trời trong một thời điểm vô cùng nghiêm trọng mà dân sự của giao ước thánh đang cần. Chẳng bao giờ có được một Sa-mu-ên thánh thiện, can đảm đối diện với tội lỗi và sự mục nát của giới tư tế gói trọn trong tâm tình khiêm nhu, nếu không có một An-ne và Ên-ca-na chịu trui rèn trong lò thử thách của Đức Chúa Trời!
Từ trong chốn tủi nhục và đau buồn, An-ne đã vươn đến gần Chúa và kinh nghiệm chiều sâu của sự cầu nguyện: “An-ne cầu nguyện thầm.” Cầu nguyện thành lời để không bị chi phối và có thể kiểm soát tư tưởng và lời nói đã là điều khó. Nhưng cầu nguyện không thành lời mà vẫn giữ được chiều sâu của sự kín nhiệm là điều vô cùng khó khăn và nó đòi hỏi sự tập trung cao độ. Khi đó, tâm hồn của chính mình quyện lẫn với sự hiện diện của Chúa. Chẳng một đệ tam nhân nào có thể chia xẻ với An-ne trong mối tâm giao khắng khít giữa bà với Chúa của mình. Những nỗi thống khổ cay đắng và tủi nhục tận trong nơi sâu thẳm của linh hồn bà là môi trường tốt và màu mỡ để tâm linh bà bén rễ bám chặt lấy Đức Chúa Trời, hút tất cả những chất bổ dưỡng thiêng liêng để nuôi dưỡng đức tin và tuôn chảy trong sự cầu nguyện không thể nói thành lời của bà. Khi đối diện với chính sự hiện diện của Chúa trong sự cầu nguyện dốc đổ và thành khẩn, An-ne nhận lấy năng lực và niềm tin quyết vào trong chính Ngài thay vì vào lời cầu nguyện. Sự ra đời của Sa-mu-ên chính là sự đáp ứng và bằng chứng sự hiện diện của Ngài đối với sự đổ ra của chính con người của An-ne trong sự cầu nguyện.
Không có gì bảo đảm rằng người yêu mến Chúa được miễn trừ khỏi những nỗi bất hạnh và bị quăng vào trong những hoàn cảnh đau buồn và tủi nhục như An-ne. Nhưng chính nhờ những hoàn cảnh đó là động cơ thúc đẩy con người đến gần Chúa và kinh nghiệm được lòng nhơn từ và quyền năng của Ngài. Chẳng bao giờ hội thánh của Đức Chúa Trời có được những đứa con can trường dám đương đầu với sự bất trung của dân sự giao ước nếu không có những người mẹ bằng lòng kinh qua lò thử rèn nghiệt ngã mà Đức Chúa Trời bày ra. Kết quả của sự đau khổ chẳng những đưa con người đến gần Chúa trong sự cầu nguyện nhưng cũng là cơ hội Dức Chúa Trời thi thố phép lạ theo quyền năng lạ lùng và kỳ diệu của Ngài. Công thức thuộc linh của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ thay đổi.
Cầu nguyện:
Cầu xin Chúa giúp con trung tín và can đảm sống giữa những khổ đau của cuộc đời và biết rằng Chúa có một chương trình tốt lành trong cuộc đời của con và Hội Thánh của Ngài. Amen.

Wednesday, September 4, 2019

BÔNG TRÁI CỦA THÁNH LINH: TIẾT ĐỘ

Ga-la-ti (Galatians) 5:22-23
Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ: không có luật pháp nào cấm các sự đó.
Suy gẫm:
Trong nguyên nghĩa, danh từ “tiết độ” hay “tự chủ” (egkrateia) được triết gia Plato sử dụng để nói đến nghệ thuật làm chủ chính mình (self-mastery). Đây chính là tinh thần làm chủ được khát vọng và lòng đam mê sống thỏa mãn chính mình. Ngoài Kinh Thánh, từ egkrateia được dùng chỉ về đức hạnh của một vị hoàng đế chẳng để cho quyền lợi cá nhân ảnh hưởng đến việc cai trị thần dân của mình. Đây là đức hạnh khiến cho một con người làm chủ chính mình hầu cho người đó thích hợp làm đầy tớ phục vụ người khác.
Trong Kinh Thánh Tân Ước, danh từ egkrateia được dùng chỉ về kỷ luật bản thân của một vận động viên tranh tài (I Cô-rinh-tô 9:25) và nghệ thuật làm chủ tính dục trong đời sống của Cơ đốc nhân (I Cô-rinh-tô 7:9). Ngoài ra, tiết độ là một trong những điều đòi hỏi trong tiến trình tăng trưởng của người theo Chúa (II Phi-e-rơ 1:6). Như vậy, chúng ta có thế nói đức tiết chế hay tiết độ là điều cần yếu trong đời sống Cơ đốc nhân để có thể tiến xa hơn trong tiến trình nên thánh và trở nên giống Chúa Jesus ngày càng hơn. Đồng thời, Kinh Thánh cũng cho chúng ta thấy thiếu sự tiết độ sẽ khiến cho đời sống Cơ đốc nhân không tránh khỏi sự phán xét của Chúa (Công vụ 24:25).
Trong Kinh Thánh Cựu Ước, động từ egkrateuomai được dịch là “kiềm chế” dùng để nói đến việc đè nén cảm xúc để giữ bình tĩnh trước một tình huống dễ gây xúc động; chẳng hạn, như trong trường hợp Giô-sép khi gặp lại các anh của mình sau bao nhiêu năm xa cách (Sáng Thế Ký 43:31). Điều này nói lên sự trưởng thành trong tâm tánh của Giô-sép sau bao nhiêu năm tháng gian khổ. Nhưng động từ này cũng được dịch là “miễn cưỡng” để diễn tả hành động cố gắng làm một việc sai lầm đi ngược lại với nhận thức đúng đắn; như trong trường hợp vua Sau-lơ miễn cưỡng dâng của tế lễ cho Chúa trong khi đáng ra phải chờ đợi tiên tri Sa-mu-ên đến dâng của lễ (I Sa-mu-ên 13:12). Điều này biểu lộ sự ấu trĩ thuộc linh của một vị vua khi để cho ý muốn riêng làm chủ cuộc đời của mình.
Tóm lại, sự tiết độ hay tiết chế là dấu hiệu của đời sống trưởng thành thuộc linh. Bông trái của sự tiết độ là sống cho lợi ích của người khác và trên hết cho ý muốn của Đức Chúa Trời, không hành động để thỏa mãn tự ái, nhục dục nhằm mang lại tư lợi cho mình.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Thánh Linh, xin chiếm hữu và đầy dẫy con bằng chính sự sống của Ngài để con có thể sống tiết chế mỗi ngày trong khát vọng, ước muốn, lời nói, và việc làm hầu cho chính Ngài được vinh hiển và người chung quanh được gây dựng. Amen!