Thursday, January 31, 2019

LỜI NGUYỆN CHÂN THÀNH

Ê-phê-sô (Ephesians) 3:14-19
Ấy là vì cớ đó mà tôi quì gối trước mặt Cha, bởi Cha mà cả nhà trên trời và dưới đất đều được đặt tên, tôi cầu xin Ngài tùy sự giàu có vinh hiển Ngài khiến anh em được quyền phép bởi Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng; đến nỗi Ðấng Christ nhơn đức tin mà ngự trong lòng anh em; để anh em khi đã đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, được hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, và được biết sự yêu thương của Ðấng Christ, là sự trổi hơn mọi sự thông biết, hầu cho anh em được đầy dẫy mọi sự dư dật của Ðức Chúa Trời.

Suy gẫm
Sứ đồ Phao-lô có tấm lòng gắn bó cách sâu đậm với sự sống của Hội Thánh Đức Chúa Trời. Ông quan tâm đến sự tăng trưởng thuộc linh của tín hữu hơn bất cứ điều nào khác. Sứ đồ Phao-lô có cái nhìn vượt ra khỏi biên giới của hội thánh địa phương đến khắp cả thế giới để nhìn thấy cả một cộng đồng của những người được cứu là cao cả, vĩ đại là dường nào. Sau khi giải luận về lẽ mầu nhiệm về việc Chúa gọi dân ngoại bước vào trong giao ước của Ngài là Hội Thánh Tân Ước, Phao-lô đến với Chúa dâng lời nguyện cầu cho tín hữu Ê-phê-sô trong thái độ khiêm cung: “Tôi quì gối xuống trước mặt Cha.” Khi Phao-lô nói khi cầu nguyện ông “quỳ gối” không phải là sự phô bày hình thức của sự cầu nguyện nhưng là cung cách của một con người thờ phượng Đức Chúa Trời cách chân thành và hạ mình. Mặc dầu cung cách cầu nguyện bày tỏ tấm lòng của con người cầu nguyện nhưng con người cầu nguyện quan trọng hơn cung cách cầu nguyện. Từ con người của Phao-lô thốt ra lời cầu xin chân thành cho tín hữu dựa trên “sự giàu có vinh hiển của Đức Chúa Trời” (the riches of His glory). Nếu tâm trí không nhận thức được sự giàu có của vinh hiển Ngài thì Phao-lô chẳng bao giờ cầu xin bất cứ điều gì cho chính mình và cho người khác.
Sứ đồ Phao-lô cầu xin cho tín hữu Ê-phê-sô được quyền phép Đức Thánh Linh mà nên “mạnh mẽ trong lòng.” Hay nói cách khác, được quyền phép của Đức Thánh Linh để con người bề trong được mạnh mẽ. Đối với người Hy-lạp, người bề trong mạnh mẽ bao gồm: ý chí, lý trí và tình cảm mạnh mẽ. Tội lỗi làm cho con người bề trong bị băng hoại và yếu đuối nhưng Đức Thánh Linh ngự vào khiến cho người bề trong của Cơ đốc nhân mạnh mẽ để sống đắc thắng cho Chúa. Kết quả của con người bề trong mạnh mẽ gồm có ba điều sau đây: (a) bởi đức tin mà Đấng Christ đang ngự trong lòng của họ qua thân vị của Đức Thánh Linh ban cho năng quyền để sống cho Chúa; (b) ngày càng thâm sâu trong mọi chiều kích của tình yêu của Đức Chúa Trời. Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với tội nhân trong Đấng Christ là điều chẳng ai có thể dò thấu được; và (c) khi con người ngày càng lớn lên trong hiểu biết chiều sâu của tình yêu Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ thì người đó thấu hiểu được sự đầy trọn của Đức Chúa Trời (the fullness of God). Mục đích cuối cùng của đời sống Cơ đốc nhân là thấu hiểu được sự đầy trọn của Đức Chúa Trời.
Là Cơ đốc nhân, điều chúng ta đang khao khát đạt đến trong đời sống theo Chúa trong năm mới này là gì? Lời cầu nguyện của chúng ta cho chính mình và người khác thường nhuốm màu thuộc linh hay vật chất? Là những nhà lãnh đạo thuộc linh, cha mẹ, chúng ta thường cầu nguyện điều gì cho tín hữu trong hội thánh và con cái trong gia đình? Xin Chúa ban cho chúng ta tâm trí và tấm lòng khao khát những điều cao trọng của Đức Chúa Trời như sứ đồ Phao-lô để hội thánh được phước qua chức vụ và đời sống cầu nguyện của chúng ta.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho chính mình con mỗi ngày được tăng trưởng trong mối liên hệ và khao khát chính Ngài, để con có tâm trí và tấm lòng như Phao-lô cầu nguyện cho người khác cách đẹp lòng Ngài. Amen!

