Wednesday, April 24, 2019

CHẲNG HỀ NHƯ VẬY!

Rô-ma (Romans) 6:1-9
Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta phải cứ ở trong tội lỗi, hầu cho ân điển được dư dật chăng? Chẳng hề như vậy! Chúng ta đã chết về tội lỗi, lẽ nào còn sống trong tội lỗi nữa? Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp tem trong Ðức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp tem trong sự chết Ngài sao? Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp tem trong sự chết Ngài, hầu cho Ðấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy. Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau: vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa. Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi. Vả, nếu chúng ta đã cùng chết với Ðấng Christ, thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ sống lại với Ngài, bởi biết rằng Ðấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì chẳng chết nữa; sự chết không còn cai trị trên Ngài.
Suy gẫm:
Một trong những vấn nạn của đời sống Cơ đốc nhân là làm thế nào để sống đắc thắng tội lỗi khi còn sống trong xác thịt? Giống như chúng ta ngày nay, tín hữu tại Hội Thánh Rô-ma cũng vật lộn với vấn đề này trong đời sống thuộc linh của họ. Tuy nhiên, để biện minh cho sự thất bại của đời sống Cơ đốc nhân, tín hữu tại Rô-ma cho rằng người tin Chúa muốn biết được chiều sâu của ân sủng Đức Chúa Trời thì cần phải chìm ngập trong nếp sống tội lỗi. Họ lý luận rằng ân sủng tỷ lệ thuận với tội lỗi. Cho nên nơi nào tội lỗi gia tăng thì ân sủng cũng sẽ gia tăng! Muốn đo được chiều sâu của ân sủng Đức Chúa Trời thì con người phải biết được chiều sâu của tội lỗi vì khi con người càng chìm đắm trong tội lỗi bao nhiêu thì con người càng dò thấu được chiều sâu của lòng nhân và ân sủng trong ơn cứu độ của Chúa Jesus Christ bấy nhiêu. Mới nghe qua, chúng ta thấy điều này có vẻ hữu lý vô cùng. Tuy nhiên, sứ đồ Phao-lô nói rằng: “Chẳng hề như vậy.” Trong nguyên văn Hi-lạp, cụm từ này có nghĩa là “Đức Chúa Trời hoàn toàn cấm đoán!” Điều sứ đồ Phao-lô muốn nói là quan niệm này vô cùng sai lầm vì không thấu hiểu được ý nghĩa của sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Jesus. Vì chỉ tin Chúa Jesus mà không biết được ý nghĩa của việc Cơ đốc nhân đồng nhất chính mình trong chết và sống lại của Chúa Cứu Thế Jesus, Cơ đốc nhân đã sống cuộc đời theo Chúa vẫn làm nô lệ cho xác thịt, đầy dẫy thất bại và đắng cay. Để giải quyết tình trạng thuộc linh này, sứ đồ Phao-lô đưa ra cho tín hữu tại Hội Thánh Rô-ma hai giáo lý vô cùng quan trọng sau đây:
1/ Cơ đốc nhân phải biết rõ rằng người cũ của mình đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Chúa Jesus khi Ngài chết. Tại sao Chúa Jesus phải chịu chết cho con người? Chẳng những Ngài chết để trở thành của lễ chuộc tội cho nhân loại nhưng Ngài còn chịu chết để hủy phá “xào huyệt” của tội lỗi trong con người. Đó chính là bản chất xác thịt khi con người đã bán mình cho tội lỗi. Khi một người chết thì được thoát khỏi quyền lực của tội lỗi đang hoành hành trong xác thịt của người đó. Tội lỗi còn đó nhưng người đó đã chết với tội lỗi. Tội lỗi không còn ảnh hưởng gì đến người đó. Cho nên, vì đã chết đối với tội lỗi, Cơ đốc nhân không thể nào tiếp tục sống trong tội lỗi nữa.
2/ Cơ đốc nhân phải biết rõ rằng mình cũng đồng sống lại với Chúa Jesus khi Ngài từ kẻ chết sống lại, để có thể sống đời mới theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Khi Chúa Jesus sống lại từ cõi chết thì Ngài đã phá hủy hay bứt đứt dây trói của sự chết. Cái nọc của sự chết chính là tội lỗi (I Cô-rinh-tô 15:56). Như thế, Chúa Jesus là Đấng duy nhất đắc thắng tội lỗi vì Ngài đã đắc thắng sự chết. Do đó, đời sống người theo Chúa Jesus không gì khác hơn là chính Chúa Jesus Christ đã chết và sống lại đang sống động trong người đó, chuyển tải những kinh nghiệm của chính Ngài cho người đó hầu người đó có thể sống cuộc đời đắc thắng tội lỗi giống như Ngài đã sống. Sứ đồ Giăng nói quả quyết về đời sống Cơ đốc nhân như sau: “Ấy là Chúa thể nào thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian này” (I Giăng 4:17b). Chúa Jesus đã sống lại để chúng ta là người tin Ngài có thể sống đời đắc thắng và làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Ha-lê-lu-gia! Thật vô cùng tạ ơn Chúa! Cầu xin Chúa cho mỗi chúng ta kinh nghiệm sự đồng nhất hóa chính mình với Chúa Cứu Thế Jesus trong sự chết và sự phục sanh của Ngài trong suốt quãng đời còn lại của chúng ta.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin đưa con mỗi ngày sâu xa vào kinh nghiệm đồng chết và đồng sống lại với Chúa Cứu Thế Jesus, hầu con có thể sống đắc thắng cho Ngài giữa thế gian đầy tội lỗi và tăm tối này. Amen!

