Thursday, December 20, 2018

KHƯỚC TỪ HAY CHẤP NHẬN

Ma-thi-ơ (Matthew) 1:18-24
18Vả, sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus Christ đã xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Đức Thánh Linh. 19Giô-sép chồng người, là người có nghĩa, chẳng muốn cho người mang xấu, bèn toan đem để nhẹm. 20Song đang ngẫm nghĩ về việc ấy, thì thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao, mà phán rằng: Hỡi Giô-sép, con cháu Đa-vít, ngươi chớ ngại lấy Ma-ri làm vợ, vì con mà người chịu thai đó là bởi Đức Thánh Linh. 21Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là JÊSUS, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội. 22Mọi việc đã xảy ra như vậy, để cho ứng nghiệm lời Chúa đã dùng đấng tiên tri mà phán rằng: 23Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sanh một con trai,
Rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên; nghĩa là: Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. 24Khi Giô-sép thức dậy rồi, thì làm y như lời thiên sứ của Chúa đã dặn, mà đem vợ về với mình; 25song không hề ăn ở với cho đến khi người sanh một trai, thì đặt tên là Jêsus.
Dưỡng linh:
Theo phong tục của người Do-thái, việc cưới gã là một kết ước không thể phân rẽ hay chấm dứt được ngoại trừ sự không chung thủy từ một trong hai người. Đính hôn (engagement or betrothal) được xem như thành hôn nhưng chưa ăn ở với nhau. Thông thường thời gian đính hôn kéo dài trong một năm. Việc Ma-ri mang thai Con Trời có nghĩa rằng Chúa can thiệp vào trong kế hoạch của đời sống cá nhân của cả hai người. Vì thế, cái tin Ma-ri mang thai Chúa Jesus là một biến cố thay đổi hoàn toàn, nếu không muốn nói là sụp đổ hoàn toàn kế hoạch và dự tính trong đời sống cá nhân của Giô-sép.
Việc Giô-sép chấp nhận kế hoạch của Đức Chúa Trời cho cuộc đời của chàng nói riêng và bao gồm cả Ma-ri nói chung không phải là một việc dễ dàng. Điều khó khăn không chỉ nằm trong con người của Ma-ri nhưng cũng trong con người của Giô-sép. Khi chấp nhận tiếp tục tiến tới hôn nhân với Ma-ri có nghĩa rằng Giô-sép phải chấp nhận hy sinh niềm hạnh phúc riêng tư của mình cho niềm hạnh phúc cho cả dân tộc. Không những thế thôi, Giô-sép còn phải đối diện với bao nhiêu lời đàm tiếu và chỉ trích của miệng người đời mà chẳng ai có thể binh vực cho chàng, ngay cả người thân trong gia đình. Nói chung, trước mắt Giô-sép là một tương lai mờ mịt và một viễn ảnh hoàn toàn đen tối. 
Làm thế nào Giô-sép có thể sống vươn lên và vượt qua những giây phút khủng hoảng nhưng đầy phước hạnh của mình? Chắc chắn rằng lời Chúa qua thiên sứ của Ngài cho chàng trong đêm hôm ấy. Những lời này chứa đựng sức thuyết phục mãnh liệt khiến Giô-sép không thể cưỡng lại và ban cho chàng sức mạnh phi thường để chịu đựng và vượt qua một chặng đường còn lại của cuộc đời khi chấp nhận chương trình của Chúa cho cuộc đời của mình để làm theo ý muốn của Ngài. Đó là một hành trình thuộc linh đầy gian nan và nước mắt nhưng cũng đầy phước hạnh của thiên đàng. Mặc dầu Giô-sép không nói như Ma-ri: “Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền” (Lu-ca 1:38) nhưng hành động của chàng chính là tiếng nói ấy của tâm trí và tấm lòng đầu phục Chúa hoàn toàn.
Mỗi lần giáng sanh về chúng ta thường hay nhắc lại câu chuyện của Giô-sép không chỉ để học đòi gương đức tin và đức mến của ông trong hành trình theo Chúa của mỗi chúng ta. Nhưng điều quan trọng hơn là xin Chúa ban cho chúng ta đức tin và đức mến đối với Ngài như Giô-sép và dám can đảm để sống tận hiến cho Chúa, đôi khi đi ngược lại với những gì của thế gian đang sống. Đức Chúa Trời luôn luôn muốn dùng mỗi chúng ta để mang tình yêu và sự cứu rỗi của Ngài đến với những người chung quanh chúng ta. Vấn đề không phải là của Chùa bèn là của chúng ta: ai trong chúng ta dám chấp nhận vâng theo tiếng phán của Chúa và kế hoạch của Ngài cho cuộc đời của mình?
Cầu nguyện:
Trong mùa Giáng sanh này, xin Chúa cho con nghe được tiếng của Ngài, thấy được kế hoạch của Ngài cho cuộc đời của con, và ban cho lòng can đảm chấp nhận chương trình của Ngài cho cuộc đời của con. Amen!

Thursday, December 6, 2018

SỐNG TRONG HAI MỐI QUAN HỆ GIA ĐÌNH


Mác (Mark) 3:31-35
Mẹ và anh em Ngài đến, đứng ngoài sai kêu Ngài. Ðoàn dân vẫn ngồi chung quanh Ngài. Có kẻ thưa rằng: Nầy, mẹ và anh em thầy ở ngoài kia đương tìm thầy. Song Ngài phán cùng họ rằng: Ai là mẹ ta, ai là anh em ta? Ngài đưa mắt liếc những kẻ ngồi chung quanh mình mà phán rằng: Kìa là mẹ ta và anh em ta! Ai làm theo ý muốn Ðức Chúa Trời, nấy là anh em, chị em, và mẹ ta vậy.