Thursday, January 24, 2019

NGƯỜI QUÊN NHƯNG CHÚA NHỚ

2 Sa-mu-ên (Samuel) 21:1-9
Về đời Ða-vít, có một ách cơ cẩn trong ba năm liên tiếp. Ða-vít cầu vấn Ðức Giê-hô-va; Ngài đáp cùng người rằng: Sự nầy xảy đến vì cớ Sau-lơ và nhà đổ huyết của người, bởi vì người có giết dân Ga-ba-ôn. Vua bèn truyền gọi dân Ga-ba-ôn, và nói chuyện với họ. Người Ga-ba-ôn chẳng thuộc về dân sự Y-sơ-ra-ên, nhưng họ là kẻ sống sót của dân A-mô-rít; dân Y-sơ-ra-ên có thề hứa tha thứ họ. Dầu vậy, Sau-lơ vì lòng sốt sắng về dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, đã tìm cách trừ diệt họ. Ấy vậy, Ða-vít hỏi dân Ga-ba-ôn rằng: Ta phải làm sao cho các ngươi, lấy vật gì mà chuộc tội, hầu cho các ngươi chúc phước cho cơ nghiệp của Ðức Giê-hô-va? Dân Ga-ba-ôn tâu cùng vua rằng: Chúng tôi đối cùng Sau-lơ và nhà người chẳng đòi bạc hay vàng, chúng tôi cũng chẳng có phép giết người nào trong Y-sơ-ra-ên. Ða-vít tiếp: Vậy các ngươi muốn ta làm gì cho các ngươi? Họ đáp cùng vua rằng: Người ấy có diệt trừ chúng tôi; người có toan mưu làm cho chúng tôi biết mất khỏi cả địa phận Y-sơ-ra-ên. Thế thì, hãy phó cho chúng tôi bảy người trong những con trai người; chúng tôi sẽ treo chúng nó trước mặt Ðức Giê-hô-va ở Ghi-bê-a, thành của Sau-lơ là người được Ðức Giê-hô-va chọn. Vua đáp: Ta sẽ phó chúng nó cho. Ða-vít dong thứ Mê-phi-bô-sết, con trai của Giô-na-than, cháu của Sau-lơ, vì cớ lời thề Ða-vít và Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, đã lập với nhau trước một Ðức Giê-hô-va. Nhưng vua bắt Át-mô-ni và Mê-phi-bô-sết, hai con trai của Rít-ba, con gái của Ai-gia, đã sanh cho Sau-lơ, và năm con trai của Mi-canh, con gái Sau-lơ đã sanh cho Át-ri-ên, con trai của Bát-xi-lai ở Mê-hô-la, mà giao cho dân Ga-ba-ôn; chúng treo họ lên trên núi tại trước mặt Ðức Giê-hô-va. Bảy người ấy đều bị chết chung với nhau, người ta giết họ nhằm mấy ngày đầu mùa gặt lúa mạch.
