Thursday, December 19, 2019

MỐI LIÊN HỆ GIA ĐÌNH VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA CHÚA JESUS

Ma-thi-ơ (Matthew) 1:18-20
Vả, sự giáng sinh của Ðức Chúa Jêsus Christ đã xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Ðức Thánh Linh. Giô-sép chồng người, là người có nghĩa, chẳng muốn cho người mang xấu, bèn toan đem để nhẹm.
Suy gẫm:
Trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho nhân loại, gia đình đóng vai trò quan trọng và nằm ngay tại trọng tâm sự nhập thể của Chúa Jesus. Sự ra đời của Chúa Jesus gắn liền với vai trò của Giô-sép và Ma-ri và đời sống hôn nhân của họ. Chính vì thế, ma quỷ luôn tìm cách để phá hỏng mối quan hệ giữa hai người hầu dẫn đến sự đổ vỡ mà hậu quả của nó khó có thể khôn lường. Ma-ri đã được hứa gả cho Giô-sép. Theo luật Do-thái thời bấy giờ, hứa hôn tương đương với kết hôn chỉ chưa về chung sống với nhau như vợ chồng. Vì thế, không điều gì có thể phân rẽ hai người trừ ra sự chết. Thời gian hứa hôn thông thường kéo dài trong vòng một năm. Trong suốt thời gian đó, nếu một trong hai người tự hủy bỏ lời hứa của mình, người đó bị xem là phạm tội ngoại tình và bị ném đá chết (Phục 22:23-27). Như vậy, việc Ma-ri mang thai Chúa Jesus bởi Thánh Linh xảy ra ngay trong thời gian rất ngắn ngủi và đầy mới mẽ của đời sống tình cảm và tiền hôn nhân của hai người. Về phương diện con người, Giô-sép và Ma-ri phải trải qua cuộc thử nghiệm đầy nghiệt ngã về lòng tin cậy lẫn nhau trong đời sống tiền hôn nhân để xem thử rằng họ có “đủ tư cách” hay “tiêu chuẩn” để làm người nuôi dưỡng Chúa Jesus trong thời gian ấu thơ hay không? Con Đức Chúa Trời không thể nào được nuôi dưỡng và lớn lên trong một gia đình đầy xung đột, đổ vỡ và bất kính. Gia đình mà Đức Chúa Trời dùng để nuôi dưỡng Chúa Jesus phải là một gia đình lành mạnh, hạnh phúc, yêu thương và tin tưởng nhau cách tuyệt đối.

Việc Ma-ri chịu thai bởi Thánh Linh là “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử của con người. Chính vì thế, điều này nằm ngoài sức tưởng tượng và hiểu biết Giô-sép. Đòi hỏi ông chấp nhận nó bằng đức tin. Nhưng làm thế nào ông có thể chấp nhận được trong khi chưa từng thấy một điều nào tương tự như vậy xảy ra? Chính vì thế, việc Giô-sép “toan đem để nhẹm” mối quan hệ giữa hai người; có nghĩa là Giô-sép để cho vợ hứa mình ra đi cách âm thầm hầu không tạo nên “xì-căng-đan” (scandal) e rằng sẽ để lại hậu quả chẳng hay ho gì cho cả hai người. Kinh Thánh mô tả động cơ thúc đẩy Giô-sép hành động như vậy là vì chàng là “người có nghĩa.” Từ “có nghĩa” trong nguyên văn Hi-lạp là “công bình” hay “sống đúng theo luật pháp.” Giô-sép bị dằng co giữa tình yêu và luật pháp, giữa ân sủng và lẽ thật. Giô-sép là một con người trưởng thành trong đời sống tình cảm lẫn đức tin. Ông chẳng những muốn sống vừa lòng Đức Chúa Trời nhưng cũng muốn bày tỏ tình yêu đối với Ma-ri: "chẳng muốn cho người mang xấu." Tâm tình đó tìm thấy trong chính con người của Chúa Jesus: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha” (Giăng 1:14). Giô-sép là người cha nuôi phản chiếu hình ảnh của Đức Chúa Trời là Cha của Chúa Jesus. Cho nên, Giô-sép được Đức Chúa Trời sử dụng để ảnh hưởng trên cuộc đời của Chúa Jesus trong những năm sống trong gia đình.
Tất cả mọi khởi điểm của điều tốt lành Đức Chúa Trời làm cho nhân loại đều bắt đầu từ gia đình. Đức Chúa Trời dựng nên A-đam và Ê-va; Ngài chọn Nô-ê, Áp-ra-ham và gia đình của họ để thực hiện chương trình cứu rỗi vĩ đại của Ngài. Và rồi, Chúa chọn gia Giô-sép và Ma-ri để đưa Con Ngôi Hai Thiên Chúa vào đời. Có lòng tin cậy nhau, tin cậy Chúa, và sống đối xử với nhau bằng ân sủng và lẽ thật của Ngài là những yếu tố vô cùng quan trọng việc xây một gia đình Cơ đốc mà qua đó Đức Chúa Trời có thể sử dụng mỗi chúng ta chuyển tải hình ảnh và vẻ đẹp của Chúa Cứu Thế Jesus đến với những người chưa biết Chúa.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa yêu thương, xin giúp chúng ta con là gia đình Cơ đốc biết xây dựng lòng tin yêu nhau, sống tin cậy Ngài và đối xử với nhau bằng ân sủng và lẽ thật của Ngài mỗi ngày để chúng con có thể làm chứng nhân tốt lành của Ngài giữa thế gian tối tăm băng hoại này. Amen!