Suy gẫm:
Mới đọc qua phân đoạn Kinh Thánh trên dễ khiến cho chúng ta suy nghĩ Chúa Jesus xem thường mối quan hệ giữa Ngài với mẹ và các em Ngài (cùng mẹ khác cha). Tuy nhiên, khi nghiên cứu bản văn Kinh Thánh (kinh văn) thì chúng ta sẽ thấy ý nghĩa chính xác của nó và đem chúng ta vào trong thế giới tư tưởng của Chúa Jesus.
Mác 3:20-30 cho chúng ta thấy sinh hoạt bận rộn trong chức vụ của Chúa Jesus và các môn đồ. Dường như Ngài không còn thì giờ riêng cho chính mình, đến nỗi các bạn hữu của Chúa Jesus nghĩ rằng Ngài đã bị mất trí khôn. Còn các thầy thông giáo ở thành Giê-ru-sa-lem xuống cho rằng Chúa Jesus bị quỷ Bê-ên-xê-bun ám và nhờ quyền phép chúa quỷ mà trừ quỷ. Điều này đã gây nên “tai tiếng” cho gia đình Chúa Jesus. Vì thế, bà Ma-ri và các em của Chúa đến tìm cách khuyên lơn Ngài một điều gì đó… Chúa Jesus trả lời cho những người đến tìm cách đem mối liên hệ của Ngài với gia đình để ngăn trở sự giảng dạy và chức vụ Ngài. Tại đây, Chúa Jesus minh định cách rõ ràng mối liên hệ của Ngài với gia đình và mối liên hệ của Ngài với Đức Chúa Trời. Trong cuộc sống trên đất, Ngài vẽ một lằn ranh rõ rệt trong mọi lãnh vực tình cảm để không vì đó làm vướng bận tâm trí và tấm lòng của Ngài khi phải đối diện với những thách thức của miệng người đời.
Khi còn sống trong gia đình của Ma-ri và Giô-sép, Chúa Jesus đặt mối quan hệ và trách nhiệm của mình đối với gia đình vào hàng ưu tiên và hết lòng làm trọn bổn phận của mình trong gia đình như một người con đối cha mẹ và một người anh cả đối với các em. Nhưng khi đi ra thi hành chức vụ, đó là một sự thay đổi trong việc đặt lại thứ tự ưu tiên của trách nhiệm và bổn phận của mình đối với gia đình và với Đức Chúa Trời. Đây là giai đoạn Ngài biết mình phải làm gì và bổn phận của mình đối với Cha của Ngài là gì. Vì vậy, khi những người bên ngoài tìm cách lôi kéo Ngài để đánh lạc hướng chức vụ thì Chúa Jesus đã lên tiếng minh định tầm quan trọng của mối liên hệ giữa mình với Đức Chúa Cha và xem việc làm theo ý muốn của Cha Ngài là sự bày tỏ của mối liên hệ đó. Sự vâng phục của Chúa Jesus trở thành mẫu mực cho tất cả những ai nhìn nhận mình là con cái Đức Chúa Trời và cũng đem người đó vào trong mối liên hệ với chính Chúa Jesus, Ngài là Anh cả và chúng ta là anh chị em với nhau trong gia đình Đức Chúa Trời.
Khi chưa tin nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa, mỗi chúng ta chỉ có một gia đình về phần thể xác trong trần gian này. Nhưng khi tin nhận Ngài, mỗi người chúng ta nhận cho mình thêm một mối quan hệ thuộc linh trong gia đình của Đức Chúa Trời (là Hội thánh) và chúng ta là anh chị em với nhau trong gia đình này. Gia đình thuộc thể chỉ tồn tại trong cuộc sống trên trần gian nhưng gia đình của Đức Chúa Trời tồn tại trong đời này và đời sau. Trong mối quan hệ trong gia đình thuộc thể, là Cơ đốc nhân, chúng ta phải tỏ lòng hiếu kính cha mẹ vì đó là điều răn của Chúa dạy. Nhưng trong mối quan hệ gia đình thuộc linh của Đức Chúa Trời, chúng ta phải vâng lời Đức Chúa Trời, Đấng dựng nên và cứu chuộc chúng ta qua ơn cứu độ của Chúa Jesus Christ; trong đó, có thể bao gồm cả mối quan hệ về phần xác của chúng ta. Đối với cha mẹ về phần xác sự vâng lời minh định mối liên hệ giữa chúng ta với họ thể nào, thì đối với Đức Chúa Trời sự vâng lời cũng thể hiện mối liên hệ giữa chúng ta với Ngài thể ấy. Có những hoàn cảnh trong đó Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải chọn lựa một trong hai mối quan hệ này. Khi đó, chúng ta phải biết rằng sự vâng lời Đức Chúa Trời là điều không thể nhân nhượng và thỏa hiệp được, vì nó là dấu hiệu chứng minh rằng chúng ta là con cái thật của Ngài.
Cầu nguyện:
Cảm tạ Chúa Jesus vì nhờ sự vâng lời của Ngài đối với Đức Chúa Cha mà con được trở thành con cái của Đức Chúa Trời và anh em với Chúa Jesus. Lạy Chúa, xin giúp cho luôn sống trong tinh thần vâng phục Đức Chúa Trời hơn tất cả mọi sự để bày tỏ con chính là con cái thật của Ngài giữa thế gian này. Amen!

Thursday, November 29, 2018

NHỮNG CON NGƯỜI THAY ĐỔI THẾ GIỚI

Mác (Mark) 3:13-19
Kế đó, Ðức Chúa Jêsus lên trên núi, đòi những người Ngài muốn, thì những người ấy đến kề Ngài. Ngài bèn lập mười hai người, gọi là sứ đồ, để ở cùng Ngài và sai đi giảng đạo, lại ban cho quyền phép đuổi quỉ. Nầy là mười hai sứ đồ Ngài đã lập: Si-môn, Ngài đặt tên là Phi -e-rơ; Gia-cơ con Xê-bê-đê, và Giăng em Gia-cơ, Ngài đặt tên hai người là Bô-a-nẹt, nghĩa là con trai của sấm sét; Anh-rê, Phi-líp, Ba-thê-lê-my, Ma-thi -ơ, Thô-ma, Gia-cơ con A-phê, Tha-đê, Si-môn là người Ca-na-an, và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, chính tên nầy đã phản Ngài.
Suy gẫm:
Một trong những công việc quan trọng của chức vụ trên đất của Chúa Jesus là chọn 12 sứ đồ, huấn luyện, và sai phái họ ra đi để mở mang vương quốc của Ngài. Chúa Jesus có cái nhìn chiến lược cho vương quốc của Ngài trên đất không phải chỉ trong hiện tại mà còn cả tương lai. Sự chọn lựa này không nhằm mục đích tạo ảnh hưởng cho cá nhân người được chọn nhưng cho sự phát triển của vương quốc của Ngài. Tiêu chuẩn và cách Chúa Jesus chọn hoàn toàn khác với tiêu chuẩn và cách con người chọn. Ý muốn của Chúa vượt trên trí hiểu biết của con người và không thể lý giải bằng bất cứ phương tiện nào của con người. Chúa Jesus muốn chọn những con người tầm thường để biến họ trở thành những con người phi thường. Vì thế, lòng kiêu ngạo hay ganh tị không bao giờ có chỗ thích hợp cho người được Chúa chọn.
Điểm nổi bật đầu tiên của số người Chúa chọn là sự vâng phục ý muốn của Ngài. Chúa Jesus “đòi những kẻ Ngài muốn” và họ “đến kề Ngài.” Đây là sự thử nghiệm cho những ai được Chúa chọn để xem thử mức độ đáp ứng của họ đối với Ngài ra sao. Dựa vào sự đáp ứng của họ, Chúa Jesus thiết lập họ trong chức vụ Chúa muốn ban cho họ: “sứ đồ.” Sứ đồ có nghĩa là người được sai phái mang theo mình một sứ vụ đặc biệt để thực hiện điều người sai phái mong muốn. Trước khi họ được sai đi, họ phải được kéo đến sống trong mối liên hệ thâm sâu và mật thiết với Ngài. Chính trong chỗ kín nhiệm này họ mới khám phá được ý muốn của Ngài cho chính họ và cho vương quốc đời đời của Ngài. Mối liên hệ giữa họ với Chúa sẽ quyết định sự thành công của chức vụ của họ. Người được Chúa chọn mà không dành thì giờ sống với Ngài thì rất nguy hiểm. Những con người đó sẽ xây dựng vương quốc cho mình thay vì cho Chúa; phục vụ theo ý muốn của mình thay vì của Chúa; phá hoại thay vì mang lại sự gây dựng cho vương quốc của Ngài.
Sứ vụ dành cho các môn đồ rất rõ ràng: giảng đạo. Cầu nguyện là sống trong mối tương giao thân mật với Chúa phải đi trước sự giảng đạo. Chính vì thế khi hội thánh trải qua cơn khủng hoảng thuộc linh, các sứ đồ minh định lại chức vụ của họ gồm tóm hai điều: cầu nguyện và giảng đạo (Công vụ 6:4). Khi Chúa Jesus sai các sứ đồ ra đi thì Ngài ban cho họ quyền phép để đuổi quỉ. Quyền phép này không ra từ con người của các sứ đồ nhưng ra từ Đấng sai phái họ. Chức vụ của các sứ đồ không chỉ phải đối diện với con người mà là đối diện với quyền lực của ma quỷ. Vì có nhu cầu cho chức vụ thì Chúa ban cho người Ngài sai phái những ân tứ cần thiết của chức vụ để hoàn thành cách mỹ mãn. Hơn hết, các sứ đồ phải học sống chung với nhau mặc dầu mỗi người mang trong mình một nét đặc thù khác nhau. Thành phần Chúa chọn đến từ các nẻo đường khác nhau của cuộc đời. Họ khác nhau từ tâm tính, bối cảnh gia đình, trình độ học vấn, sự nhận thức thuộc linh, và cho đến cả quan điểm chính trị đối với đế quốc La-mã v.v… Nhưng họ phải tập sống chung với nhau dưới sự hướng dẫn của Chúa Jesus là vị Thầy của mình. Chính nhóm người tầm thường và phức tạp này, khi bằng lòng dâng mình cho Chúa và đi theo sự hướng dẫn của Ngài thì được Ngài dùng để thay đổi cả thế giới cho Chúa.
Ngày nay Hội Thánh của Chúa khi muốn thay đổi và phát triển, chúng ta thường suy nghĩ đến chương trình thay vì con người, phương tiện và tài năng thay vì tấm lòng. Nhưng đối với Đức Chúa Trời, điều đầu tiên Ngài tìm kiếm và sử dụng chính là con người bằng lòng hoàn toàn ký thác chính mình cho Chúa để qua đó Ngài có thể làm nên những thay đổi đáng kinh ngạc. Chúa vẫn còn tìm kiếm những con người đó. Và chúng ta có bằng lòng để cho Ngài “đòi” chúng ta đến để sống với Ngài hay không?
Cầu nguyện
Lạy Chúa, xin cho con an tâm vì biết rằng Ngài sai phái thì chính Ngài sẽ ban cho con những ân ban cần thiết để phục vụ Chúa và Hội Thánh của Ngài cách kết quả. Amen!