Suy gẫm:
Sự việc vua Sau-lơ giết dân Ga-ba-ôn tưởng chừng như đi vào lãng quên sau bao nhiêu năm kể từ khi vương quyền cường hào ác bá của ông chấm dứt (1 Sa 22:16-19). Phần con người quên và muốn để cho mọi việc theo thời gian rồi tự nó sẽ được chữa lành, vì thời gian là một phương thuốc chữa bá bịnh! Nhưng Đức Chúa Trời chẳng bao giờ quên nếu điều đó chưa được giải quyết cách đúng đắn theo cách của Ngài. Chính vì thế, trong thời của vua Đa-vít, Đức Chúa Trời đã làm cho vương quốc Y-sơ-ra-ên khốn đốn trong ba năm liên tiếp. Từ mà Kinh Thánh dùng để chỉ sự hình phạt của Ngài giáng trên dân sự là “ách cơ cẩn” có nghĩa là cơn đói kém lớn. Đây là cách mà Chúa thường dùng để thi hành kỷ luật đối với dân sự của Ngài hòng đem họ trở lại với con đường công chính (Phục 28:47, 48). Vì không biết nguyên nhân của hoạn nạn xảy đến, Đa-vít đã đi tìm cầu ý muốn của Chúa về việc này. Động từ “cầu vấn” được dùng chỉ hai lần trong đời của vua Đa-vít, có nghĩa là cầu xin cách tha thiết và thành khẩn vì đang đối diện với một hoàn cảnh vô cùng nguy kịch hầu bị tận diệt và cần sự giải cứu của Chúa (2 Sa 12:16). Thái độ thành khẩn trong sự cầu nguyện của Đa-vít đã được Chúa trả lời, và Ngài cho ông biết rằng vì cớ tội lỗi của Sau-lơ đã phạm trong khi còn tại vị cách đó mấy chục năm. Hành động tội ác của Sau-lơ tưởng chừng như trôi theo thời gian nhưng nay Chúa đem trở lại và Ngài phải thi hành án phạt để bênh vực cho dân Ga-ba-ôn về máu vô tội của họ đã bị đổ ra. Sự việc là 400 năm về trước, Giô-suê đã thiết lập giao ước với dân Ga-ba-ôn. Sau-lơ vì lòng sốt sắng muốn tận diệt tất cả giống dân trong xứ Ca-na-an nên đã vi phạm giao ước mà Giô-suê đã thay mặt dân sự ký với dân Ga-ba-ôn (Giô 9:19-20). Dẫu cho với cớ tích hay động cơ nào đi chăng nữa, Sau-lơ đã hủy phá giao ước dân Y-sơ-ra-ên đã ký kết với dân Ga-ba-ôn. Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời của giao ước. Vì thế, Ngài tôn trọng giao ước dân sự đã ký với dân Ga-ba-ôn trong sự hiện của Ngài. Việc làm tàn ác của Sau-lơ đã chống lại luật pháp của Ngài (Dân 30:1-2) và khiến cho dân Ga-ba-ôn trở thành cớ tích của sự rủa sả giáng trên dân sự của Chúa (Dân 35:33-34). Ngoài ra, việc Đức Chúa Trời báo thù huyết nơi tay Sau-lơ một phần nhằm bênh vực cho lời lên án của Si-mê-i, dòng dõi của vua Sau-lơ, chống lại vua Đa-vít: “Ớ người huyết, người gian tà kia! Hãy đi nà, hãy đi nà!” (2 Sa 16:7-8). Vì Đa-vít không lên tiếng bênh vực cho mình thì chính Đức Chúa Trời lại bênh vực cho ông.
Hành động của Sau-lơ phải được chuộc với một giá thích đáng. Đó là bảy con trai của nhà Sau-lơ phải bị nộp cho dân Ga-ba-ôn để bị “treo lên trên núi trước mặt Đức Giê-hô-va” (21:9). Trên một phương diện, Đức Chúa Trời không cho phép sự báo thù trên con cái về hành động của cha đã phạm (Phục 24:16). Nhưng tại đây, Đức Chúa Trời đã cho phép điều này. Tại sao? Chẳng qua đây là duyên cớ mà Đức Chúa Trời sử dụng để hủy diệt nhà Sau-lơ tận gốc rễ như Ngài đã phán. Đa-vít đã giao nộp con cái của Sau-lơ cho dân Ga-ba-ôn, trừ Mê-phi-bô-sết là con trai của Giô-na-than vì giao ước mà vua đã thiết lập với Giô-na-than trước đây (1 Sa 18:3; 20:15; 2 Sa 9:1-13). Tác giả Sa-mu-ên muốn chứng minh cho chúng ta thấy rằng “con người theo lòng của Đức Chúa Trời” là người tuân giữ giao ước vì biết Đức Chúa Trời là ai. Con người của Đa-vít hoàn toàn trái ngược lại với con người của Sau-lơ là người không tuân giữ hay tôn trọng giao ước vì đã bị Đức Chúa Trời lìa bỏ. Rõ ràng rằng việc hủy bỏ giao ước với dân Ga-ba-ôn, làm cho máu vô tội của họ đã bị đổ ra khiến cho xứ thánh bị ô uế, đã được chuộc bằng mạng sống của dòng dõi Sau-lơ là điều đẹp lòng Đức Chúa Trời. Cho nên, “về sau, Đức Chúa Trời mới đoái thương đến xứ” (21:14c).