Thursday, December 12, 2019

CHÚA ĐÃ SẮM SỬA MỘT THÂN THỂ CHO TÔI

Kinh thánh:  Hê-bơ-rơ (Hebrews) 10:5-7
Bởi vậy cho nên, Ðấng Christ khi vào thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi. Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội. Tôi bèn nói: Hỡi Ðức Chúa Trời, nầy tôi đến trong sách có chép về tôi - tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
Suy gẫm:
Đấng Christ vào thế gian để làm gì? Khi tác giả Hê-bơ-rơ viết: “Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi,” ông trích từ trong Thi-thiên 40:6. Tác giả Thi-thiên 40:6 nói rằng: “Chúa không thích đẹp hi sinh hoặc của lễ chay: Chúa đã sỏ tai tôi.” Tác giả Thi Thiên nói “Chúa đã sỏ tai tôi” (theo nguyên văn Hi-bá-lai). Đây là cách diễn tả của người Do-thái về sự ra đời của một con người. Trong bản LXX 39:6 (bản dịch Hi-lạp của bản Hi-bá-lai) tác giả dịch là “Chúa đã sắm sửa cho tôi đôi tai” (ōtia de katērtisō moi). Tác giả Hê-bơ-rơ trích lại và thay thế “đôi tai” bằng “thân thể” và nói “Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi” (sōma de katērtisō moi) để nói đến sự nhập thể của Chúa Jesus; và ông muốn nhấn mạnh đến sự vâng phục và tận hiến của Ngài trong thân xác này. Đức Chúa Trời đã ban cho Chúa Jesus một thân xác con người để sống vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời. Đỉnh điểm của sự vâng phục là Chúa Jesus bằng lòng “vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự” (Phi-líp 2:8; Hê-bơ-rơ 5:8). Bởi đó, Chúa Jesus có thể khiến cho tất cả những ai tin nhận Ngài trở thành kẻ vâng phục ý muốn của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 5:9). Rõ ràng ý tưởng mà tác giả Hê-bơ-rơ muốn làm nổi bật ở đây là nói lên mối liên hệ giữa của lễ và sự vâng phục. Của lễ chỉ có giá trị khi nó được dâng lên cho Đức Chúa Trời xuất phát từ tấm lòng vâng phục, vì “sự vâng lời tốt hơn của tế lễ, sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực” (1 Sa-mu-ên 15:22).
Trong Hê-bơ-rơ 10:2 cho thấy trong hệ thống tế lễ cũ của Cựu Ước, Đức Chúa Trời đòi hỏi của lễ để tội lỗi được tha thứ. Sự tha thứ đó chính là sự thay đổi thái độ của Đức Chúa Trời đối với tội nhân nhưng không thể cất đi sự mặc cảm tội lỗi của tội nhân. Nhưng trong hệ thống tế lễ mới của Tân Ước, chính Chúa Jesus dâng hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho mọi người. Đó là biểu hiện của sự vâng phục và tận hiến của Chúa Jesus đối với Đức Chúa Trời. Trong sự vâng phục này của Chúa Jesus, tội nhân chẳng những nhận được tha thứ nhưng hơn thế nữa, lương tâm của họ được thánh hóa và cất bỏ khỏi sự mặc cảm tội lỗi, vì của lễ không phải là sinh vật mà là chính thân xác của Ngài. Đức Chúa Trời ban cho Chúa Jesus một thân xác giống như thân xác chúng ta, không phải để Ngài sống cho ý muốn riêng của Ngài nhưng để làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 10:8). Vì thế, hễ ai tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa của mình thì người đó lập tức sẽ không còn muốn sống theo ý muốn của mình nhưng muốn theo ý muốn của Đức Chúa Trời và sống cho Đức Chúa Trời.
Chúng ta đang ở trong mùa kỷ niệm Chúa Jesus Giáng Sanh. Một lần nữa nhắc cho chúng ta nhớ rằng chính Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài một thân xác giống như thân thể của chúng ta, một cuộc đời trên trần gian này như chúng ta không phải để Ngài sống cho ý muốn của mình bèn là ý muốn của Đức Chúa Trời. Chúng ta không chỉ dừng tại đó, nhưng cảm tạ Chúa vì Ngài đã ban cho mỗi chúng ta một thân xác và một cuộc đời được cứu bởi công lao cứu chuộc vô cùng cao quý của Chúa Jesus Christ. Xin chính khát vọng muốn sống cho ý muốn của Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ trở thành khát vọng của mỗi chúng ta. Chỉ khi đó, cuộc đời chúng ta mới thật ý nghĩa và trở thành ống dẫn ơn phước của Chúa đến với những cuộc đời đang sống trong ngục tù của ma quỷ và tội lỗi. Ma quỷ thường sử dụng của thân xác yếu đuối này để khiến cho chúng ta sống chống nghịch lại với ý muốn của Đức Chúa Trời, đúng như Andrew Murray đã nói: “Đối với nhiều Cơ đốc nhân, thân thể của họ vẫn còn là chướng ngại vật, ngăn cản họ sống theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Lý do là những người này chưa làm theo điều Chúa Jesus đã làm, là dâng thân thể mình làm sinh tế cho Đức Chúa Trời” (Vào Nơi Chí Thánh, II:363). Vì thế, sứ đồ kêu gọi tín hữu tại thành phố Rô-ma ngày xưa và các Cơ đốc nhân trải qua các thời đại: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Ðức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Ðức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Ðừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Ðức Chúa Trời là thể nào” (Rô-ma 12:1-2). Chỉ có những người dâng mình cho Đức Chúa Trời mới có thể khám phá ý muốn của Ngài đặng làm theo. Chiều sâu của sự nhận thức về ý muốn Đức Chúa Trời tùy thuộc mức độ tận hiến chính mình chúng ta cho Ngài. Nhận biết sự yếu đuối của chính mình và tái dâng mình cho Đức Chúa Trời một cách mới mẻ và tuyệt đối là cách chúng ta kỷ niệm sự giáng sanh của Chúa Jesus giáng trần cách đích thực và đầy đủ ý nghĩa nhất.
Cầu nguyện:
Lạy Đức Chúa Trời là Đấng đã ban Chúa Jesus đến trần gian này trong thân xác con người như chúng con để làm của lễ chuộc tội và cho chúng con biết sống vâng phục ý muốn của Ngài. Xin cho chúng con thấu hiểu sự mầu nhiệm trong sự nhập thể của Ngài và sống trong mối hiệp thông với chính Con Ngài trong cuộc đời này để làm vinh hiển danh Cha. Amen!

Thursday, December 5, 2019

ĐẤNG CHRIST KHI VÀO THẾ GIAN

Hê-bơ-rơ (Hebrews) 10:5-7
Bởi vậy cho nên, Ðấng Christ khi vào thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi. Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội. Tôi bèn nói: Hỡi Ðức Chúa Trời, nầy tôi đến trong sách có chép về tôi - tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
Suy gẫm:
Khi viết: “Bởi vậy cho nên, Đấng Christ khi vào thế gian” tác giả sách Hê-bơ-rơ muốn bàn đến giáo lý nhập thể của Chúa Jesus (incarnation). Cụm từ “vào trong thế gian” (eis ton kosmon) là cụm từ rất phổ thông trong Kinh Thánh ám chỉ sự nhập thể của Chúa Jesus. Giới từ “trong” hay “ở giữa” (eis) không phải chỉ mô tả kết quả của sự di chuyển bên ngoài vào bên trong nhưng còn nói đến vị trí hay phạm trù của sự hiện diện Đấng Christ trong thế gian (1 Ti-mô-thê 1:15; 1 Giăng 4:9). Tác giả muốn nhấn mạnh đến việc nhập thể này khi sử dụng động từ “đến trong” hay “bước vào trong” bao gồm cả giới từ “trong” (eis-erchomai). Vì giới từ này được tác giả sử dụng kép, cho chúng ta thấy ý tưởng về sự “xâm nhập” của Chúa Jesus vào trong thế giới loài người và bước vào trong thân xác của con người bằng cách mang chính xác thịt của con người. Hơn nữa, khi sử dụng động từ này, tác giả cho thấy việc nhập thể của Chúa Jesus vào trong thế giới loài người đối kháng với sự thâm nhập của tội lỗi vào trong thế gian do sự sa ngã gây ra, mà bởi đó tội lỗi nằm cố hữu ngay trong xác thịt của con người (Rô-ma 5:12). Vì thế, mục đích của sự nhập thể của của Ngài nhằm nhổ tận gốc rễ bản chất tội lỗi nằm sâu trong xác thịt của con người Chúa Jesus, bởi sự chết và sống lại của Ngài (Rô-ma 8:3). Ngoài ra, động từ “bước vào” này cũng được chính Chúa Jesus dùng để diễn tả việc đến của người chăn bước vào trong chuồng chiên (Giăng 10:2) lẫn việc Ngài chờ đợi để bước vào trong đời sống của những người bằng lòng tiếp nhận Ngài (Khải 3:20). Như thế, Chúa Jesus bước vào trong trần gian này với một chủ đích rõ rệt là để trở thành Đấng Chăn Chiên hay Giám Mục của linh hồn con người (1 Phi-e-rơ 2:25) và làm Chủ của đời sống của con người nhằm giải thoát họ khỏi bản chất tội lỗi do sự sa ngã gây nên.
Chúa Jesus từ thế giới thần thượng của Đức Chúa Trời bước vào hay xuống thế giới của con người trong thân xác bằng xương bằng thịt là một bước đi đầy ngoạn mục và đột phá của Ngôi Hai để thực hiện một sứ mệnh vô cùng cao trọng. Chắc chắn đó không phải là hành động ngẫu nhiên, bất cẩn, hay không được tính toán và suy nghĩ chín chắn cho một mục đích rõ ràng. Nhưng đó là kết quả của sự quyện lẫn giữa tâm trí và tấm lòng của Ngài cho thế giới băng hoại và thối rửa do tội lỗi gây ra. Nếu Chúa Jesus không giáng trần làm người thì thế giới này hoàn toàn sống trong tăm tối và con người mãi mãi bị đày đọa dưới ách gông cùm của ma quỷ và tội lỗi. Cảm tạ Chúa Jesus vì Ngài bằng lòng giáng trần làm người, bước ngay vào giữa sào huyệt của ma quỷ và tội lỗi để giải thoát chúng ta ra khỏi kiếp đọa đày và ban cho chúng ta sự tự do thật.
Cầu nguyện:
Con cảm tạ Đức Chúa Trời về tình yêu tuyệt với của Ngài dành cho thế gian tội lỗi này qua sự nhập thể của Chúa Jesus để giải cứu con ra khỏi sự băng hoại của bản chất tội lỗi và giúp con có thể sống thánh thiện cho Ngài. Amen!