Thursday, November 22, 2018

TINH THẦN CỦA LẼ TẠ ƠN

Phi-líp (Philippians) 1:3-6
3Mỗi khi tôi nhớ đến anh em, thì cảm tạ Đức Chúa Trời tôi, 4và mỗi khi cầu nguyện, tôi hằng cầu cho hết thảy anh em cách hớn hở, 5vì cớ từ buổi ban đầu cho đến bây giờ, anh em đã được thông công trong sự tấn tới của đạo Tin lành; 6tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽa làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ.

Suy gẫm:

Sứ đồ Phao-lô có một vài thói quen rất tốt đối với ngừoi khác mà chúng ta cần phải học nơi ông: 

1/ Nhớ đến những điều tốt lành của ngừoi khác và cảm tạ Chúa: "Mỗi khi tôi nhớ đến anh em, thì cảm tạ Đức Chúa Trời tôi" (c. 3). Thông thường chúng ta nhớ đến điều xấu của ngừoi khác làm đối với mình hay ai đó hơn là nhớ đến những điều tốt của họ. Đó là bản chất sa ngã của con ngừoi chúng ta. Nghĩ đến điều xấu của ngừoi khác là biểu hiện của lòng kiêu ngạo, ganh tị, và ganh ghét ẩn tàng trong chúng ta. Chẳng lẽ một ngừoi không có gì để cho chúng ta khen hay sao? Nếu chúng ta nhìn hay nghĩ đến một ngừoi nào đó mà chẳng thấy có gì để đáng cho chúng ta khen và cảm tạ Chúa về ngừoi đó thì rõ ràng rằng chúng ta quá kiêu ngạo và hợm mình. Chính lòng tự cao của chúng ta hay cay đắng trong chúng ta khiến cho mắt thuộc linh chúng ta bị mù loà. Xin Chúa cứu chúng ta ra khỏi căn bịnh nguy hiểm này.
2/ Cầu nguyện cho ngừoi khác cách hớn hở: "mỗi khi cầu nguyện, tôi hằng cầu cho hết thảy anh em cách hớn hở" (c. 4). Cầu nguyện cho ngừoi khác là một việc nhưng cầu nguyện cho họ cách hớn hở là một việc khác. Sứ đồ Phao-lô cho chúng ta bí quyết về việc làm này vì ông thấy được những điều Chúa làm trong đời sống của tín hữu mà ông đang hướng dẫn (c. 5-6). Chắc hẳn rằng khi cầu nguyện, sứ đồ Phao-lô tạ ơn Chúa về những điều Chúa làm trong đời sống của họ thì ông mới có thể vui mừng hớn hở được. Hơn thế nữa, đức tin nơi Chúa là Đấng chính ông đã trải nghiệm đưa Phao-lô vào trong một viễn ảnh tưoi đẹp về những gì Chúa sẽ làm cho tín hữu cho đến ngày Chúa Jesus trở lại. Nói cách khác, sứ đồ Phao-lô có một cái nhìn tích cực và lạc quan về đời sống đức tin của ngừoi khác mặc dầu trước mắt còn nhiều khó khăn trong đời sống theo Chúa của họ cũng như của chính ông.

Cầu xin Chúa là Đấng đã ban cho Phao lô tinh thần tốt đẹp này cũng ban cho chúng ta tinh thần đó trong suốt mùa Tạ Ơn. Amen!

Wednesday, November 14, 2018

NHÌN NGƯỜI, TA NGẪM LẠI MÌNH!

Lu-ca (Luke) 13:1-5 
Cũng lúc ấy, có mấy người ở đó thuật cho Ðức Chúa Jêsus nghe về việc Phi-lát giết mấy người Ga-li-lê, lấy huyết trộn lộn với của lễ họ. Ðức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Các ngươi tưởng mấy người đó vì chịu khốn nạn dường ấy, có tội lỗi trọng hơn mọi người Ga-li-lê khác sao? Ta nói cùng các ngươi, không phải; song nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy sẽ bị hư mất như vậy. Hay là mười tám người bị tháp Si-lô-ê ngã xuống đẻ chết kia, các ngươi tưởng họ có tội lỗi trọng hơn mọi kẻ khác ở thành Giê-ru-sa-lem sao? Ta nói cùng các ngươi, không phải; nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy cũng sẽ bị hư mất như vậy.
Suy gẫm:
Có lẽ khi những người kể lại cho Chúa Jesus nghe việc làm gian ác của vua Hê-rốt giết mấy người Ga-li-lê rồi lấy huyết họ trộn với của lễ, họ hàm ý rằng những người bị giết đã phạm tội vô cùng gian ác nên gặp phải điều vô cùng bất hạnh như thế! Câu chuyện về việc làm gian ác của vua Hê-rốt không được Kinh Thánh ký thuật nhưng sử gia Josephus đã ghi lại những câu chuyện tương tự như vậy. Khi đối diện với một điều bất hạnh, con người thường hay đưa ra lời phán xét dựa trên sự việc xảy ra liên quan đến luật nhân quả. Vì hậu quả của tội lỗi, tâm trí con người luôn luôn mang mặc cảm về tội lỗi và sự báo trả của Chúa. Chúa Jesus biết điều đó đang xâm chiếm tâm trí của con người. Cho nên Ngài đã đưa ra thêm một trường hợp nữa để chứng minh điều họ suy nghĩ là sai lầm: việc mười tám người bị tháp Si-lô-ê ngã xuống đè chết nghĩa là họ có tội trọng hơn những người trong thành Giê-ru-sa-lem sao? Chắc chắn là không vì Chúa Jesus không nhìn vấn đề như chúng ta thường nhìn hay bị ám ảnh. Chúa Jesus dùng điều này để nói lên những điểm quan trọng sau đây:
1/ Khi người khác gặp hoạn nạn mà mình không gặp không có nghĩa là chúng ta tốt hơn họ. Chúng ta thường hay đánh giá và so sánh chính mình với người khác qua những cảnh thảm kịch hay nỗi bất hạnh xảy đến với họ. Đây là điều hoàn toàn sai lầm và chỉ làm khổ nhau, đánh lừa chính mình, và làm tổn thương nhau. Ma quỷ không bao giờ muốn chúng ta nhìn vào thực trạng chính mình nhưng lại muốn chúng ta nhìn vào thảm trạng của người khác để tìm sự an ủi hay tự hào về chính bản thân mình. Chính bản tánh kiêu ngạo cố hữu trong con người khiến chúng ta có cái nhìn sai lầm về người khác.
2/ Ý muốn của Đức Chúa Trời vượt quá sự hiểu biết của chúng ta. Đức Chúa Trời là Đấng vô hạn và cầm quyền tể trị mọi sự. Vì thế, những điều Chúa cho phép xảy đến với người khác, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có thể hiểu biết đầy đủ để phán đoán hay phê phán. Bổn phận của chúng ta không phải là phân tích những gì người khác gặp nhưng an ủi và khích lệ nhau trong những hoạn nạn họ gặp. Đó là thái độ sống đúng đắn của Cơ đốc nhân.
3/ Nhìn người, ngẫm lại mình. Khi Chúa cho phép một điều nào đó xảy đến với người khác thì qua đó Ngài muốn nhắn gửi cho chính chúng ta một sứ điệp nào đó. Trong trường hợp việc xảy đến trong câu chuyện những người Ga-li-lê và tháp Si-lô-ê, Chúa muốn dùng để nhắc nhở mọi người về sự ăn năn tội lỗi của chính mình chứ không phải đoán xét người khác. Ăn năn là điều tất cả mỗi người cần phải có. Khi Chúa cho phép một điều nào xảy đến cho người khác hay cho chính chúng ta, Ngài muốn chúng ta ăn năn điều gì đó trong đời sống của chính mình hơn là phân tích và xoi mói lầm lỗi người khác để chỉ trích hay phê bình.
Cầu nguyện
Lạy Chúa, xin cho con sự nhạy cảm với tội lỗi của chính mình để ăn năn và với sự đau khổ của người khác để an ủi họ. Amen!