Không có một hành động hay việc làm nào của chúng ta có thể qua mặt Đức Chúa Trời và đều phải lãnh hậu quả của nó. Chúng ta dễ dàng suy nghĩ rằng vì chưa thấy có điều gì xảy ra khi chúng ta làm điều ác trước mặt Đức Chúa Trời, nên có lẽ Ngài đã bỏ qua hay Chúa đã quên tội lỗi của chúng ta rồi. Chắc chắn không bao giờ Đức Chúa Trời bỏ qua bất cứ tội lỗi nào chúng ta đã phạm mà chưa ăn năn và chưa giải quyết cách đúng dắn trước mặt Ngài, dẫu cho thời gian lâu đến đâu đi chăng nữa. Gióp đã nói: “Các tội phạm tôi bị niêm trong một cái túi, và Chúa có thắt các sự gian ác tôi lại” (Gióp 14:17). Chúng ta quên những điều mình làm nhưng Chúa thì chẳng bao giờ quên. Đôi khi Đức Chúa Trời để cho chúng ta có đủ thời gian để ăn năn quay trở lại với Chúa và giải quyết mọi vấn đề cách sòng phẳng với Ngài.
Đôi khi Đức Chúa Trời để cho những hoạn nạn xảy đến với đời sống cá nhân, gia đình, và hội thánh để giúp chúng ta có thể thấy lại được những điều sai phạm mà chúng ta chưa thật sự ăn năn và giải quyết với Chúa cách đúng mức. Trong trường hợp đó, chỉ có sự cầu nguyện cách thành khẩn và chân thật mới có thể giúp chúng ta thấy được lầm lỗi và cội nguồn của mọi vấn đề trong đời sống chúng ta. Thay vì oán trách và cay đắng, xin Chúa cho chúng ta có tấm lòng nhu mì, khiêm nhường đủ để được Chúa Thánh Linh soi sáng và dắt dẫn đi qua sự ăn năn chân thật. Khi đó, Chúa sẽ cho chúng ta biết được rằng những gì chúng ta phải làm để có thể được Chúa thật sự tha thứ và phục hồi lại tâm linh và cuộc đời của chúng ta. Không có một sự vi phạm nào mà không phải trả một giá cho nó để được Chúa tha thứ hoàn toàn. Ngoài sự ăn năn và cầu xin huyết Chúa Jesus làm sạch mọi tội lỗi (1 Giăng 1:7), chúng ta còn phải sẵn sàng chấp nhận giá phải trả cho tội lỗi mình đã phạm. Khi ấy, Đức Chúa Trời mới đoái thương đến cuộc đời chúng ta. Đức Chúa Trời sẵn sàng tha thứ tội lỗi chúng ta đã phạm nhưng chúng ta phải sẵn sàng gánh chịu hậu quả của nó. Hậu quả lâu hay mau, nhiều hay ít là tùy thuộc vào mức độ tội lỗi chúng ta đã phạm như thế nào. Nhưng chắc chắn rằng Đức Chúa Trời chúng ta là một Đức Chúa Trời đầy tình thương, giàu lòng bác ái và sẵn sàng tha thứ khi chúng ta thật lòng ăn năn (Xuất 34:6-7).
Cầu xin Chúa thương xót chúng ta trong những ngày cuối năm. Đây là cơ hội chúng ta nhìn lại chính mình, gia đình và hội thánh trong suốt năm qua chúng ta đã sống như thế nào trước mặt Ngài? Xin Chúa cho chúng ta kết thúc một năm với một tấm lòng chân thành tìm kiếm mặt của Ngài và cầu xin Chúa đoái thương đời sống chúng ta nếu trong năm qua có điều nào phạm tội với Chúa và với người không đẹp lòng Chúa. Xin cho chúng ta sẵn sàng tra xét tấm lòng của mình và thanh toán với Chúa mọi món nợ của đời sống mình hầu được Chúa đoái thương, ban phước và dẫn chúng ta đi trong những ngày cuối năm thật phước hạnh và bước vào năm mới với sức sống tươi mới và sung mãn của chính Ngài ban cho chúng ta qua huyết đắc thắng và tha thứ của Chúa Cứu Thế Jesus.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Jesus, xin cho con không tự đánh lừa chính mình rằng Ngài quên những điều con đã phạm mà chưa thật sự ăn năn. Xin ban cho con tấm lòng khao khát và mềm mại đủ để ăn năn về mọi điều sai phạm cách thành khẩn và chân thật trước mặt Ngài. Xin đoái thương con và giúp con thấy được những gì cần phải ăn năn để được tha thứ hầu bởi đó phước hạnh của Ngài tuôn đổ trên chính đời sống con, gia đình con, và hội thánh của Ngài. Amen!