Thursday, April 18, 2019

SỐNG VỚI SỰ ĐAU KHỔ

Gia-cơ (James) 5:7-11
Hỡi anh em, vậy hãy nhịn nhục cho tới kỳ Chúa đến. Hãy xem kẻ làm ruộng: họ bền lòng chờ đợi sản vật quí báu dưới đất cho đến chừng nào đã được mưa đầu mùa và cuối mùa. Anh em cũng vậy, hãy nhịn nhục và bền lòng; vì kỳ Chúa đến gần rồi. Hỡi anh em, chớ oán trách nhau, hầu cho khỏi bị xét đoán; kìa, Ðấng xét đoán đứng trước cửa. Hỡi anh em, hãy lấy các đấng tiên tri đã nhơn danh Chúa mà nói, làm mẫu mực về sự chịu khổ và nhịn nhục cho mình. Anh em biết rằng những kẻ nhịn nhục chịu khổ thì chúng ta xưng là có phước. Anh em đã nghe nói về sự nhịn nhục của Gióp, và thấy cái kết cuộc mà Chúa ban cho người; vì Chúa đầy lòng thương xót và nhơn từ.
Suy gẫm:
Sau khi luận về kẻ giàu ức hiếp và đày đọa người nghèo giữa cảnh đời đầy ngang trái (5:1-6), sứ đồ Gia-cơ đưa ra lời khuyên và khích lệ các tín hữu sống trong hoàn cảnh khó khăn, nghèo khổ trong hiện tại. Toa thuốc cho độc giả của ông nhằm mang lại sự an ủi và xoa dịu nỗi khổ đau trong cuộc đời hiện tại là hãy nhịn nhục trong hiện tại và hướng đến sự tái lâm của Chúa Jesus trong một ngày không xa. Sứ đồ Gia-cơ nói: “Hãy nhịn nhục.” Sợi dây nối liền giữa hiện tại đầy ngang trái và khổ đau với cõi đời đời vinh hiển khi Chúa Jesus trở lại chính là sự nhịn nhục. Từ “nhịn nhục” trong nguyên văn Hi-lạp có nghĩa là kiên nhẫn chịu đựng sự gian khổ hay sỉ nhục với một tinh thần tích cực vì biết rằng cuối cùng chắc chắn sẽ có câu trả lời tốt lành. Chính vì thế, đức nhịn nhục là yếu tố vô cùng quan trọng trong đời sống cầu nguyện và sống đạo của người Cơ đốc (Lu-ca 18:7; I Cô 13:4; I Tê 5:14). Các thánh thuở xưa sống và tin cậy Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh bằng đức nhịn nhục (Hê 6:5). Trên hết, đức tính nhịn nhục chính là đức tính của Đức Chúa Trời, lưu xuất từ lòng nhân từ và nhẫn nhục của Ngài (Lu-ca 18:7; II Phi-e-rơ 3:9). Như vậy, để có thể sống đắc thắng trong nghịch cảnh và chịu đựng sự đau khổ trong đời sống hiện tại, Cơ đốc nhân cần được Chúa ban cho mình đức nhịn nhục của chính Ngài để kiên nhẫn chịu đựng tất cả mọi sự vì lòng yêu mến Chúa và yêu anh em. Tuy nhiên, lòng nhẫn nhục của Cơ đốc nhân trong hoạn nạn và thử thách có giới hạn của nó: “cho tới kỳ Chúa đến.” Sự nhịn nhục của Cơ đốc nhân không kéo dài vô tận. Đức Chúa Trời thiết lập ra giới hạn cho mỗi người vì Ngài biết sức chịu đựng của mỗi người. Nhưng dẫu sao đi chăng nữa thì chỉ kéo dài “cho tới kỳ Chúa đến” mà thôi, và “kỳ Chúa đến gần rồi!”
Sứ đồ Gia-cơ dùng hình ảnh của người làm nông để minh họa cho đức nhịn nhục có mục đích của Cơ đốc nhân. Người làm nông nhịn nhục và kiên nhẫn về những gì mình gieo xuống vì biết rằng mình sẽ gặt những gì mình đã gieo. Người theo Chúa cũng sống với cùng một nguyên tắc như vậy. Sống nhịn nhục và làm điều thiện trong những ngày khó khăn và thử thách không phải là vô ích. Cuối cùng chúng ta sẽ gặt những gì chúng ta gieo trong những ngày này. Vì thế, sứ đồ Gia-cơ khuyên: “Hỡi anh em, chớ oán trách nhau, hầu cho khỏi bị xét đoán.” Mùa gặt cho những hành động và lời nói chúng ta không phải là xa vời: “Kìa, Ðấng xét đoán đứng trước cửa.” Để có thể hiểu được những gì Cơ đốc nhân nói và làm có ảnh hưởng như thế nào, sứ đồ Gia-cơ đưa ra hình ảnh các đấng tiên tri trong Cựu Ước. Họ là những người nhơn danh Chúa để nói tiên tri và chờ đợi cho đến khi lời nói của họ được ứng nghiệm. Thậm chí, để có thể thấy được điều họ nói được ứng nghiệm thì chính họ phải trải qua những ngày tháng gian khổ và thử thách khốc liệt. Các tiên tri của Đức Chúa Trời là những người Chúa sai phái ra đi để công bố sứ điệp của Đức Chúa Trời mà còn không được miễn trừ nguyên tắc thuộc linh này, thì chúng ta cũng chẳng có lý do gì để sống với một nguyên tắc dễ dàng và thuận lợi hơn chính họ. Hơn thế nữa, những ai sống theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì sẽ phải trải qua những chặng đường gian khổ, thử thách cho đến chừng sự công nghĩa của Chúa được bày tỏ. Như thế, người theo Chúa chịu đựng thử thách được xem là người có phước vì được dự phần vào chương trình đời đời của Ngài. Cuối cùng, sứ đồ Gia-cơ đưa ra câu chuyện của Gióp để khích lệ độc giả của ông. Họ phải hiểu rằng kết cuộc của Gióp hơn sự khởi đầu của người, nhưng không phải là do đức công bình của ông bèn là “vì Chúa đầy lòng thương xót và nhơn từ.” Là một tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời, mỗi chúng ta chẳng có quyền gì để đòi hỏi Đức Chúa Trời phải ban phước cho chúng ta trong khi mình chịu khổ. Nếu có chăng thì cũng chỉ do lòng nhơn từ và thương xót của Chúa mà thôi!
Cầu nguyện:
Lạy Chúa yêu thương, xin tiếp tục sống trong con và sống thay con để bày tỏ đức nhịn nhục và lòng yêu thương của Ngài trong và qua đời sống con. Xin cho con luôn nhớ rằng nếu Ngài có làm điều nào cho con thì cũng chỉ vì lòng nhơn từ và thương xót của Ngài để cho người khác nhận biết Ngài. Amen!