Thursday, November 28, 2019

CHÚA JESUS TẠ ƠN

Giăng (John) 11:41-44
Vậy, họ lăn hòn đá đi. Ðức Chúa Jêsus bèn nhướng mắt lên trời mà rằng: Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi. Tôi biết rõ rằng Cha nhậm lời tôi luôn, nhưng tôi nói vậy là vì cớ đoàn dân nầy đứng chung quanh tôi, hầu cho họ tin rằng ấy chính Cha là Ðấng đã sai tôi đến. Khi Ngài nói xong, bèn kêu lên một tiếng lớn rằng: Hỡi La-xa-rơ, hãy ra! Người chết đi ra, chơn tay buộc bằng vải liệm và mặt thì phủ khăn. Ðức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Hãy mở cho người, và để người đi.
Suy gẫm:
Chúa Jesus là kiểu mẫu của sự tạ ơn. Từ “tạ ơn” hay “cảm tạ” trong nguyên nghĩa bao gồm có hai phần “ân sủng” và “tốt lành nhất”. Ngoài ra, từ ngữ “tạ ơn” có liên quan đến sự vui mừng hoan hỉ. Việc Chúa Jesus bày tỏ lòng biết ơn với Đức Chúa Cha mang hai ý nghĩa quan trọng: (a) trong sự nhập thể Chúa Jesus tự đặt mình trong vị trí của con người là tạo vật của Đức Chúa Trời để bày tỏ lòng biết ơn với Đức Chúa Cha; và (b) hành động trong sự vâng phục và đức tin mãnh liệt nơi Đức Chúa Trời. Tất cả những điều này xuất phát từ lòng vui mừng hoan hỉ trong chính Chúa.

Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha - Lòng biết ơn được bày tỏ qua sự tạ ơn luôn luôn xuất phát từ tấm lòng khiêm nhường. Mặc dầu Chúa Jesus là ngôi Hai trong ba ngôi của Đức Chúa Trời – đồng quyền, đồng đẳng, đồng cai trị với Đức Chúa Cha nhưng Ngài sẵn sàng từ bỏ chính mình và đặt mình trong chỗ “thấp hơn” để biểu lộ lòng biết ơn đối với Cha. Đó là sự biểu lộ của tâm tình nhu mì khiêm nhường của Chúa Jesus. Người biết ơn nhận biết mình đang thụ hưởng mọi điều từ Đức Chúa Trời và người khác. Người kiêu ngạo chỉ thấy những gì mình làm cho người khác, thường hay kể lể về những điều mình làm cho người khác. Khi người khác không biết ơn hay không nhắc đến công ơn của mình thì sanh lòng tự ái. Người khiêm nhường sẽ chẳng cần nhắc đến những gì mình làm cho người khác và chẳng bao giờ sanh lòng tự ái nếu người khác quên nhắc đến chính mình. Người khiêm nhường sẽ vui khi thấy những gì mình làm cho người khác mang lại ích lợi cho mọi người và làm Chúa vui lòng dẫu cho việc làm của mình chẳng được ai nhắc đến. Người đó sẽ biết ơn Chúa vì Ngài ban cho mình cơ hội để phục vụ Chúa và phục vụ người khác.

Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi - Lòng biết ơn chẳng những liên quan đến những gì mình đã nhận được nhưng ngay cả những gì mình chưa nhận được. Điều đó bày tỏ đức tin cách mãnh liệt nơi Đức Chúa Trời về chính trong bản thể của Ngài. Chúa Jesus dùng động từ trong thì quá khứ để bày tỏ và khẳng định đức tin của mình nơi Đức Chúa Cha vì Ngài biết chắc rằng việc kêu La-xa-rơ sống lại là nằm trong chương trình tốt đẹp của Đức Chúa Trời. Tạ ơn Chúa đòi hỏi đức tin thì mới có thể thấy được những việc lớn của Đức Chúa Trời thi thố. Khi đó, Đức Chúa Trời sẽ tôn cao hành động của đức tin bằng công việc quyền năng của Ngài. Rất dễ cho chúng ta cảm tạ Chúa về những gì Chúa đã làm cho chúng ta. Rất khó cho chúng ta cảm tạ Chúa trước về những gì Ngài sẽ làm cho chúng ta. Muốn hành động như thế đòi hỏi chúng ta biết chắc điều chúng ta cầu xin và cảm tạ là điều đẹp ý Đức Chúa Trời. Phép lạ chỉ xảy ra khi nào chúng ta hành động bởi đức tin. Chúa Jesus không chỉ bày tỏ đức tin của mình nơi Cha cách riêng tư nhưng Ngài còn công khai tuyên xưng đức tin đó để cho mọi người đều thấy và biết. Lòng biết ơn không thể nào được cất giấu trong nơi kín nhiệm nhưng phải được biểu lộ ra bằng hành động đức tin cho mọi người đều xem thấy.

Tôi biết rõ rằng Cha nhậm lời tôi luôn, nhưng tôi nói vậy là vì cớ đoàn dân nầy đứng chung quanh tôi, hầu cho họ tin rằng ấy chính Cha là Ðấng đã sai tôi đến - Lòng biết ơn chẳng những liên quan đến chính mình mà còn liên quan đến những người chung quanh. Chúa Jesus đã cho biết lý do việc Ngài công khai tạ ơn và bày tỏ đức tin của Ngài nơi Cha trước mặt mọi người với mục đích cho mọi người biết về sứ mạng của Ngài đến từ Đức Chúa Cha. Chính Ngài được Cha sai đến để thi hành công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Lòng biết ơn của Chúa Jesus không dừng lại và chấm dứt ngay trong chính Ngài nhưng đi xa hơn và chạm đến nhiều cuộc đời. Mục đích của Đức Chúa Trời là muốn phô bày chính Ngài và công việc của Chúa cho nhiều cuộc đời đang cần đến quyền năng và tình yêu của Ngài qua những con người sống với lòng biết ơn. Vì thế, người có lòng biết ơn về những gì mình mong đợi là ống dẫn ơn phước Đức Chúa Trời đến với người khác.