Thursday, November 8, 2018

NẾP SỐNG CƠ ĐỐC QUÂN BÌNH

Mác (Mark) 2:23-28
Nhằm ngày Sa-bát, Ðức Chúa Jêsus đi qua đồng lúa mì; đang đi đường, môn đồ Ngài bứt bông lúa mì. Các người Pha-ri-si bèn nói cùng Ngài rằng: Coi kìa, sao môn đồ thầy làm điều không nên làm trong ngày Sa-bát? Ngài đáp rằng: Các ngươi chưa đọc đến sự vua Ða-vít làm trong khi vua cùng những người đi theo bị túng đói hay sao? Thể nào trong đời A-bi-tha làm thầy cả thượng phẩm, vua ấy vào đến Ðức Chúa Trời, ăn bánh bày ra, lại cũng cho những người đi theo ăn nữa, dầu bánh ấy chỉ những thầy tế lễ mới được phép ăn thôi? Ðoạn, Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người. Vậy thì Con người cũng làm chủ ngày Sa-bát.
Suy gẫm:
Trong câu chuyện này Chúa Jesus đề cập đến luật được ăn sản vật trên đồng lúa mì của người lân cận khi đói trong Phục-Truyền 23:25, nhưng phải tránh ngày Sa-bát (Xuất Ai-cập ký 31:14-15). Rồi Chúa Jesus lại đưa ra một khía cạnh khác của vấn đề này bằng cách trích dẫn câu chuyện của Đa-vít trong lúc chạy trốn khỏi nanh vuốt độc ác của vua Sau-lơ, ông đã được thầy tế lễ thượng phẩm A-bi-tha cho ăn bánh trần thiết trong đền thờ, là bánh chỉ dành cho thầy tế lễ ăn mà thôi (I Sa-mu-ên 21:1-6). Như thế, có phải thầy tế lễ A-bi-tha vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời không? Chắc chắn là không vì ông cũng đã tôn trọng sự thánh khiết của việc ăn bánh thánh (I Sa-mu-ên 21:4-6). Chúa Jesus giải thích tại sao hành động của thầy tế lễ A-bi-tha được chấp nhận và dùng đó để biện minh cho việc làm của các môn đồ của Ngài. Qua đó, Chúa Jesus chỉ trích lối giải kinh và ứng dụng giáo điều của người Pha-ri-si, nhằm cố bảo vệ cho luật pháp mà thiếu mất tình yêu và ân sủng của Chúa. Mục đích Chúa thiết lập luật pháp và ngày Sa-bát để phục vụ cho nhu cầu của con người chứ không phải để nhốt con người trong cảnh khó nghèo.
Bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời được phản ánh trong luật pháp. Đức Chúa Trời cũng là tình yêu. Cốt lõi của việc thi hành luật pháp là bày tỏ tình yêu của con người đối với Đức Chúa Trời và với người khác nhưng sự thánh khiết của Chúa phải được bảo toàn. Người Pha-ri-si dùng luật pháp để bày tỏ bản chất độc ác và kiêu ngạo của mình đối với người khác dưới danh nghĩa là làm “vừa lòng Đức Chúa Trời” và bảo vệ cho “chính nghĩa” của Ngài. Khi nào con người sử dụng luật pháp mà thiếu mất tình yêu và thánh khiết, khi đó luật pháp tợ như một bộ xương khô, chẳng khác gì một miếng móp (sponge) không thấm nước chỉ tạo nên những vết trày trụa trên tấm lòng con người, chỉ gây tổn thương cho Đức Chúa Trời và gây đau đớn cho Hội Thánh. Chính tình yêu và sự thánh khiết làm cho công việc và lời nói của Cơ đốc nhân sống theo tiêu chuẩn Lời Chúa trở nên vừa thẳng thắn nhưng yêu thương để tẩy sạch những vết nhơ và mang lại phước hạnh cho người cần được gây dựng.
Sứ đồ Giăng nói Chúa Jesus là “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn [grace] và lẽ thật [truth]” (Giăng 1:14a) và “Luật pháp [law] đã ban cho bởi Môi-se, còn ơn [grace] và lẽ thật bởi Đức Chúa Jesus Christ mà đến” (Giăng 1:17). Trong thời gian thi hành chức vụ trên đất, Chúa Jesus có thái độ và lời nói rất thẳng thắn và chẳng bao giờ sợ làm mất lòng thành phần thông giáo và Pha-ri-si vì bản chất giả hình và gian manh của họ. Họ chỉ áp dụng luật pháp khi nào có lợi cho chính họ. Và Chúa Jesus cũng đã dọn sạch đền thờ Giê-ru-sa-lem hai lần để bảo vệ sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Dẫu vậy, Ngài rất yêu thương và nhân từ đối với thành phần tội lỗi nhưng biết hối cải như người đàn bà xấu nết, Xa-chê v.v…
Là con người sa ngã, chúng ta dễ bị rơi vào một trong hai thái cực sau đây:
(a) Chỉ thích nghe những lời ngọt ngào, an ủi, nhỏ nhẹ, yêu thương nhưng lại không tôn trọng sự thánh khiết, không nhìn nhận và muốn lìa bỏ nếp sống tội lỗi của mình qua trở lại với Chúa. Người sống trong tội lỗi và mặc cảm về tội lỗi quá khứ của mình thường hay muốn nói đến tình yêu và sự tha thứ của Chúa. Thật ra, đó là phản ứng tâm lý nhằm che đậy và trấn an lương tâm mắc tội khi đối diện với Lời chân thật của Chúa;
(b) Chỉ muốn dùng luật lệ, nguyên tắc, luật pháp nhằm đạt được mục đích cá nhân, chẳng nghĩ đến việc làm sáng danh Chúa, mang lại sự gây dựng cho dân sự của Chúa, và chinh phục linh hồn tội nhân trở về với Ngài.
Chỉ khi nào chúng ta bằng lòng để Chúa Jesus làm chủ đời sống mới có thể sống quân bình giữa luật pháp và ân sủng. Đó là lý do tại sao Chúa Jesus đã đến trong trần gian này. Cầu xin Chúa Jesus sống và làm chủ đời sống chúng ta để bày tỏ Đấng mà trong Ngài có cả luật pháp [sự công chính và sự thánh khiết] và ân sủng [yêu thương] trong và qua chúng ta mỗi ngày.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa yêu thương, xin cứu cho khỏi trở thành chuyên gia của luật pháp nhưng là người được Chúa Jesus chiếm hữu, để sống bày tỏ ân sủng và lẽ thật của Ngài đối với mọi người chung quanh qua lời nói và việc làm mỗi ngày. Amen!