Thursday, April 11, 2019

ĐIỀU TỐT RA TỪ ĐIỀU XẤU

I Phi-e-rơ (Peter) 2:4-7
Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Ðức Chúa Trời, và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Ðức Chúa Jêsus Christ mà đẹp ý Ðức Chúa Trời. Vì trong Kinh Thánh có chép rằng: Nầy, ta đặt tại Si-ôn hòn đá góc nhà đã chọn lựa và quí báu; Ai tin đến đá ấy sẽ không bị xấu hổ. Vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí; nhưng cho những kẻ không tin, thì Hòn đá mà bị thợ xây nhà loại ra, bèn trở nên đá góc nhà, là Ðá gây cho vấp váp, là đá lớn làm cho sa ngã; họ bị vấp đá đó, vì không vâng phục Ðạo, và điều ấy đã định sẵn cho họ rồi. Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Ðức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Ðấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài; anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Ðức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót.
Suy gẫm:
Sứ đồ Phi-e-rơ viết những lời này cho các Cơ đốc nhân phần lớn là người ngoại bang, sống trong vùng Tiểu Á Châu lúc bấy giờ, đang trải qua cơn bách hại bởi đồng hương mình. Họ là những con người bị xã hội ruồng bỏ, khinh miệt, và nằm bên lề xã hội chỉ vì niềm tin nơi Chúa Cứu Thế Jesus. Sau khi tin Chúa, từ bỏ nếp sống cũ, độc giả của Phi-e-rơ đã vẽ ra một lằn ranh rõ rệt giữa thế giới sự sáng và thế giới sự tối tăm (I Phi-e-rơ 4:3-4). Cho nên, sứ đồ Phi-e-rơ mang đến cho họ một sứ điệp đầy hy vọng và khích lệ. Ông nói họ cũng giống như Chúa Cứu Thế Jesus, Đấng đã bị con người (các nhà lãnh đạo Do-thái giáo) tìm cách loại trừ chỉ vì lòng ganh tị và ghen ghét nhưng được Đức Chúa Trời trân quý và dùng Ngài để thiết lập nên Hội Thánh của Tân Ước, trong đó Chúa Jesus là Đá góc nhà (the cornerstone) còn họ là những viên đá sống (living stones) trong căn nhà mới đó. Bởi sự khước từ của con người đối với Chúa Jesus mà độc giả của ông được chọn và quý trước mặt Chúa để trở nên đền thờ thiêng liêng, được biệt riêng ra thánh để dâng của tế lễ thiêng liêng cho Đức Chúa Trời theo ý muốn Ngài. Do đó, Phi-e-rơ mời gọi độc giả của ông hãy đến gần Chúa Jesus vì Ngài ngọt ngào (2:2). Chúa Cứu Thế Jesus trở thành nơi trú ẩn và dung thân cho những kẻ bị xã hội loài người ruồng bỏ. Chắc chắn rằng họ sẽ tìm thấy trong Ngài sự ngọt ngào thay thế cho những bạc đãi và cay đắng của cuộc đời. Ông nói: “Vậy anh em đã từ bỏ mọi điều độc ác, mọi điều gian dảo, mọi thứ giả trá, lòng ghen ghét và sự nói hành, thì hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn, nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào” (c. 1-3). “Sữa thiêng liêng của Đạo” ở đây chính là Chúa Jesus. Từ “thiêng liêng” trong nguyên văn Hi-lạp không mang ý nghĩa đối kháng với “xác thịt” nhưng có mối liên hệ với “đạo” hay “ngôi lời” (logos), là từ được dùng chỉ về Chúa Jesus. Tính chất thiêng liêng lưu xuất từ Chúa Jesus chứa đựng lý lẽ của trí tuệ và sự hiểu biết để phân biện giữa điều thiện và điều ác, giữa sự cay đắng và ngọt ngào.