Trong mùa Tạ ơn, mỗi chúng ta cầu xin Chúa cho chính mình bước đi những bước cao hơn trong đời sống tạ ơn Chúa và khám phá Ngài cách mới mẻ và tuyệt vời hơn bằng hành động của đức tin nơi chính thân vị của Ngài. Chúa Jesus đã sống trong kiếp người bày tỏ lòng biết ơn với Đức Chúa Trời để bởi đó chúng ta là những kẻ tin nhận Ngài có thể sống với lòng biết ơn với Đức Chúa Trời là Đấng sẵn sàng làm những việc kỳ diệu trong hội thánh của Ngài. Người thuộc về Chúa sẽ luôn luôn có tâm tình biết ơn về những gì người khác làm cho mình, dẫu chỉ là một chén nước lạnh, với nhận thức sâu xa rằng tất cả mọi sự đến từ Đức Chúa Trời và sự ban cho của Ngài với tất cả tấm lòng vui mừng. Đức Chúa Trời đang tìm kiếm trong cộng đồng đức tin những con người dám sống cam đảm tuyên xưng đức tin của mình nơi Ngài cho mọi người để qua đó danh Chúa được tôn cao và công việc Chúa được phô bày ra giữa vòng những người chưa biết Ngài. Lòng vô ơn bao giờ cũng xuất phát từ lòng vô tín. Lòng biết ơn là kết quả của đức tin mãnh liệt nơi Đức Chúa Trời và là phương tiện qua đó Ngài truyền đạt ân sủng, tình yêu, và quyền năng của Ngài cho thế giới vô tín và băng hoại này.

Thursday, November 21, 2019

NGƯỜI QUÊN NHƯNG CHÚA NHỚ!