Wednesday, October 31, 2018

LẤY TẠM THỜI ĐỔI VĨNH CỬU

2 Cô-rinh-tô (Corinthians) 9:6-9
Hãy biết rõ điều đó, hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều. Mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra, không phải phàn nàn hay vì ép uổng; vì Ðức Chúa Trời yêu kẻ thí của cách vui lòng. Ðức Chúa Trời có quyền ban cho anh em đủ mọi thứ ơn đầy dẫy, hầu cho anh em hằng đủ điều cần dùng trong mọi sự, lại còn có rời rộng nữa để làm các thứ việc lành, như có chép rằng: “Người đã rải ra, đã thí cho kẻ nghèo; Sự công bình của người còn đời đời.”
Suy gẫm
Trên một phương diện, nguyên tắc gieo và gặt chẳng khác gì nguyên tắc hoạt động của một chiếc máy rút tiền ATM. Nếu chúng ta có gửi tiền vào (deposit) bao nhiêu thì sẽ rút ra (withdraw) được bấy nhiêu. Nguyên tắc này không những đúng trong lãnh vực vật lý và sinh học nhưng cũng đúng trong các lãnh vực khác của cuộc sống, bao gồm cả phạm trù tâm linh. Đây là điều rất mầu nhiệm mà Đức Chúa Trời đặt để trong vũ trụ vạn vật do Ngài dựng nên. Hơn thế nữa, nguyên tắc này không những đúng trong cõi hiện tại tạm bợ nhưng cũng đúng trong cả cõi đời đời. Trong nguyên tắc này hàm chứa một sợi dây vô hình nối liền giữa những gì chúng ta làm trong hiện tại với tác động hay hậu quả của hành động đó trong cõi đời đời. Người tín hữu khi dâng hiến bất cứ điều nào thì cũng cần ý thức rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng tiếp nhận chúng, chứ không phải con người. Những gì chúng ta dâng hiến bằng vật chất trên trần gian này sẽ được chuyển đổi thành những giá trị của thiên đàng chẳng bao giờ bị mai một hay tiêu hao. Những gì chúng ta dâng hiến cho Đức Chúa Trời chẳng bao giờ bị xem là lãng phí. Vì thế sự dâng hiến là một cuộc đầu tư thuộc linh thật sự, mang đến cho chúng ta những phước hạnh trong hiện tại và cả cõi tương lai. Ngược lại, những hành động ích kỷ và bủn xỉn đối với Đức Chúa Trời thì cũng sẽ thấy được kết quả của nó trong cõi đời đời. Có người ưu tư muốn dâng hiến và phục vụ Chúa nhưng chẳng có gì để làm điều mình muốn. Sứ đồ Phao-lô chia sẻ kinh nghiệm của chính mình rằng Đức Chúa Trời là Đấng giàu có, Ngài có thể ban cho những ai có tấm lòng mong muốn dâng hiến để phục vụ Chúa thì Ngài sẽ ban cho người đó chẳng những đầy đủ những gì người đó cần dùng hằng ngày nhưng còn dư thừa để làm những việc lành.
Tuy nhiên, sứ đồ Phao-lô đưa ra một điều kiện vô cùng quan trọng để nguyên tắc gieo và gặt có thể hoạt động đúng. Đó là những gì chúng ta dâng hiến phải được thực hiện với tấm lòng tự nguyện và vui mừng. Người tin Chúa phải nhận thức sâu xa rằng bên sau hành động dâng hiến của mình phải là tấm lòng chân thật và biết ơn Chúa. Đức Thánh Linh hướng dẫn mỗi chúng ta biết phải dâng hiến bao nhiêu cho phải lẽ và xứng đáng với sự ban cho phỉ phu của Ngài trên đời sống của chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta làm với tấm lòng tự nguyện và vui mừng thì khi đó Đức Chúa Trời mới thật sự chúc phước cho chúng ta và nguyên tắc gieo và gặt của Đức Chúa Trời bắt đầu hành động. Có những người dâng nhiều mà chẳng được phước. Có người dâng ít mà lại được phước. Sự khác biệt không phải ở của dâng bèn là ở tấm lòng yêu mến và biết ơn cách chân thành (Mác 12:41-44). Dâng hiến của cải vật chất là một trong những bằng chứng của sự thử nghiệm lòng yêu mến và biết ơn của người theo Chúa. Chúa Jesus phán: “Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó” (Ma-thi-ơ 6:21).
Cầu nguyện
Lạy Chúa, xin cảm động lòng con luôn biết ơn Ngài về những gì Ngài ban cho và biểu lộ bằng hành động dâng hiến những gì con có cho Ngài. Amen!

Thursday, October 25, 2018

SỐNG TRONG NGÀY SAU CÙNG

Giu-đe (Jude) 1:20-23
Hỡi kẻ rất yêu dấu, về phần anh em, hãy tự lập lấy trên nền đức tin rất thánh của mình, và nhơn Ðức Thánh Linh mà cầu nguyện, hãy giữ mình trong sự yêu mến Ðức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời. Hãy trách phạt những kẻ nầy là kẻ trù trừ, hãy cứu vớt những kẻ kia, rút họ ra khỏi lửa; còn đối với kẻ khác, hãy có lòng thương lẫn với sợ, ghét cả đến cái áo bị xác thịt làm ô uế.
Suy gẫm:
Thư tín Giu-đe mang cùng một sắc thái với thư 2 Phi-e-rơ, nhằm mục đích nhắc nhở Cơ đốc nhân phải đứng vững trong lẽ thật cho đến cuối cùng, chống trả các giáo sư giả đang tìm cách reo rắc giáo lý giả hiệu trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Giu-đe để lại những lời quý báu này cho tín hữu ngày xưa cũng như chúng ta ngày nay đang sống trong giờ phút cuối cùng của lịch sử nhân loại. Sau khi giải luận về tình trạng đạo lý suy đồi của Hội Thánh Đức Chúa Trời trong ngày sau cùng, Giu-đe xoay qua tín hữu và trao cho họ những lời khuyên rất hữu ích liên quan đến niềm tin Cơ đốc.
Trước hết, Giu-đe khuyên tín hữu cần phải đứng vững trong niềm tin và đời sống đạo chân chính của mình. Giu-đe nói, “Hãy tự lập lấy trên nền đức tin rất thánh của mình;” điều này có nghĩa rằng vấn đề niềm tin là vấn đề riêng tư, mỗi người phải tự quyết định và chọn lấy cho mình một hướng đi. Tuy nhiên, tín hữu không thể nào sống còn trong đức tin của mình nếu không có sự giúp đỡ của Chúa Thánh Linh và sự thương xót của Đức Chúa Trời: “… nhơn Ðức Thánh Linh mà cầu nguyện, hãy giữ mình trong sự yêu mến Ðức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời.” Sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta trong Chúa Jesus Christ không phải chỉ có một chiều, bèn là hai chiều, đòi hỏi sự tham dự và quyết định của con người lẫn Đức Chúa Trời. Chính vì thế Giu-đe khuyên tín hữu phải giữ mình trong sự tin kính Chúa và trông đợi sự thương xót của Đức Chúa Jesus cho được sự sống đời đời. Đức Chúa Trời chẳng có thể giữ tín hữu trong sự tin kính Chúa trong khi chính họ lại không muốn điều đó. Chúa chỉ giúp những ai trước hết phải biết giúp chính mình và khao khát Chúa giữ cho mình. Lòng tin kính (godliness) là món quà Chúa ban cho người tin Chúa vì nó là sự san sẻ bản tánh thánh khiết của Ngài cho chúng ta. Nếu chúng ta nhận thức rằng lòng tin kính do Ngài ban cho thì chúng ta sẽ hết lòng gìn giữ và bảo vệ nó. Lòng tin kính là sự bảo toàn (safeguard) của đời sống chúng ta.
Sau khi đã lo cho chính mình, tín hữu phải biết lo cho nhau. Chính mình được cứu thì cũng phải mong ước nhiều người được cứu như mình. Giu-đe nói: “Hãy trách phạt những kẻ nầy là kẻ trù trừ, hãy cứu vớt những kẻ kia, rút họ ra khỏi lửa; còn đối với kẻ khác, hãy có lòng thương lẫn với sợ, ghét cả đến cái áo bị xác thịt làm ô uế.” Lòng thương xót là điều cần có trong cộng đồng tín hữu Cơ đốc vì mỗi người là tạo vật yếu đuối cần được nâng đỡ. Ra tay cứu vớt những người đang đứng bờ vực thẩm của hỏa ngục vì họ bị lôi cuốn vào trong nếp sống tội lỗi như người thế gian và giáo lý sai lầm. Nhưng khi tín hữu giúp đỡ nhau cần phải có một thái độ rõ ràng đối với tội lỗi: ghét tội lỗi nhưng yêu thương tội nhân như Chúa Jesus. “Ghét cả đến cái áo bị xác thịt làm ô uế” có nghĩa là thái độ cương quyết loại trừ tội lỗi và bất cứ hình thức hay biểu hiện của tội lỗi. Nhưng phải yêu thương kẻ yếu đuối tội lỗi vì mình cũng là tội nhân giống như họ. Nếu Chúa không thương xót thì chính chúng ta cũng sẽ rơi vào tình trạng giống như họ. Tuy nhiên, vì chính mình đã được cứu rồi, được mở mắt và được đem ra khỏi thế giới tối tăm tội lỗi đáng gớm ghiếc, chúng ta cần phải có một thái độ cương quyết và dứt khoát đối với tội lỗi. Khi tín hữu biết gớm tội lỗi thì mới có thể tránh xa tội lỗi.
Tội lỗi là điều vô cùng nghiêm trọng và hệ trọng đối với Đức Chúa Trời. Sự giáng sanh của Chúa Jesus là sự bày tỏ thái độ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi. Không có điều nào trong thế giới của loài người có thể giải quyết vấn đề tội lỗi của nhân loại nên Con của Ngài phải đến trần gian này để chết thay cho con người. Do đó, người kinh nghiệm sự đền tội của Chúa Jess và sự tha thứ của Đức Chúa Trời sẽ có thái độ rất dứt khoát và mạnh mẽ đối với tội lỗi. Như điều Chúa Jesus phán: Vậy nếu con mắt bên hữu xui cho ngươi phạm tội, thì hãy móc mà quăng nó cho xa ngươi đi; vì thà chịu một phần thân thể ngươi phải hư, còn hơn là cả thân thể bị ném vào địa ngục. Lại nếu tay hữu xui cho ngươi phạm tội, thì hãy chặt mà liệng nó cho xa ngươi đi; vì thà chịu một phần thân thể ngươi phải hư, còn hơn là cả thân thể vào địa ngục” (Ma-thi-ơ 5:29-30). Trong Mùa Tạ Ơn và Giáng Sanh năm nay chúng ta cùng nhau kỷ niệm về sự đến của Con Đức Chúa Trời với tấm lòng biết ơn Ngài vì nếu Ngài không đến thì chúng ta chẳng bao giờ được giải cứu tội lỗi. Nhưng đồng thời, sự ra đời của Chúa Jesus cũng nhắc nhở chúng ta phải có thái độ gớm ghê tội lỗi và dứt khoát với tội lỗi trong bất cứ hình thức nào. Xin Chúa giúp chúng ta sống và gìn giữ sự thánh khiết và tin kính cho đến ngày Chúa Jesus trở lại, tức sự đến lần thứ hai của Ngài.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin giúp cho ngày càng hiểu biết về lẽ thật và niềm tin của con hầu có thể đứng vững trong những thách thức của cuộc đời, và xin giúp con yêu thương và giúp đỡ người khác theo Ngài. Amen!