Chẳng có cuộc đời nào trên trần gian này bị con người ngược đãi, ruồng bỏ, sỉ nhục, khạc nhổ và chà đạp hơn Chúa Jesus. Cuối cùng bị giết cách tàn nhẫn hơn hết. Nói ra cho cùng, Chúa Jesus chẳng có gì để phải gánh chịu những điều vô cùng bất công của con người đối xử với Ngài. Tuy nhiên, tất cả những điều đó không làm cho Chúa Jesus trở thành con người cay đắng. Trái lại đó là cơ hội để Ngài tiết ra sự ngọt ngào và hương thơm của thiêng đàng. Chúa Jesus chẳng màng đến việc con người đối xử với mình cách nào, vì Ngài biết rất rõ ràng rằng con người chỉ có thể làm cho Ngài chết nhưng duy Đức Chúa Trời mới làm cho Ngài sống lại từ cõi chết. Người ta chỉ có thể loại bỏ Ngài bằng sự chết và tưởng chừng cuộc đời Ngài kết thúc tại đó nhưng chỉ có Đức Chúa Trời mới thấy Chúa Jesus là quý báu và dùng Ngài thiết lập nên Hội Thánh của Ngài trên đất. Chính Hội Thánh này mà Chúa Jesus đã nói: “Các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Ma-thi-ơ 16:). Hội Thánh của Đức Chúa Trời được xây dựng bằng những cuộc đời bị con người ruồng bỏ, từng sống lầm than trong nếp sống gian ác và chìm ngập trong những nỗi cay đắng nhưng được Chúa biến đổi trở nên ngọt ngào. Vì thế, Kinh Thánh nói rất rõ ràng lòng cay đắng và gian ác không phải là đặc tính của đời sống người theo Chúa vì nó thuộc về nếp sống cũ, chưa được đổi mới bởi Chúa Thánh Linh (Công vụ 8:22; Rô-ma 1:29; 1 Cô-rinh-tô 5:8; Ê-phê-sô 4:31; Cô-lô-se 3:8; Tít 3:3; Gia-cơ 1:21). Điều quan trọng không phải là con người nhìn và đối xử với những kẻ thuộc về Chúa ra sao bèn là Đức Chúa Trời nhìn và đối xử với từng cuộc đời kẻ thuộc về Ngài như thế nào. Cái nhìn và cách đối xử của Đức Chúa Trời đối với kẻ thuộc về Ngài là điều quan trọng hơn hết vì Ngài có chương trình tốt đẹp nhất cho họ để dùng họ cho sự vinh hiển cao cả đời đời của Ngài. Trong mùa kỷ niệm sự thương khó và phục sanh của Chúa Jesus, chúng ta suy niệm về cuộc đời của Ngài để được khích lệ để sống cho Chúa trong những ngày trong cuộc đời này “hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Ðấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài.”
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa Jesus vì bởi sự nhịn nhục và hy sinh của Ngài mà con được trở thành phần tử trong nhà của Đức Chúa Trời, để con có thể đến gần Ngài, khám phá được chương trình tốt lành nhất Ngài dành cho con trong Chúa Jesus. Xin cho con tiếp tục tin cậy và ký thác đời sống con cho Ngài. Amen!