2 Sa-mu-ên (Samuel) 21:1-9
Về đời Ða-vít, có một ách cơ cẩn trong ba năm liên tiếp. Ða-vít cầu vấn Ðức Giê-hô-va; Ngài đáp cùng người rằng: Sự nầy xảy đến vì cớ Sau-lơ và nhà đổ huyết của người, bởi vì người có giết dân Ga-ba-ôn. Vua bèn truyền gọi dân Ga-ba-ôn, và nói chuyện với họ. Người Ga-ba-ôn chẳng thuộc về dân sự Y-sơ-ra-ên, nhưng họ là kẻ sống sót của dân A-mô-rít; dân Y-sơ-ra-ên có thề hứa tha thứ họ. Dầu vậy, Sau-lơ vì lòng sốt sắng về dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, đã tìm cách trừ diệt họ. Ấy vậy, Ða-vít hỏi dân Ga-ba-ôn rằng: Ta phải làm sao cho các ngươi, lấy vật gì mà chuộc tội, hầu cho các ngươi chúc phước cho cơ nghiệp của Ðức Giê-hô-va? Dân Ga-ba-ôn tâu cùng vua rằng: Chúng tôi đối cùng Sau-lơ và nhà người chẳng đòi bạc hay vàng, chúng tôi cũng chẳng có phép giết người nào trong Y-sơ-ra-ên. Ða-vít tiếp: Vậy các ngươi muốn ta làm gì cho các ngươi? Họ đáp cùng vua rằng: Người ấy có diệt trừ chúng tôi; người có toan mưu làm cho chúng tôi biết mất khỏi cả địa phận Y-sơ-ra-ên. Thế thì, hãy phó cho chúng tôi bảy người trong những con trai người; chúng tôi sẽ treo chúng nó trước mặt Ðức Giê-hô-va ở Ghi-bê-a, thành của Sau-lơ là người được Ðức Giê-hô-va chọn. Vua đáp: Ta sẽ phó chúng nó cho. Ða-vít dong thứ Mê-phi-bô-sết, con trai của Giô-na-than, cháu của Sau-lơ, vì cớ lời thề Ða-vít và Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, đã lập với nhau trước một Ðức Giê-hô-va. Nhưng vua bắt Át-mô-ni và Mê-phi-bô-sết, hai con trai của Rít-ba, con gái của Ai-gia, đã sanh cho Sau-lơ, và năm con trai của Mi-canh, con gái Sau-lơ đã sanh cho Át-ri-ên, con trai của Bát-xi-lai ở Mê-hô-la, mà giao cho dân Ga-ba-ôn; chúng treo họ lên trên núi tại trước mặt Ðức Giê-hô-va. Bảy người ấy đều bị chết chung với nhau, người ta giết họ nhằm mấy ngày đầu mùa gặt lúa mạch.
Suy gẫm:
Sự việc vua Sau-lơ giết dân Ga-ba-ôn tưởng chừng như đi vào lãng quên sau bao nhiêu năm kể từ khi vương quyền cường hào ác bá của ông chấm dứt (1 Sa 22:16-19). Phần con người quên và muốn để cho mọi việc theo thời gian rồi tự nó sẽ được chữa lành, vì thời gian là một phương thuốc chữa bá bịnh! Nhưng Đức Chúa Trời chẳng bao giờ quên nếu điều đó chưa được giải quyết cách đúng đắn theo cách của Ngài. Chính vì thế, trong thời của vua Đa-vít, Đức Chúa Trời đã làm cho vương quốc Y-sơ-ra-ên khốn đốn trong ba năm liên tiếp. Từ mà Kinh Thánh dùng để chỉ sự hình phạt của Ngài giáng trên dân sự là “ách cơ cẩn” có nghĩa là cơn đói kém lớn. Đây là cách mà Chúa thường dùng để thi hành kỷ luật đối với dân sự của Ngài hòng đem họ trở lại với con đường công chính (Phục 28:47, 48). Vì không biết nguyên nhân của hoạn nạn xảy đến, Đa-vít đã đi tìm cầu ý muốn của Chúa về việc này. Động từ “cầu vấn” được dùng chỉ hai lần trong đời của vua Đa-vít, có nghĩa là cầu xin cách tha thiết và thành khẩn vì đang đối diện với một hoàn cảnh vô cùng nguy kịch hầu bị tận diệt và cần sự giải cứu của Chúa (2 Sa 12:16). Thái độ thành khẩn trong sự cầu nguyện của Đa-vít đã được Chúa trả lời, và Ngài cho ông biết rằng vì cớ tội lỗi của Sau-lơ đã phạm trong khi còn tại vị cách đó mấy chục năm. Hành động tội ác của Sau-lơ tưởng chừng như trôi theo thời gian nhưng nay Chúa đem trở lại và Ngài phải thi hành án phạt để bênh vực cho dân Ga-ba-ôn về máu vô tội của họ đã bị đổ ra. Sự việc là 400 năm về trước, Giô-suê đã thiết lập giao ước với dân Ga-ba-ôn. Sau-lơ vì lòng sốt sắng muốn tận diệt tất cả giống dân trong xứ Ca-na-an nên đã vi phạm giao ước mà Giô-suê đã thay mặt dân sự ký với dân Ga-ba-ôn (Giô 9:19-20). Dẫu cho với cớ tích hay động cơ nào đi chăng nữa, Sau-lơ đã hủy phá giao ước dân Y-sơ-ra-ên đã ký kết với dân Ga-ba-ôn. Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời của giao ước. Vì thế, Ngài tôn trọng giao ước dân sự đã ký với dân Ga-ba-ôn trong sự hiện diện của Ngài. Việc làm tàn ác của Sau-lơ đã chống lại luật pháp của Ngài (Dân 30:1-2) và khiến cho dân Ga-ba-ôn trở thành cớ tích của sự rủa sả giáng trên dân sự của Chúa (Dân 35:33-34). Ngoài ra, việc Đức Chúa Trời báo thù huyết nơi tay Sau-lơ một phần nhằm bênh vực cho lời lên án của Si-mê-i, dòng dõi của vua Sau-lơ, chống lại vua Đa-vít: “Ớ người huyết, người gian tà kia! Hãy đi nà, hãy đi nà!” (2 Sa 16:7-8). Vì Đa-vít không lên tiếng bênh vực cho mình thì chính Đức Chúa Trời lại bênh vực cho ông.
Hành động của Sau-lơ phải được chuộc với một giá thích đáng. Đó là bảy con trai của nhà Sau-lơ phải bị nộp cho dân Ga-ba-ôn để bị “treo lên trên núi trước mặt Đức Giê-hô-va” (21:9). Trên một phương diện, Đức Chúa Trời không cho phép sự báo thù trên con cái về hành động của cha đã phạm (Phục 24:16). Nhưng tại đây, Đức Chúa Trời đã cho phép điều này. Tại sao? Chẳng qua đây là duyên cớ mà Đức Chúa Trời sử dụng để hủy diệt nhà Sau-lơ tận gốc rễ như Ngài đã phán. Đa-vít đã giao nộp con cái của Sau-lơ cho dân Ga-ba-ôn, trừ Mê-phi-bô-sết là con trai của Giô-na-than vì giao ước mà vua đã thiết lập với Giô-na-than trước đây (1 Sa 18:3; 20:15; 2 Sa 9:1-13). Tác giả Sa-mu-ên muốn chứng minh cho chúng ta thấy rằng “con người theo lòng của Đức Chúa Trời” là người tuân giữ giao ước vì biết Đức Chúa Trời là ai. Con người của Đa-vít hoàn toàn trái ngược lại với con người của Sau-lơ là người không tuân giữ hay tôn trọng giao ước vì đã bị Đức Chúa Trời lìa bỏ. Rõ ràng rằng việc hủy bỏ giao ước với dân Ga-ba-ôn, làm cho máu vô tội của họ đã bị đổ ra khiến cho xứ thánh bị ô uế, đã được chuộc bằng mạng sống của dòng dõi Sau-lơ là điều đẹp lòng Đức Chúa Trời. Cho nên, “về sau, Đức Chúa Trời mới đoái thương đến xứ” (21:14c).
Không có một hành động hay việc làm nào của chúng ta có thể qua mặt Đức Chúa Trời và đều phải lãnh hậu quả của nó. Chúng ta dễ dàng suy nghĩ rằng vì chưa thấy có điều gì xảy ra khi chúng ta làm điều ác trước mặt Đức Chúa Trời, nên có lẽ Ngài đã bỏ qua hay Chúa đã quên tội lỗi của chúng ta rồi. Chắc chắn không bao giờ Đức Chúa Trời bỏ qua bất cứ tội lỗi nào chúng ta đã phạm mà chưa ăn năn và chưa giải quyết cách đúng dắn trước mặt Ngài, dẫu cho thời gian lâu đến đâu đi chăng nữa. Gióp đã nói: “Các tội phạm tôi bị niêm trong một cái túi, và Chúa có thắt các sự gian ác tôi lại” (Gióp 14:17). Chúng ta quên những điều mình làm nhưng Chúa thì chẳng bao giờ quên. Đôi khi Đức Chúa Trời để cho chúng ta có đủ thời gian để ăn năn quay trở lại với Chúa và giải quyết mọi vấn đề cách sòng phẳng với Ngài.
Đôi khi Đức Chúa Trời để cho những hoạn nạn xảy đến với đời sống cá nhân, gia đình, và hội thánh để giúp chúng ta có thể thấy lại được những điều sai phạm mà chúng ta chưa thật sự ăn năn và giải quyết với Chúa cách đúng mức. Trong trường hợp đó, chỉ có sự cầu nguyện cách thành khẩn và chân thật mới có thể giúp chúng ta thấy được lầm lỗi và cội nguồn của mọi vấn đề trong đời sống chúng ta. Thay vì oán trách và cay đắng, xin Chúa cho chúng ta có tấm lòng nhu mì, khiêm nhường đủ để được Chúa Thánh Linh soi sáng và dắt dẫn đi qua sự ăn năn chân thật. Khi đó, Chúa sẽ cho chúng ta biết được rằng những gì chúng ta phải làm để có thể được Chúa thật sự tha thứ và phục hồi lại tâm linh và cuộc đời của chúng ta. Không có một sự vi phạm nào mà không phải trả một giá cho nó để được Chúa tha thứ hoàn toàn. Ngoài sự ăn năn và cầu xin huyết Chúa Jesus làm sạch mọi tội lỗi (1 Giăng 1:7), chúng ta còn phải sẵn sàng chấp nhận giá phải trả cho tội lỗi mình đã phạm. Khi ấy, Đức Chúa Trời mới đoái thương đến cuộc đời chúng ta. Đức Chúa Trời sẵn sàng tha thứ tội lỗi chúng ta đã phạm nhưng chúng ta phải sẵn sàng gánh chịu hậu quả của nó. Hậu quả lâu hay mau, nhiều hay ít là tùy thuộc vào mức độ tội lỗi chúng ta đã phạm như thế nào. Nhưng chắc chắn rằng Đức Chúa Trời chúng ta là một Đức Chúa Trời đầy tình thương, giàu lòng bác ái và sẵn sàng tha thứ khi chúng ta thật lòng ăn năn (Xuất 34:6-7).
Cầu xin Chúa thương xót chúng ta trong những ngày cuối năm. Đây là cơ hội chúng ta nhìn lại chính mình, gia đình và hội thánh trong suốt năm qua chúng ta đã sống như thế nào trước mặt Ngài? Xin Chúa cho chúng ta kết thúc một năm với một tấm lòng chân thành tìm kiếm mặt của Ngài và cầu xin Chúa đoái thương đời sống chúng ta nếu trong năm qua có điều nào phạm tội với Chúa và với người không đẹp lòng Chúa. Xin cho chúng ta sẵn sàng tra xét tấm lòng của mình và thanh toán với Chúa mọi món nợ của đời sống mình hầu được Chúa đoái thương, ban phước và dẫn chúng ta đi trong những ngày cuối năm thật phước hạnh và bước vào năm mới với sức sống tươi mới và sung mãn của chính Ngài ban cho chúng ta qua huyết đắc thắng và tha thứ của Chúa Cứu Thế Jesus.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Jesus, xin cho con không tự đánh lừa chính mình rằng Ngài quên những điều con đã phạm mà chưa thật sự ăn năn. Xin ban cho con tấm lòng khao khát và mềm mại đủ để ăn năn về mọi điều sai phạm cách thành khẩn và chân thật trước mặt Ngài. Xin đoái thương con và giúp con thấy được những gì cần phải ăn năn để được tha thứ hầu bởi đó phước hạnh của Ngài tuôn đổ trên chính đời sống con, gia đình con, và hội thánh của Ngài. Amen!