Wednesday, October 17, 2018

AI THẬT SỰ CẦN CHÚA?

Mác (Mark) 2:14-17
Ngài vừa đi qua thấy Lê-vi, con A-phê, đương ngồi tại sở thâu thuế, thì phán cùng người rằng: Hãy theo ta. Người đứng dậy theo Ngài. Ðức Chúa Jêsus đương ngồi ăn tại nhà Lê-vi, có nhiều kẻ thâu thuế và người có tội đồng bàn với Ngài và môn đồ Ngài; vì trong bọn đó có nhiều kẻ theo Ngài rồi. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si thấy Ngài ăn với người thâu thuế và kẻ phạm tội, thì nói với môn đồ Ngài rằng: Người cùng ăn với kẻ thâu thuế và người có tội sao! Ðức Chúa Jêsus nghe vậy, bèn phán cùng họ rằng: Chẳng phải kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; ta chẳng phải đến gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội.
Suy gẫm:
Khi bắt đầu thi hành chức vụ Chúa Jesus chọn một số người huấn luyện để làm việc chung với mình. Ngài không chọn những con người tài giỏi hay đạo đức như giới thông giáo và Pha-ri-si… nhưng là những con người tầm thường trong các nẻo đường của cuộc đời như: Giăng, Gia-cơ, Phi-e-rơ, Anh-rê; và thậm chí là ngay cả những người đang sống trong bóng đêm dài của tội lỗi như Ma-thi-ơ, kẻ thâu thuế được liệt kê chung với phường điếm đĩ trong xã hội thời bấy giờ. Nhưng tại sao việc làm của Chúa Jesus luôn luôn là mục tiêu tấn công và chỉ trích của giới thông giáo và Pha-ri-si? Có ít nhất là ba lý do:
Lòng kiêu ngạo hay mặc cảm đã khiến cho giới thông giáo và Pha-ri-si cảm thấy khó chịu và lên tiếng chỉ trích việc làm của Chúa Jesus. Tinh thần chỉ trích Chúa Jesus của họ đôi khi là biểu hiện của lòng kiêu ngạo ẩn tàng bên trong hay mặc cảm vì cảm thấy mình thua kém Ngài. Hay cũng có thể đó là sự bực tức bị dồn nén trong lòng nay bộc phát cách vô thức. Khi phê phán, lên án việc làm của Chúa Jesus, họ tự đặt họ trong một vị thế cao hơn Ngài. Ngược lại, cũng có thể khi tố cáo và phê phán Chúa Jesus ngụ ý rằng họ không có khả năng làm được việc như Ngài đã làm. Nói cách khác, khi cảm thấy bị mất mát, thua thiệt một cái gì đó đáng lý họ phải có, thì họ lại lên án hay chỉ trích việc người khác đang làm. Thông thường, những người phê phán việc làm của người khác là người ít khi nào làm nên được tích sự gì. Có thể nói, phê phán và chỉ trích người khác là loại “vũ khí” rẻ tiền nhất và hèn yếu nhất để tự bảo vệ thể diện hay sỉ diện của mình!
Sự ghen tức và lòng ganh tị trong con người là con đẻ của lòng kiêu ngạo, đã khiến cho giới thông giáo và Pha-ri-si lên án việc làm của Chúa Jesus. Họ tự hỏi, “Tại sao tôi tài giỏi và tốt như thế này mà không được Ngài chọn? Trong khi Ngài lại đi chọn những con người tội lỗi xấu xa như thế?” Vô tình lòng ghen tức và ganh tị với người khác là dấu hiệu cho thấy họ vô giá trị còn người khác lại giá trị hơn họ; hay ngược lại, thấy mình có giá trị hơn người khác! Vô tình hay cố ý, lòng ganh tị hay ghen tức phơi bày con người thật của chính mình và người mình ganh tị.
Sự hiểu Kinh Thánh lệch lạc và quan điểm thần học hẹp hòi, khô cứng đã giết chết đi lòng trắc ẩn của giới thông giáo và Pha-ri-si. Họ muốn bảo vệ cho “chân lý” nhưng lại là những người đi làm hại cội nguồn của “chân lý” của Đức Chúa Trời: lòng yêu thương của Ngài đối với tội nhân. Lòng kiêu ngạo đã biến họ từ tội nhân trở thành thánh nhân trong con mắt của chính họ! Vì thế, họ chẳng còn thấy mình là một người cần Chúa Jesus như những con người tội lỗi khác. Họ không hiểu rằng Chúa Jesus đến để tìm và cứu những kẻ có tội (Lu-ca 19:10). Chỉ những kẻ nhận biết mình có tội mới thật sự cần Chúa Jesus. Chính họ cần Chúa Jesus nên Ngài đã đến trần gian này cho chính họ. Sự nhận biết mình là tội nhân bao giờ cũng sanh sản ra lòng biết ơn. Mỗi năm Mùa Tạ Ơn và Giáng Sanh lại trở về để nhắc chúng ta nhớ lại rằng chúng ta là tội nhân và chúng ta cần Ngài là dường nào! Nguyện Chúa cho chúng ta có thể nói như sứ đồ Phao-lô: Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu” (1 Ti-mô-thê 1:15).
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cứu con khỏi lòng kiêu ngạo, ganh tị với người khác và những suy nghĩ sai lầm về chính Ngài. Xin tạo nên trong con sự đói khát chính Ngài mỗi ngày sâu xa và mãnh liệt hơn. Amen!