Thursday, April 4, 2019

BẰNG CHỨNG QUYỀN NĂNG VÀ TÌNH YÊU

Giăng (John) 12:1-8
Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Ðức Chúa Jêsus đến thành Bê-tha-ni, nơi La-xa-rơ ở, là người Ngài đã khiến sống lại từ kẻ chết. Người ta đãi tiệc Ngài tại đó, và Ma-thê hầu hạ; La-xa-rơ là một người trong đám ngồi đồng bàn với Ngài. Bấy giờ, Ma-ri lấy một cân dầu cam tùng hương thật, quí giá, xức chơn Ðức Chúa Trời, và lấy tóc mình mà lau; cả nhà thơm nức mùi dầu đó. Nhưng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là một môn đồ về sau phản Ngài, nói rằng: Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đơ-ni-ê đặng bố thí cho kẻ nghèo? Người nói vậy, chẳng phải là cho kẻ nghèo đâu, song vì người vốn là tay trộm cướp, và giữ túi bạc, trộm lấy của người ta để ở trong. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy để mặc người, người đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn xác ta. Vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở với mình, còn ta, các ngươi không có ta luôn luôn.
Suy gẫm:
Trong khi thi hành chức vụ ở trần gian này, gia đình của La-xa-rơ có một mối liên hệ thân thiết với Chúa Jesus là nơi mang lại niềm an ủi khích lệ nhiều cho Ngài, giữa những khó khăn và chống đối của con người trong những ngày cuối cùng của chức vụ trên đất. Sáu ngày trước Lễ Vượt Qua, có lẽ theo lời mời của gia đình La-xa-rơ, Chúa Jesus cùng các môn đồ đến sự bữa tiệc khoản đãi của gia đình, mà tay đầu bếp chính là Ma-thê. Không chút nghi ngờ việc làm của gia đình này là nhằm mục đích bày tỏ lòng biết ơn đối với Chúa về việc Ngài đã cứu sống La-xa-rơ và đem lại niềm vui mừng lớn cho cả gia đình. Đây là cơ hội họ muốn bày tỏ lòng biết ơn Chúa về món quà quý báu là sự sống Chúa ban cho La-xa-rơ. Sự hiện diện của La-xa-rơ trong ngày hôm đó quả là một phép lạ và bằng chứng sống động về chức vụ của Chúa và tương lai vinh hiển của những ai tin Ngài. La-xa-rơ chưa từng nói một lời nào để làm chứng lại điều Chúa làm cho mình. Nhưng chính đời sống từ kẻ chết sống lại của La-xa-rơ là chứng cớ đầy đủ nhất về Chúa Jesus. Qua đó có nhiều người đã tin nhận Chúa Jesus (Giăng 12:11).  Chính vì thế, ngoài Chúa Jesus là đối tượng của lòng căm thù của những nhà lãnh đạo Do-thái giáo, họ tìm cách giết La-xa-rơ (Giăng 12:10) nhằm thủ tiêu một bằng chứng sống về quyền phép của Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ.
Có hai cách để làm chứng về Chúa Jesus: lời nói và đời sống. Tuy nhiên, lời chứng bằng đời sống được Chúa Jesus thay đổi có một sức mạnh lớn lao và sâu rộng hơn nhiều so với làm chứng bằng lời nói suông. Đời sống của người tin Chúa Jesus được biến đổi bởi quyền năng của Ngài có sức mạnh thuyết phục người khác hơn lời nói suông. Người ta có thể chống trả điều chúng ta nói nhưng không thể phủ nhận đời sống được quyền năng của Chúa chạm đến và biển đổi từ tối tăm qua sáng láng. Bên cạnh đó, đời sống được quyền năng Chúa biến đổi bắt đầu có những kẻ thù của sự tối tăm tìm cách tàn diệt và phủ nhận. Ma quỷ và những kẻ làm theo ý muốn của nó chẳng phí công để tìm cách làm hại những người còn sống trong bóng tối. Nhưng khi một đời sống vừa được giải thoát khỏi sự tối tăm thì ma quỷ tìm cách rượt đuổi và quấy phá để dành giựt lại.