Thursday, November 14, 2019

NHÌN CHỆCH HƯỚNG VÀ THIỂN CẬN

Giăng (John) 9:1-5
Ðức Chúa Jêsus vừa đi qua, thấy một người mù từ thuở sanh ra. Môn đồ hỏi Ngài rằng: Thưa thầy ai đã phạm tội, người hay là cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù như vậy? Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ðó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ đã phạm tội; nhưng ấy để cho những việc Ðức Chúa Trời được tỏ ra trong người. Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Ðấng đã sai ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được. Ðương khi ta còn ở thế gian, ta là sự sáng của thế gian.
Suy gẫm:
Bị mù lòa từ thuở sanh ra không có gì để đáng sống nhưng chàng thanh niên này cũng phải chấp nhận để sống một kiếp người. Chưa kể anh ta trở thành cớ cho sự đàm tiếu và đoán xét của con người về tình trạng bịnh tật của anh và ảnh hưởng ngay cả đến gia đình của anh: “người hay là cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù như vậy?” (Giăng 9:2). Từ một nạn nhân của nỗi bất hạnh, bổng dưng chàng thanh niên này trở thành một tội nhân dưới ánh mắt soi mói và gièm chê của miệng người đời! Hơn thế nữa, ngay cả anh cũng bị giới lãnh đạo tôn giáo ruồng bỏ và khinh miệt: “cả mình ngươi sanh ra trong tội lỗi” (Giăng 9:34). Cái loại thần học quy tội của người Do-thái trở thành bản án tử hình treo lơ lửng trong tâm trí của chính anh và gia đình. Cái mù lòa đã là nổi bất hạnh nhưng chưa khủng khiếp cho bằng cái miệng đàm tiếu và buộc tội ác nghiệt dựa trên loại thần học hẹp hòi và phiến diện. Tư tưởng này ăn ruồng trong tận xương tủy và trở thành lối mòn của tư tưởng con người khi đối diện với bịnh tật cho là sự rủa sả của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi của con người không hơn không kém.

Rồi Chúa Jesus xuất hiện. Sự hiện diện của chính thân vị và chức vụ Ngài là một sự giải cứu tuyệt vời cho con người sống dưới ách thống trị của tội lỗi và hậu quả do nó gây ra. Cũng cùng một sự việc nhưng Chúa Jesus đưa ra cho con người một cái nhìn mới xuất phát từ lòng nhơn từ và thương xót của Ngài, để dẫn lối đưa đường con người thoát khỏi bóng đêm tuyệt vọng. Chúa Jesus hoàn toàn xoay hướng con người từ chỗ tập chú vào chính mình và nỗi bất hạnh của mình, biết nhìn mọi sự việc trong lăng kính của Đức Chúa Trời để thấy được chương trình tuyệt vời của Ngài trên cuộc đời bất hạnh từ lúc mới sanh ra. Chúa Jesus không phủ nhận sự hiện hữu của tội lỗi và sức tàn phá khủng khiếp của nó. Nhưng Ngài cho con người thấy rằng vấn đề không phải là ngồi một chỗ ôm lấy nỗi bất hạnh và sự sầu khổ của mình để cho nó gậm nhấm từ từ, chết lần chết mòn. Không! Dẫu cho Đức Chúa Trời không cất đi hậu quả của tội lỗi và nỗi thống khổ của con người, nhưng Chúa Jesus đưa ra cho con người một cái nhìn mới xu hướng về chính Ngài: “Ðó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ đã phạm tội; nhưng ấy để cho những việc Ðức Chúa Trời được tỏ ra trong người.” Chúa Jesus dùng cụm từ “việc của Đức Chúa Trời” (số nhiều) mang một ý nghĩa liên quan đến việc tin nhận Chúa Jesus và đón nhận ơn cứu độ của Ngài. Đó chính là “công việc của Đức Chúa Trời” (Giăng 6:27-28). Chính Chúa Jesus đến trần gian này để làm “công việc của Đức Chúa Trời” (Giăng 9:4). Vì vậy, qua câu nói của Chúa Jesus, người mù được tháp cuộc đời mình với chính thân vị và công việc của Ngài. Như thế, Chúa Jesus chuyển hướng suy nghĩ của người mù về với chính Ngài và sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời ban cho con người qua chính thân vị và công tác đền tội của Ngài. Sự đau khổ về thể xác mà người mù đang gánh chịu lâu nay chẳng qua là một phương tiện bởi đó người ấy có thể nhận biết được Ngài là ai (Giăng 9:11, 17, 33, 37-38). Mặc dầu Chúa Jesus mở mắt cho người mù này về phần xác nhưng đó chỉ là sự chữa lành mang tính chất tạm thời, vì một ngày nào đó người ấy cũng phải chết. Điều quan trọng hơn và phước hạnh hơn cho người đó ấy là anh ta được Chúa mở mắt tâm linh để nhận biết Ngài. Đó là sự chữa lành cao quý hơn và có giá trị đời đời, khi mà anh ta vượt ra khỏi thân xác này để bước vào cõi vĩnh hằng với Ngài và một lần nữa gặp mặt Ngài. Đức Chúa Trời dùng cái mù lòa của thể xác để giải cứu anh ta ra khỏi sự mù lòa tâm linh, cảnh ngục tù đen tối của tâm hồn, mà cảnh trạng đó còn ghê rợn và khủng khiếp gấp trăm ngàn lần hơn so với sự tăm tối mà anh ta đang gánh chịu trong thân xác này.

Chúng ta thường hay nhìn chệch hướng và thiển cận về những điều bất hạnh xảy đến trong đời sống của chúng ta. Có lẽ vì mắt tâm linh chúng ta còn mù lòa vì bị bản tánh ích kỷ chắn ngang chăng? Chúng ta thường hay nhìn vào chính mình và những nỗi khổ đau của chính mình và người khác để tự lên án nhau và kết tội nhau cách vô cớ và sai lầm. Đó không phải là điều của chúng ta nên làm và đáng phải làm cho chính mình và cho người khác. Chúa Jesus muốn chúng ta nhìn vào chính Ngài để có thể thấy được công việc của Ngài. Khi đó, mọi đau khổ sẽ tan biến, mọi mặc cảm tội lỗi sẽ được cất bỏ, và mọi nghi ngờ sẽ được thay thế bằng hy vọng tràn đầy. Chẳng qua những đau khổ, bịnh tật, bất hạnh mà chúng ta phải gánh chịu ngày hôm nay là phương tiện Chúa cho phép xảy đến cho cuộc đời của chúng ta hầu giúp mắt tâm linh của chúng ta được mở ra thấy được công việc của Ngài. Con người thấy hoạn nạn bịnh tật và bất hạnh của mình là công việc của ma quỷ và vùi mình vào trong vũng bùn thất vọng rồi dẫn đến vô vọng. Chúa Jesus cho thấy rằng đó chỉ là chiếc cầu để đưa chúng ta từ thế giới tối tăm của ma quỷ sang thế giới sáng láng của Đức Chúa Trời. Trong mùa tạ ơn này, bởi đức tin, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời biết ơn sâu xa về những gì Ngài mang đến cho cuộc đời của chúng ta. Đồng thời, chúng ta cầu xin Chúa mở mắt để chúng ta có thể thấy được “mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Ngài” (Rô-ma 8:28).
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Jesus, xin cho con một lần nữa khám phá Ngài là ai qua những điều xảy đến với đời sống của con, gia đình con, và hội thánh của Ngài. Amen!