Tuesday, October 9, 2018

THẨM QUYỀN TRONG LỜI CHÚA PHÁN

Mác (Mark) 2:7-12
Vả, có mấy thầy thông giáo ngồi đó, nghĩ thầm rằng: Sao người nầy nói như vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài mình Ðức Chúa Trời, còn có ai tha tội được chăng? Ðức Chúa Jêsus trong trí đã tự hiểu họ nghĩ như vậy, tức thì phán rằng: Sao các ngươi bàn luận trong lòng thể ấy? Nay bảo kẻ bại rằng: Tội ngươi đã được tha; hay là bảo người rằng: Hãy đứng dậy vác giường mà đi; hai điều ấy điều nào dễ hơn? Vả, để cho các ngươi biết rằng Con Người ở thế gian có quyền tha tội, thì Ngài phán cùng kẻ bại rằng: Ta biểu ngươi, hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà. Kẻ bại đứng dậy, tức thì vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy làm lạ, ngợi khen Ðức Chúa Trời, mà rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể nầy.

Suy gẫm
Chúa Jesus thường hay tạo nên những điều dễ khiến cho con người có phản ứng mạnh, để rồi qua đó Ngài dẫn họ đến một sự hiểu biết mới mẻ về Ngài. Tại đây, Chúa Jesus dùng việc chữa lành người bại để bày tỏ một lẽ thật vô cùng quan trọng về chính Ngài: Con Người (Son of Man) ở thế gian có quyền tha tội. Điều này có nghĩa Con Người chính là Đức Chúa Trời. Chúa Jesus mang đến cho các thầy thông giáo một sự hiểu biết mới mẻ về Đức Chúa Trời mà từ trước tới nay họ chưa bao giờ suy nghĩ đến: Đức Chúa Trời trở thành người. Trong quan niệm người Do-thái, tội lỗi liên quan đến bịnh tật. Bị bịnh có nghĩa là có tội. Bịnh tật đuợc chữa lành là bằng chứng tội lỗi được tha thứ. Dẫu rằng quan niệm này không phải lúc nào cũng đúng cũng như được Chúa Jesus chấp nhận, nhưng Ngài đã dùng ngay điều họ suy nghĩ để bày tỏ về chính Ngài hầu thay đổi cả một quan niệm và tư tưởng sai lạc ẩn tàng trong họ. Trong phần trên của câu chuyện, vì Chúa Jesus “thấy” đức tin của những người mang người bại đến nên Ngài đã tuyên bố sự tha thứ và chữa lành cho người bại. Tại đây, Chúa Jesus “biết” những suy nghĩ của các thầy thông giáo mà tuyên bố Ngài chính là Đức Chúa Trời.
Lời nói hay tiếng phán của Chúa Jesus trong đó hàm chứa một thẩm quyền mang đến sự thay đổi tình trạng bất ổn của con người, điều chỉnh tư tưởng sai lầm, và mở ra một chân trời mới trong sự hiểu biết về Đức Chúa Trời. Thẩm quyền này không nằm trong ngôn ngữ nhưng nằm trong bản thể và yếu tính của Ngài. Nếu Chúa Jesus không phải là Đức Chúa Trời thì chắc chắn rằng những lời nói hay tuyên bố của Ngài chẳng tạo nên được bất cứ một sự thay đổi nào cho con người. Đến phiên các môn đồ của Chúa Jesus, khi công bố sự chữa lành cho người què tại cửa đẹp của đền thờ, thì họ phải “nhân danh Jesus ở Na-xa-rét” vì chính họ không phải là Đức Chúa Trời (Công vụ 3:6). Điều này cho thấy không phải lúc nào những nỗi bất hạnh của con người cũng là điều tuyệt vọng và không có lối thoát cho kẻ đặt niềm tin nơi Ngài.
Chỉ một mình Chúa Jesus có thể thay đổi mọi sự và đem con người đến một sự mặc khải mới mẻ về chính Ngài khi họ nghe được tiếng phán của Ngài. Tiếng phán hay lời Chúa Jesus nói có sức mạnh thay đổi tình huống và hiện trạng bất hạnh của con người, lấp đầy khoảng trống của sự thiếu hiểu biết về Ngài trong tâm trí con người mà đã một lần bị hư hoại và lầm lạc vì tội lỗi gây ra. Vấn đề là làm thế nào chúng ta có thể nghe được tiếng phán của Ngài trong những tình huống đen tối và nghiệt ngã hơn hết của đời sống? Nếu chúng ta không sống gần Chúa và chuyên tâm học hỏi Lời của Ngài thì khó có thể nghe được tiếng của Chúa trong những lúc có cần trong đời sống.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Jesus, xin cho con nghe được tiếng phán hay lời nói của chính Ngài trong những lúc buồn thảm và thất vọng nhất của cuộc đời con, vì con tin rằng chỉ có tiếng phán đó mới có thể mang đến sự thay đổi mọi sự và đem vào trong con sự hiểu biết mới mẻ về chính Ngài. Amen!

Thursday, September 27, 2018

ĐỨC TIN CHÂN THẬT

Mác (Mark) 2:1-5
Khỏi một vài ngày, Ðức Chúa Jêsus trở lại thành Ca-bê-na-um, và chúng nghe nói Ngài ở trong nhà. Họ họp lại tại đó đông lắm, đến nỗi trước cửa cũng không còn chỗ trống; Ngài giảng đạo cho họ nghe. Bấy giờ có mấy kẻ đem tới cho Ngài một người đau bại, có bốn người khiêng. Nhưng, vì đông người, không lại gần Ngài được, nên dở mái nhà ngay chỗ Ngài ngồi, rồi do lỗ đó dòng giường người bại xuống. Ðức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán với kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha.
Suy gẫm:
Sau khi Chúa Jesus thi hành chức vụ trong cõi Ga-li-lê, Ngài quay trở lại thành Ca-bê-na-um là trung tâm quan trọng cho chức vụ của Ngài trong vùng. Tại đó, Chúa Jesus đối diện với một tình huống mới của chức vụ. Câu chuyện Chúa chữa người bại được thánh Mác ghi lại nhằm mục đích cho thấy nơi nào có đức tin chân chính thì nơi đó có phép lạ xảy ra. Tuy nhiên, để có thể thấy được quyền phép của Đức Chúa Trời tỏ ra qua chức vụ của Chúa Jesus khi đối diện với những con người có đức tin, đức tin này phải chứa đựng một số đặc tính vô cùng quan trọng sau đây:
1/ Đức tin thật phải xuất phát từ tình yêu và biểu hiện bằng hành động. Điều đầu tiên mà chúng ta có thể nhận ra rất rõ ràng là bốn người mang người bại đến với Chúa Jesus là những người có đức tin nơi Chúa Jesus và có tình yêu đối với người bạn bị bại của mình. Tất cả mọi sự xuất phát từ khởi điểm quan trọng này. Không có tình yêu thì chẳng bao giờ bốn người bạn của người bại sẵn sàng trả tất cả mọi giá để mang người bại đến với Chúa Jesus. Đức tin thật bao giờ cũng xuất phát từ tình yêu và bày tỏ bằng hành động cụ thể.
2/ Đức tin thật nẩy sanh sáng kiến bày tỏ sự phong phú của đức tin. Bốn người bạn của người bại đã tìm đủ mọi cách để dòng người bại xuống ngay trước mặt Chúa Jesus để được Ngài chữa lành. Đám đông không phải là trở lực to lớn đối với họ. Mái nhà cũng không phải là điều có thể ngăn cản quyết tâm của họ. Hoàn cảnh con người chung quanh, khó khăn mang tính cách khách quan không phải là những trở lực đáng kể cho những ai có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời. Khi đó, chính Thần của Chúa sẽ ban cho họ sự khôn ngoan và sự sáng tạo cùng với tinh thần “can đảm thuộc linh” để có chạm được quyền năng của Ngài.
3/ Đức tin thật đòi hỏi sự hiệp một. Tinh thần hiệp một của bốn người bạn của người bại mang lại kết quả vô cùng tốt đẹp. Nhưng chắc chắn rằng trong bốn người khiêng người bại có một người điều khiển và những người khác đi theo sự hướng dẫn của người đó thì công việc mới tốt đẹp. Đây chính là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc làm của những người mang người bại đến với Chúa Jesus. Có tấm lòng yêu thương và có sáng kiến cũng chưa đủ, cần phải có sự hiệp nhất trong những sáng kiến để đạt được mục đích. Có tình thương, có sáng kiến, có lòng nhiệt thành mà không đặt mình dưới sự lãnh đạo của người khác thì cũng không có sự hiệp nhất và công việc được hoàn tất cách tốt đẹp và vinh hiển danh Chúa.
Kết quả của đức tin chân chính của họ là gì? Kinh Thánh chép: “Ðức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán với kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha.” Đức tin nằm ẩn tàng bên trong nhưng được biểu hiện ra bằng hành động bên ngoài, gọi là đức tin sống. Chúa Jesus nhìn thấy loại đức tin đó cả bên trong bản chất lẫn hành động biểu lộ bên ngoài của nó, và Ngài bao gồm cả đức tin của người bại chung với các bạn của ông. Vì thế, Ngài đã phán về sự tha thứ và chữa lành cho người bại.
Cầu nguyện
Lạy Chúa, xin ban cho con đức tin chân thật như những người bạn của người bại hầu con có thể thấy được những điều kỳ diệu Ngài làm trong đời sống của biết bao nhiêu người đang cần Ngài. Amen!