Đang khi ăn tối, Ma-ri mang ra một chai dầu cam tùng quý giá xức chơn cho Chúa Jesus. Hành động này của Ma-ri chắc chắn xuất phát từ lòng biết ơn và kính yêu Chúa. Ngoài ra, theo phong tục thời bấy giờ, Ma-ri dùng dầu thơm quý giá thay vì nước để rửa chơn cho Chúa Jesus, chứng tỏ rằng Ngài được đối xử như một vị thượng khách (King) trong gia đình và bữa tiệc ngày hôm đó. Đồng thời, hành động này của Ma-ri cũng tuyên bố Ngài là Đấng Mê-sia và là Chúa (Lord), còn Ma-ri là đầy tớ hoàn toàn đặt mình trong ý muốn của chính Ngài. Trước đây, Ma-ri đã từng được Chúa khen là người biết chọn phần tốt nhất là lắng nghe Lời Chúa (Lu-ca 10:39). Nay, Ma-ri bằng lòng đầu phục Chúa trọn vẹn. Từ chỗ nghe Lời Chúa cho đến chỗ hoàn toàn đầu phục Ngài phải mất một khoảng thời gian. Ma-ri dâng cho Chúa “dầu quí giá” (pure) là điều tốt nhất bà đã để dành hầu bày tỏ tấm lòng của mình đối với Chúa. Đây là dầu làm từ loại cây cam tòng của vùng miền bắc Ấn, vô cùng đắt tiền mà Giu-đa cho rằng đáng giá 300 đơ-ni-ê. Từ “quí giá” thật khó dịch ở đây. Có một số người cho rằng từ này có liên hệ với từ “trung thành” (faithful) hay “đáng tin cậy” (trustworthy). Bình dầu này được Ma-ri sử dụng làm biểu tượng của tấm lòng bà đối với Chúa. Hành động này của Ma-ri thật đã mang lại sự an ủi cho Chúa Jesus, vì ít ra giữa những ngày hoạn nạn và thử thách sắp đến cũng còn có những tấm lòng chân thành, yêu Chúa so với một Giu-đa Ích-ca-ri-ốt phản thầy, một đám đông gào thét “hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự”, và ngay cả một Phi-e-rơ chối Ngài ba lần! Chẳng ai có thể mường tượng ra được việc làm của Ma-ri sẽ ảnh hưởng vô cùng lớn lao đối với Chúa Jesus và chương trình cứu rỗi của Ngài cho đến khi Chúa Jesus nói: “. . . Người đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn xác ta.” Chẳng bao giờ muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với Chúa mà không phải hy sinh. Chẳng có sự hy sinh nào để dâng cuộc đời và những gì mình có cho Chúa mà không để lại ảnh hưởng sâu xa lan tỏa cả cõi đời đời, vượt quá trí tưởng tượng và hiểu biết của con người. Trong mùa kỷ niệm sự thương khó của Chúa Jesus, bạn và tôi làm gì để mang lại sự an ủi và ngọt ngào cho chính Ngài và cho những người đang cần đến Ngài?
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, con xin Ngài tiếp tục biến đổi đời sống con để có thể trở thành bằng chứng sống động về chính Ngài. Xin cho con cũng yêu Ngài đến nỗi có thể tận hiến tất cả cho Ngài, không giữ lại bất cứ điều gì cho chính mình. Amen!