Thursday, November 7, 2019

PHƯỚC HẠNH NƯỚC TRỜI: CÓ LÒNG THƯƠNG XÓT

Ma-thi-ơ (Matthew) 5:1-7
Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng:
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!
Phước cho những kẻ nhu mì vì sẽ hưởng được đất!
Phước cho những kẻ đói khát sự công bình vì sẽ được no đủ!
Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!

Suy gẫm:
Phước hạnh thứ năm của người sống trong vương quốc của Đức Chúa Trời là có lòng thương xót. Lòng thương xót là sự biểu lộ của lòng yêu thương của Đức Chúa Trời. Trong nguyên văn, từ “thương xót” (mercy) có nhiều ý nghĩa khác nhau. Trước hết, đây là từ ngữ sử dụng cho chính Đức Chúa Trời là Đấng hay thương xót (Xuất Ai-cập ký 22:27; 34:6). Lòng thương xót hay trắc ẩn là bản tánh của Đức Chúa Trời được phản ánh trong đời sống và chức vụ của Chúa Jesus khi Ngài sống giữa con người tội lỗi. Lòng thương xót và trắc ẩn của Chúa Jesus được bày tỏ qua việc: chữa lành bịnh tật, đuổi quỉ, và thi hành phép lạ. Chính vì thế, những ai đến với Chúa Jesus đều cầu xin lòng thương xót của Ngài đoái đến mình (Ma-thi-ơ 9:25; 15:22; 17:15; 20:30; Mác 10:47; Lu-ca 17:13; 18:38, 39). Khi một cuộc đời được lòng thương xót của Ngài chạm đến, đời sống đó chắc chắn được thay đổi và trở nên một con người mới. Và khi đó người ấy được trao cho trách nhiệm nói cho mọi người biết về lòng thương xót của Ngài: Hãy về nhà ngươi, nơi bạn hữu ngươi, mà thuật lại cho họ điều lớn lao thể nào Chúa đã làm cho ngươi, và Ngài đã thương xót ngươi cách nào (Mác 5:19).
Đặc biệt, tác giả Hê-bơ-rơ nhấn mạnh đến lòng thương xót của Chúa Cứu Thế Jesus được bày tỏ qua việc Ngài thi hành chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm, hiến mình để đền tội cho chúng ta: Nhân đó, Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự, hầu cho đối với Đức Chúa Trời, trở nên thầy tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín, đặng đền tội cho chúng dân. Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy” (Hê-bơ-rơ 2:17, 18). Đây chính là đỉnh điểm của lòng thương xót của Đức Chúa Trời được biểu lộ trong chính Con yêu dấu của Ngài bằng hành động hy sinh chính sự sống của mình để làm của hiến tế cho Đức Chúa Trời vì tội lỗi của cả nhân loại.
Trong Kinh Thánh cũng cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng cầm quyền tuyệt đối trong việc thi hành lòng thương xót khi Ngài phán cùng Môi-se rằng: “Ta sẽ làm ơn cho kẻ ta làm ơn, ta sẽ thương xót kẻ ta thương xót” (Rô-ma 9:15). Nhìn dòng chảy của lịch sử cứu chuộc của Đức Chúa Trời cho dân sự của Ngài, sứ đồ Phao-lô nói rằng: "Như vậy, Ngài muốn thương xót ai thì thương xót, và muốn làm cứng lòng ai thì làm” (Rô-ma 9:18). Và chính lòng thương xót đó của Ngài đã chạm đến, thay hướng đổi chiều cuộc đời của ông từ một kẻ chống báng đạo Chúa (phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo) trở thành người giảng Tin Lành của lòng thương xót mà ông không xứng đáng chút nào: "Ta ngày trước vốn là người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo, nhưng ta đã đội ơn thương xót, vì ta đã làm những sự đó đang lúc ta ngu muội chưa tin... Nhưng ta đã đội ơn thương xót, hầu cho Đức Chúa Jêsus Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta là kẻ làm đầu, để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài được sự sống đời đời"”(I Ti-mô-thê 1:13, 16). Đời sống của sứ đồ Phao-lô là bằng chứng về lòng thương xót của Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Jesus. Và Đức Chúa Trời sử dụng ông trở thành ống dẫn lòng thương xót của Ngài đến với mọi người. Chỉ có những ai kinh nghiệm lòng thương xót của Chúa mới có thể rao giảng lòng thương xót của Ngài!
Tự trong chúng ta chẳng có thể sản sanh ra lòng thương xót vì tấm lòng của con người là tội lỗi. Như Chúa Jesus đã nói: “Hễ sự gì từ người ra, đó là sự làm dơ dáy người! Vì thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng (Mác 7:20-22). Chỉ khi nào lòng thương xót của Chúa chạm đến sẽ thay đổi cuộc đời chúng ta và trồng trong chúng ta lòng thương xót của Ngài để có thể sống bày tỏ lòng thương xót của Chúa cho người khác. Một cuộc đời được lòng thương xót của Chúa chạm đến và thay đổi được gọi là người có phước và người đó trở thành ống dẫn lòng thương xót của Chúa cho người khác. Khi ấy, người đó sẽ tiếp tục được đổ đầy lòng thương xót của Ngài vào trong cuộc đời chúng ta. Như Chúa Jesus phán: Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót! Trong câu này Chúa Jesus dùng hai từ “thương xót” khác nhau: (1) “kẻ hay thương xót” (the merciful) được dùng như một tĩnh từ (adjective) nói lên bản chất của một con người có bản chất thương xót; (2) “nhận được thương xót” (receive mercy) được dùng như một động từ thụ động tương lai, nói lên sự thụ hưởng lòng thương xót do hành động thương xót đã làm ra trong phần trên như một chuỗi phản xạ tự nhiên: được thương xót > có bản bản chất thương xót > hành động thương xót > nhận được lòng thương xót. Bạn và tôi đã được lòng thương xót của Chúa chạm đến và thay đổi bản chất hung ác, cứng cõi, kiêu ngạo trở thành bản chất thương xót chưa? Và khi chúng ta có bản chất thương xót thì chúng ta đã để cho bản chất ấy biểu lộ trong và qua chúng ta như thế nào trong cách sống với mọi người chung quanh?
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Jesus, xin Ngài tiếp tục chạm đến con để thay đổi con mỗi ngày, chan chứa trong con bản chất thương xót của Ngài để con có thể sống biểu lộ lòng thương xót với mọi người chung quanh con mỗi ngày. Amen!