Thursday, January 17, 2019

SỰ KHỦNG HOẢNG TÂM LINH CẦN THIẾT

Giăng (John) 11:1-6
1 Có một người đau, tên là La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni, là làng của Ma-ri và chị người là Ma-thê.2 Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người là La-xa-rơ đang đau.3 Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh.4 Đức Chúa Jêsus vừa nghe lời đó, bèn phán rằng: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh.5 Vả, Đức Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người và La-xa-rơ.6 Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đang ở.
Suy gẫm:
Gia đình ba anh em La-xa-rơ, Ma-thê, và Ma-ri có một mối thân tình đặc biệt với Chúa Jesus. Không chút nghi ngờ, trong khi thi hành chức vụ trên đất, gia đình này đã mang lại niềm an ủi và khích lệ cho Chúa Jesus rất nhiều. Ma-ri đã lấy chai dầu cam tùng rất quý giá để xức cho Chúa Jesus trước khi Ngài bước lên thập tự giá. Ma-thê với tài nấu nướng đã từng thết đãi Chúa Jesus với những bữa ăn thịnh soạn. Còn La-xa-rơ với một nhân cách hiền hòa, dễ mến, và cũng là người bạn quý của Ngài, được gọi là “người Chúa yêu” (11:3) hay là “bạn” của Ngài (11:11). Trong cả hai trường hợp, Giăng dùng động từ “yêu” (phileō) và danh từ “yêu” (philos) để miêu tả bản chất mối liên hệ đầy cảm mến người với người (man-man relationship) giữa Chúa Jesus và La-xa-rơ. Khi sử dùng động từ này, sứ đồ Giăng muốn nhấn mạnh đến mối liên hệ về mặt nhân tánh của Chúa Jesus với La-xa-rơ nói riêng và cả gia đình của ông nói chung.
Một ngày kia La-xa-rơ lâm trọng bịnh. Đứng trước tình cảnh nguy ngập, hai người em gái của La-xa-rơ là Ma-thê và Ma-ri sốt vó cả lên có lẽ vì La-xa-rơ là anh cả, nơi nương tựa duy nhất của gia đình. Họ đinh ninh rằng khi nghe tin La-xa-rơ đau gần chết, Chúa Jesus sẽ đến ngay lập tức vì là bạn thiết nghĩa của Ngài (Giăng 11:11). Mặc cho tình cảm đặc biệt của gia đình này dành cho Ngài, khi nghe tin La-xa-rơ đau bịnh, Chúa Jesus trông có vẻ dường như rất dửng dưng với hoàn cảnh của “người Chúa yêu.” Ngài nói với những người được sai đến báo tin: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh.” Tại sao Chúa Jesus phản ứng như thế? Giăng cho chúng ta câu trả lời: Vả, Đức Chúa Jêsus yêu (agapaō) Ma-thê, em người và La-xa-rơ. Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đang ở.” Từ động từ “yêu” (phileō) được chuyển thành động từ “yêu” (agapaō). Chính vì tình yêu này mà Chúa Jesus ở lại Giê-ru-sa-lem thêm hai ngày nữa để chờ cho La-xa-rơ qua đời! Điều này có vẻ dường hoàn toàn nghịch lý với sự suy nghĩ và tình cảm của con người. Nhưng Chúa Jesus đã hành động với mục đích rõ rệt. Chỉ có những người trong cuộc với Chúa Jesus mới hiểu được sự chuyển mình trong tình yêu, bằng không họ chỉ suy nghĩ theo thói thường của con người. Giăng dùng động từ “yêu (phileō) để diễn tả suy nghĩ con người khi nhìn thấy Chúa Jesus khóc lúc bước đến mộ của La-xa-rơ (11:35, 37).
Sâu xa trong mối quan hệ giữa Chúa Jesus với gia đình này, mối thân tình với Chúa Jesus đối với họ có lẽ đã trở nên quá bình thường. Bình thường đến độ nghĩ Chúa Jesus là con người như mình, không nhận chân ra Ngài là Đức Chúa Trời. Họ có thể nghĩ Chúa Jesus cũng chỉ là một con người nhưng đặc biệt là Ngài có quyền năng thi hành phép lạ hơn người khác. Thế thôi! Đây là lỗ hỏng trong đức tin và sự hiểu biết của họ cần được lấp đầy. Chúa Jesus đã quăng họ vào trong sự hụt hẩng tâm linh, sự khủng hoảng của đời sống đức tin để họ khám phá ra chính họ là ai, trong hành trình của nhận thức về Ngài và đức tin nơi Ngài. Và cũng để qua đó họ nhận biết Chúa Jesus thật sự là ai. Nói cách khác, Chúa Jesus đưa họ lên một bậc cao hơn trong đức tin: tin Chúa Jesus có thể làm cho kẻ chết sống lại đời đời thuộc phạm trù thần thượng và lai thế vượt ra khỏi sự hiểu biết của con người, chứ không chỉ tin Ngài là Đấng có thể thi hành phép lạ thuộc phạm trù của thân thể và hiện tại, trong trường này là chữa lành bịnh tật. Hơn thế nữa, Chúa Jesus giải thoát họ khỏi cái loại đức tin bị kìm hãm và cột trói bởi quan niệm về không gian và thời gian (Giăng 11:21, 32). Đến lúc họ phải nhận biết rằng Ngài không những là con người như họ nhưng cũng là Đức Chúa Trời. Đấng có thể làm mọi sự chỉ bởi lời phán của Ngài, trong đó hàm chứa sức mạnh chọc thủng xuyên qua cả không gian và thời gian (Giăng 11:40-43; cf. Ma-thi-ơ 8:8).
Phước hạnh mà Chúa Jesus dành cho gia đình này vượt quá nhận thức và hiểu biết của họ. Những giây phút khủng hoảng, hụt hẩng, và sụp đổ trong đức tin lúc ban đầu được thay thế bằng phước hạnh tuyệt vời: (a) La-xa-rơ trở thành kiểu mẫu của sự sống lại ngày sau cùng; (b) biết Chúa Jesus là “Con Đức Chúa Trời” trong ý nghĩa đầy đủ nhất của nó, nghĩa là Ngài chính là Đức Chúa Trời. Chúa Jesus muốn dạy và nâng họ lên một bậc cao hơn trong đức tin, vượt ra khỏi bầu khí quyển của mối liên hệ tình cảm với Chúa Jesus trong phạm trù giữa con người với con người (man-man relationship) để bay vào trong thế giới rộng lớn và bao la hơn với Ngài trong mối quan hệ giữa con người và Đức Chúa Trời (man-God relationship). Chúa muốn dẫn La-xa-rơ vào trong kinh nghiệm mới mẻ về tình yêu của Ngài đối với ông: từ “người Chúa yêu” trong nghĩa phileō trở thành “người Chúa yêu” trong nghĩa agapaō. Đây là sự chuẩn bị cho La-xa-rơ và gia đình này bước vào trong cõi đời đời với Ngài trong tương lai. Lúc họ thật sự từ kẻ chết sống lại và chẳng bao giờ chết nữa, mặc dầu trong hiện tại La-xa-rơ được Chúa kêu sống lại nhưng rồi cũng sẽ phải chết để chờ ngày sống lại vĩnh cữu (Giăng 11:25).
Bạn và tôi đang ở đâu trong hành trình của nhận thức và kinh nghiệm đức tin nơi Chúa Cứu Thế Jesus? Có lẽ chúng ta đã bắt đầu bước vào trong hành trình này bằng mối quan hệ người-người với Chúa Jesus. Chúng ta hiểu và trải nghiệm Ngài là người thật sự. Giáo lý về sự nhập thể trở nên hiện thực trong đời sống chúng ta. Nhưng đó không phải chỗ mà Chúa muốn chúng ta dừng lại trong hành trình thuộc linh. Ngài muốn chúng ta đi xa hơn và đưa chúng ta vào trong thế giới rộng lớn và bao la hơn của đời sống đức tin. Để thực hiện điều đó, có lúc Chúa phải quăng chúng ta vào những hoàn cảnh, trong đó chúng ta thấy chơi vơi, hụt hẩng, đi đến chỗ hoàn toàn thất vọng về chính Ngài. Lời cầu nguyện dường như không được Chúa nhậm. Thậm chí, càng cầu nguyện thì hoàn cảnh càng trở nên tồi tệ hơn! Lúc đó có thể chúng ta trở nên cay đắng và tức giận khi nghĩ đến những gì mình đã hy sinh và phục vụ Chúa và cho Hội Thánh của Ngài. Tại sao Chúa không làm ơn cho tôi và gia đình tôi, trong khi tôi đã tận hiến quá nhiều cho Chúa và Hội Thánh của Ngài? Chúng ta hãy bình tâm và chờ đợi vì biết rằng: “Công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (1 Cô-rinh-tô 15:58). Có lẽ đây là sự nối kết ẩn tàng trong tư tưởng của sứ đồ Phao-lô giữa sự sống lại của thân thể và sự phục vụ Chúa. Chỉ có khi nào chúng ta kinh qua con đường của sự chết con người cũ và sống lại con người mới với Chúa Cứu Thế, khi đó chúng ta mới thấu hiểu được chiều sâu của sự phục vụ Ngài là “chẳng vô ích đâu.” Từ đó, chúng ta sẽ chẳng còn tự hào về những thành tích thuộc linh, được giải thoát khỏi “cái bịnh thành tích” trong chức vụ và đời sống theo Chúa.