Thursday, October 31, 2019

PHƯỚC HẠNH NƯỚC TRỜI: ĐÓI KHÁT SỰ CÔNG CHÍNH (2)

Ma-thi-ơ (Matthew) 5:1-10
Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng:
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!
Phước cho những kẻ nhu mì vì sẽ hưởng được đất!
Phước cho những kẻ đói khát sự công bình vì sẽ được no đủ!
Suy gẫm:
Trong lời phán của Chúa Jesus, Ngài sử dụng hai động từ riêng biệt nhau rất rõ ràng: “đói” và “khát” (cả hai trong thì hiện tại để diễn tả tính chất liên tục của sự đói khát). Đây là sự biểu hiện của nhu cầu rất thực tế nhưng rất mãnh liệt của con người do Đức Chúa Trời phú cho. Khi bị rơi vào trong tình trạng đói và khát thì con người cần phải được thõa mãn. Câu hỏi được đặt ra ở đây là khi con người đói và khát sự công chính, điều gì làm cho người đó thỏa mãn nhu cầu của mình? Chính sự đói khát đó sẽ mang người đó đến sự thỏa mãn hay người đó cần đến với một nguồn tiếp trợ nào khác để được thỏa mãn? Đối với những người Pha-ri-si và thầy Thông giáo, họ tự thỏa mãn chính sự đói khát của mình bằng hành động tôn giáo và đạo đức của họ. Nhưng vấn đề là họ chẳng bao giờ làm trọn được sự đòi đỏi của luật pháp để khiến họ có thể thỏa mãn trọn vẹn. Chính vì lẽ đó mà sự tự cho mình là công bình đã dẫn họ đến sự kiêu căng và hợm hĩnh với mọi người chung quanh (Lu-ca 18:11-12). Chúa Jesus đã cho họ một bản án rất rõ ràng: “Ta nói cùng các ngươi, người nầy [kẻ thâu thuế] trở về nhà mình, được xưng công bình chứ không phải người kia [người Pha-ri-si]; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên” (Lu-ca 18:14). Chúa Jesus đã đưa ra một tiêu chuẩn hoàn toàn khác với tiêu chuẩn của người Pha-ri-si và thầy Thông giáo theo đuổi để tự làm cho nhu cầu công chính của họ được thỏa mãn.

Chúng ta cần quan sát và phân tích cấu trúc câu trong ngôn ngữ Hi-lạp để có thể hiểu được điều Chúa Jesus muốn nói. Có hai trường hợp hai động từ “đói” và “khát” được sử dụng. Trước hết, nếu theo sau chúng là danh từ ở thể sở hữu (genitive), chúng ta có thể hiểu rằng điều mà người đó đói khát có thể chỉ là một phần nào đó nhu cầu của họ chứ không phải hoàn toàn là nhu cầu người đó. Điều người đó cần được đáp ứng chỉ mà một phần của đời sống và trong một khoảnh khoắc nào đó. Thứ hai, khi danh từ theo sau hai động từ "đói" và "khát" được dùng ở thể vị cách túc từ (accusative = đón nhận hành động do chủ từ gây ra) thì tác giả muốn diễn tả điều người đó đói khát là điều vô cùng quan trọng, không thể nào thiếu được, vì nó mang tính chất quyết định sự sống còn cho người đó. Người đó không chỉ xem việc mình được thỏa mãn chỉ là một phần của đời sống nhưng là điều tối cần cho cả cuộc đời của người đó. Đây chính là trường hợp Chúa Jesus muốn nói đến ở đây. Sở dĩ con người chẳng bao giờ có thể tự mình thỏa mãn sự đòi hỏi về sự công bình và vẫn còn xa cách vương quốc Đức Chúa Trời, vì người đó chưa thấy rằng đó là tất cả những gì mình cần và chưa phải là nhu cầu người đó phải theo đuổi trọn cả đời. Trường hợp của người trai trẻ giàu có minh họa cho trình trạng này của con người (Mác 10:17-31). Anh ta đến với Chúa với nhu cầu về sự công chính thật sự nhưng không sẵn sàng theo đuổi cho đến cuối cùng để được nó, vì điều đó chưa phải là yếu tố quyết định cho đời sống của anh ta. Chúa Jesus đã để cho anh ta ra đi cho đến khi nào anh ta cảm thấy đói khát nó cách mãnh liệt và sẵn sàng từ bỏ tất cả để được nó. Khi đó, anh quay trở lại nhưng có thể sẽ quá muộn màng chăng?

Vương quốc của Đức Chúa Trời chỉ dành cho những kẻ đói khát sự công chính của Ngài cách mãnh liệt, xem nó là nhu cầu sống còn của mình và là nhu cầu liên tục suốt cả cuộc đời. Khi ấy, người đó sẽ chẳng còn dám nương tựa vào giá trị đạo đức và công bình của chính mình. Chúa Jesus đến và mang vương quốc của Ngài đến cho con người không phải để bù đắp vào cho giá trị đạo đức và công chính bị sứt mẻ của con người để làm cho nó trở nên hoàn chỉnh hơn. Sự tái sanh không phải là sự khôi phục và sửa chữa những phần thất bại và đổ vỡ trong đời sống của con người. Hoàn toàn ngược lại, Chúa Jesus đến để mang vương quốc của Ngài đến cho những con người thấy rằng sự công bình của mình là miếng giẻ rách trước mặt Đức Chúa Trời và tuyên bố phá sản giá trị đạo đức cá nhân của họ để rồi bắt đầu biết đói khát sự công chính của Ngài. Sự tái sanh là sự làm hoàn toàn nên mới hay bản tánh thánh thiện và công chính của Đức Chúa Trời được trồng vào trong con người của một tội nhân, là người đã một lần và liên tục nói với Chúa rằng: “con đói khát sự công chính của Ngài cho ngày hôm nay, ngày mai, và trọn cả cuộc đời của con.” Khi đó, người ấy sẽ nghe được tiếng đáp lại từ trời: “Phước cho những kẻ đói khát sự công chính sẽ được no đủ.”
Áp-ra-ham được kể là công chính vì ông tin Đức Chúa Trời chứ không phải do ông làm trọn luật pháp của Ngài (Ga-la-ti 3:6). Đây là sự thử nghiệm về lòng đói khát sự công chính của chúng ta. Nếu việc chúng ta tin Chúa biến chúng ta trở thành kẻ tự mãn về sự công bình của chính mình và kiêu căng về đời sống thuộc linh của mình, đó chính là dấu hiệu chúng ta chưa thật sự đói khát Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, và chưa thật sự được thỏa mãn. Một người thật sự theo Chúa Jesus và thật sự đói khát sự công chính của Đức Chúa Trời cách liên tục và dai dẵng sẽ biến người đó trở nên khiêm nhường và biết nương tựa nơi sự công chính của Chúa Jesus Christ để làm nên sự cứu rỗi cho mình đời đời. Người đói khát sự công bình của Đức Chúa Trời chẳng gì khác hơn là người đói khát chính Chúa Jesus vì Ngài là sự công chính của chúng ta (I Cô-rinh-tô 1:30). Chính sự hiện diện của Ngài trong chúng ta sẽ khiến chúng ta được no đủ. Vì Chúa Jesus phán: “Còn Ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống và được sự sống sung mãn” (Giăng 10:10). Từ “sung mãn” hay “dư dật” có nghĩa là vượt trổi hơn điều mong đợi, nhu cầu cần có hay tiêu chuẩn cần đạt đến. Hai yếu tố trong thánh lễ Tiệc Thánh là bánh và chén biểu tượng cho thịt và huyết của Chúa Jesus nói lên ý nghĩa sự cung ứng của Đức Chúa Trời để mang lại sự mãn nguyện cho tâm linh con người khi họ biết đói (bánh = thịt) và khát (chén = huyết) chính Ngài. Vì thế, mỗi khi chúng ta cùng nhau dự thánh lễ Tiệc Thánh, hãy nhận lấy bánh và chén như thể bởi đức tin chính Đấng Christ đã hiến tế chính mình Ngài cho chúng ta để làm cho chúng ta mãn nguyện. Khi ấy, chúng ta thật sự là người có phước!

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Jesus, xin cho con nhận biết giá trị thật của chính mình để con có thể biết đói khát chính Ngài và sự công bình của Ngài ngày càng mãnh liệt hơn. Xin cho con đói khát chính Ngài hơn tất cả mọi sự trần gian này để con thật sự được thỏa mãn trong chính Ngài. Amen!