Con người chúng ta có khuynh hướng chối từ hay muốn Chúa làm giảm nhẹ đi những gì gây cho khó chịu và đau khổ trong đời sống theo Chúa của chúng ta. Cơ đốc nhân sống trong thế giới Tây phương rất nhạy cảm với những gì “bất thường” xảy đến cho mình. Người ta tìm kiếm và tự tạo nên cho mình một chỗ êm ấm và dễ chịu (comfort-zone) để theo Chúa. Đó chính là môi trường và thứ triết lý sống giết chết niềm tin và kinh nghiệm theo Chúa của chúng ta. Khi muốn nâng chúng ta lên một bậc cao hơn trong sự nhận thức và trải nghiệm đời sống đức tin, đôi khi Chúa bắt buộc phải quăng chúng ta vào trong những hoàn cảnh, trong đó dường như Ngài hoàn toàn yêu lặng. Thậm chí sự việc trở nên tồi tệ hơn so với lúc chưa cầu nguyện, để cho chúng ta học biết “sự chết.” Chết cái tôi, bản ngã. Chết với thành tích thuộc linh. Chết với “chức vụ” mà người hầu việc Chúa có. Chết lòng nhờ cậy Chúa theo kiểu tình cảm con người để bắt đầu biết vận dụng đức tin đích thật nơi chính Ngài. Thông thường, điều Chúa làm cho chúng ta trái ngược với lối suy nghĩ của con người. Hãy bình tĩnh và an tâm vì Chúa gọi chúng ta là “bạn của Ngài” và “người Ngài yêu.” Chúa đang làm cho chúng ta những gì mang lại phước hạnh nhất cho đời sống chúng ta, hầu cho Ngài được vinh hiển, và người ngoài nhìn vào phải nói rằng: “Kìa, Chúa yêu người ấy là dường nào!” Từ chính kinh nghiệm theo Chúa và phục vụ Ngài, Phao-lô quả quyết: Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta” (Rô-ma 8:38-39). Đó có phải là lòng mong ước và khao khát của mỗi chúng ta trong hành trình thuộc linh về thiên quốc không?

Thursday, January 10, 2019

XIN THÊM MỘT NĂM NỮA

Lu-ca (Luke) 13:6-9
Ngài lại phán thí dụ nầy: Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình, đến hái trái mà không thấy; bèn nói cùng kẻ trồng nho rằng: Kìa đã ba năm nay ta đến hái trái nơi cây vả nầy mà không thấy: hãy đốn nó đi; cớ sao nó choán đất vô ích? Kẻ trồng nho rằng: Thưa chúa, xin để lại năm nầy nữa, tôi sẽ đào đất xung quanh nó rồi đổ phân vào. Có lẽ về sau nó sẽ ra trái; bằng không, chúa sẽ đốn.
Suy gẫm:
Chúa Jesus kể thí dụ này tiếp theo sau câu chuyện về sự ăn năn (13:1-5). Vườn nho thường được dùng chỉ về dân Y-sơ-ra-ên (Ê-sai 5:1-2). Ngày xưa, cây vả được trồng trong vườn nho là chuyện bình thường. Cây vả cũng chỉ về dân Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa việc sử dụng hình ảnh cây vả và cây nho, trong Cựu Ước, để chỉ về dân Y-sơ-ra-ên là cây vả thông thường liên quan đến sự không kết quả tức là sự bất trung của dân Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời (Giê-rê-mi 8:13; 24:1-8; Ô-sê 9:10; Giô-ên 1:7, 12; 2:21-25; Na-hum 3:12; Ha-ba-cúc 3:17). Người trồng nho (vinedresser/vineyard keeper) là Chúa Jesus, tức Đấng Mê-sia (vì danh từ được dùng trong số ít). Ba năm mà Chúa Jesus đề cập trong thí dụ này có lẽ Ngài muốn nói đến thời gian ba năm thi hành chức vụ của Ngài trên đất. Đức Chúa Trời đã ban cho dân tộc Do-thái cơ hội nhận biết Đấng Mê-sia hầu kết quả, nghĩa là mang nhiều dân tộc đến sự nhận biết Đức Chúa Trời. Nhưng họ từ khước Ngài và không trung thành với Đức Chúa Trời. Vì thế, người trồng nho xin chủ vườn gia hạn thêm một năm nữa hầu cây vả có thể kết quả, nghĩa là dân sự của Ngài cần ăn năn và kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Tuy nhiên, theo cấu trúc văn phạm Hy-văn, ý tưởng trong câu này cho thấy dẫu cho có cho thêm một năm đi nữa thì cây vả vẫn không kết quả, tức là dân Do-thái vẫn không ăn năn. Kết quả là Đức Chúa Trời chắc chắn phải “đốn” họ đi. Động từ “đốn” hay “làm cho tản lạc” được dùng trong câu này thường đi chung với động từ “ăn năn” (Ma-thi-ơ 3:10; 7:19). Chính vì không ăn năn nên Chúa đã “đốn” và làm cho dân Do-thái tản lạc khắp nơi trên thế giới vì tội giết Chúa Jesus là Đấng Mê-sia. Đó là sự phán xét của Chúa đối với dân sự của Ngài.
Thêm một năm nữa không phải tự nhiên mà có. Đó là lời yêu cầu của người trồng vườn nho là Chúa Jesus và được Đức Chúa Trời là chủ vườn nho chấp nhận. Điều này nói lên lòng yêu thương của Chúa Jesus và lòng nhơn từ và nhịn nhục của Đức Chúa Trời đối với dân sự của Ngài ngày xưa là thể nào. Mục đích của chủ vườn nho là muốn thấy cây vả ra trái chứ không phải muốn đốn hay chặt bỏ ra khỏi vườn nho của Ngài. Đó chính là lòng yêu thương và nhịn nhục của Đức Chúa Trời đối với Hội Thánh của Ngài và đối với mỗi chúng ta ngày nay. Đức Chúa Trời mong ước mỗi chúng ta là cây trồng trong nhà của Ngài đều sanh ra bông trái tốt lành (Thi-thiên 1:3; 92:13). Đức Chúa Trời không vui sướng gì khi phải chặt những cây trồng trong vườn của Ngài. Vì thế, Ngài luôn luôn gia hạn cho chúng ta kết quả. Tuy nhiên, sự gia hạn đó có thời hạn chứ không phải là vô thời hạn.
Chúng ta bắt đầu bước vào năm mới. Ai trong chúng ta cũng hoan hỉ và chờ đợi những điều tốt lành đến với chúng ta và Hội Thánh của Ngài. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng nếu Đức Chúa Trời có thêm cho chúng ta năm này cũng chỉ vì lòng yêu thương và nhơn từ của Ngài để chúng ta kết quả thêm cho Chúa và cho vương quốc của Ngài. Trong năm qua, mỗi chúng ta và Hội Thánh đã kết quả cho Chúa như thế nào? Phải chăng vì chúng ta chưa kết quả được cho Chúa thì Ngài cho thêm chúng ta một năm này nữa? Hay chúng ta đã có kết quả nhưng chưa thật sự “sai trái” nên Chúa để thêm một năm nữa chăng? Bằng không Chúa sẽ đốn chặt và hủy diệt. Có thể năm này là năm Chúa sẽ tỉa sửa chúng ta để được sai trái hơn. Cũng có thể là năm này là năm cuối cùng Ngài chờ đợi chúng ta kết quả cho Ngài chăng? Điều đó tùy tấm lòng của chúng ta đối với Chúa như thế nào.
Kết quả mà Chúa muốn thấy trong đời sống chúng ta và Hội Thánh của Ngài là gì? Há không phải là kết quả trong nếp sống thánh khiết và trở nên giống Chúa Jesus, mang lại sự gây dựng và sự nhận biết Chúa Jesus cho người khác qua đời sống và sự phụng sự Chúa của chúng ta. Đôi khi Chúa cũng muốn chúng ta chịu khổ vì danh Ngài để sanh sản ra những bông trái lành. Hoặc Chúa dùng sự đau khổ, bịnh tật, nổi bất hạnh trong đời sống này để tỉa sửa đời sống chúng ta hầu kết quả hơn cho Ngài. Dẫu cho điều gì đi nữa, thì lời cầu nguyện đầu năm này của mỗi chúng ta là xin Chúa cho con thêm một năm nữa để có thể kết quả cho Ngài. Bằng không Ngài chắc sẽ đốn!