Thursday, September 20, 2018

SỨC MẠNH CỦA CƠ ĐỐC NHÂN

2 Cô-rinh-tô (Corinthians) 2:14-17
Song tạ ơn Ðức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Ðấng Christ luôn luôn, và bởi chúng tôi, Ngài rải mùi thơm về sự nhận biết Ngài khắp chốn! Vì chúng tôi ở trước mặt Ðức Chúa Trời là mùi thơm của Ðấng Christ, ở giữa kẻ được cứu, và ở giữa kẻ bị hư mất; cho kẻ nầy, mùi của sự chết làm cho chết; cho kẻ kia, mùi của sự sống làm cho sống. Ai xứng đáng cho những sự nầy? Vả, chúng tôi chẳng giả mạo lời của Ðức Chúa Trời như nhiều kẻ khác; nhưng chúng tôi lấy lòng chân thật, theo như đạo từ Ðức Chúa Trời đến thể nào, thì giảng ra thể ấy trước mặt Ðức Chúa Trời, trong Ðấng Christ.
Suy gẫm:
Sứ đồ Phao-lô viết những lời này mô tả tâm trạng của ông liên quan đến biến cố xảy ra tại thành Trô-ách. Sau khi rời thành Ê-phê-sô đi xứ Ma-cê-đoan, Phao-lô trông mong gặp lại Tít, người ông sai đến Cô-rinh-tô để trao “bức thư đẫm lệ” (tearful letter) nầy cho hội thánh. Mặc dầu thái độ đáp ứng với Tin Lành của người dân thành Trô-ách rất tích cực, nhưng khi Tít không đến như dự kiến khiến cho sứ đồ Phao-lô vô cùng lo lắng về chức vụ của Tít và tình trạng hội thánh Chúa tại Cô-rinh-tô. Đây là một trong những hình thức chịu khổ của người hầu việc Chúa. Những nỗi quặn thắt và ưu tư chất chứa trong tâm trí và tấm lòng của con người làm tiêu hao sinh lực gấp bao nhiêu lần so với những nỗi đau đớn của thân xác. Nhưng làm thế nào sứ đồ Phao-lô có thể sống dưới những nỗi bức xúc như vậy?
Rất hiếm ai có được một chức vụ tạo ảnh hưởng lớn lao và sâu rộng nhưng không kém gian nan thử thách trong chức vụ như sứ đồ Phao-lô. Tuy nhiên, chính những khó khăn và nghịch cảnh đã mang vào trong đời sống của sứ đồ Phao-lô những kinh nghiệm đắc thắng trong nghịch cảnh của chức vụ vô cùng quý báu này. Mục đích Đức Chúa Trời cho phép những hoạn nạn xảy đến với đời sống của Phao-lô hầu cho qua ông nhiều người được biết về vẻ đẹp Tin Lành của Chúa Jesus Chirst. Hành động rao giảng Tin Lành được sứ đồ Phao-lô mô tả là “rải mùi thơm về sự nhận biết Chúa” khắp chốn. Khi Đức Chúa Trời muốn dùng Phao-lô để tạo nên những ảnh hưởng lớn lao cho Tin Lành bao nhiêu thì Ngài càng đưa ông vào trong những tình huống nghiệt ngã và đối diện với những hoàn cảnh khốn khó bấy nhiêu. Càng bị đè nén bao nhiêu, con người của Phao-lô càng tiết ra hương thơm của Tin Lành bấy nhiêu. Đó là nét độc đáo và tuyệt diệu Đạo của Đấng Christ!
Tuy nhiên, bí quyết của sự đắc thắng này nằm ở chỗ “Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho…” Sức người phải kêu la lên: “Ai xứng đáng cho những sự nầy?” (Who is sufficient for these things?) Câu trả lời chắc chắn là: “không một ai xứng đáng cả!” Không con người nào đủ sức chống chọi với những thách thức và đè nén hay bức xúc của tâm trí, tình cảm, và thể xác trong con người rao giảng Tin Lành của Đấng Christ. Chỉ có những con người sống ngay thẳng, rao giảng Đạo cách chân thật, giữ đời sống mình thánh khiết mới có đủ sức mạnh Chúa ban để đắc thắng mọi nghịch cảnh của cuộc đời và chức vụ.
Cầu nguyện
Lạy Chúa, xin giúp con luôn sống ngay thẳng, chuyên tâm rao giảng Đạo của Đấng Christ cách chân thật, và giữ đời sống mình thánh khiết để có đủ sức thiêng và quyền thiêng cao rao về vẻ đẹp của Tin Lành bình an trong mọi hoàn cảnh. Amen!

Thursday, September 13, 2018

LÒNG KÍNH SỢ CHÚA

I Phi-e-rơ (Peter) 1:17-21
Nếu anh em xưng Ðấng không tây vị anh em, xét đoán từng người theo việc họ làm, bằng Cha, thì hãy lấy lòng kính sợ mà ăn ở trong thời kỳ ở trọ đời nầy, vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Ðấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít, đã định sẵn trước buổi sáng thế, và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em, là kẻ nhơn Ðức Chúa Jêsus tin đến Ðức Chúa Trời, tức là Ðấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, và ban sự vinh hiển cho Ngài đến nỗi đức tin và sự trông cậy anh em được nương nhờ Ðức Chúa Trời.
Suy gẫm:
Độc giả của sứ đồ Phi-e-rơ sống trong một thế giới ngoại giáo, đầy dẫy sự thờ lạy thần tượng và tội lỗi. Lòng kính sợ Chúa trở nên điều vô cùng hiếm hoi trong con cái loài người và lan tràn vào trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Chính vì thế, lời kêu gọi trở lại với lòng kính sợ Chúa là cốt lõi của sứ điệp sứ đồ Phi-e-rơ nhắn gửi cho các tín hữu đang sống rải rác khắp vùng Tiểu Á Châu ngày xưa và cũng cho chúng ta ngày nay.
Sứ đồ Phi-e-rơ đưa ra ba phương diện khác nhau cho thấy tại sao Cơ đốc nhân là con cái của Đức Chúa Trời phải sống với lòng kính sợ Đức Chúa Trời là Cha. Trước hết, về phương diện đạo lý, lòng kính sợ Chúa của Cơ đốc nhân được xây dựng trên mối quan hệ: Cha-con. Đức Chúa Trời là Cha và Cơ đốc nhân là con cái của Ngài (1:17). Sự kính sợ của con cái Đức Chúa Trời đối với Ngài bao gồm cả lòng kính sợ và yêu mến. Kế đến, về phương diện pháp lý, Đức Chúa Trời là vị Quan án công bình sẽ xét xử mọi hành vi của con cái Ngài (1:17). Bản tánh của Đức Chúa Trời gồm cả yêu thương lẫn công chính. Con cái Đức Chúa Trời không thể lợi dụng lòng yêu thương của Ngài là Cha mà sống cuộc đời bất kính và vô đạo. Ngoài ra, về phương diện tâm lý và giáo lý, Cơ đốc nhân là những người được Đức Chúa Trời mua bằng một giá vô cùng cao quý đó chính là huyết báu vô tội của Chiên Con của Đức Chúa Trời là Chúa Jesus Christ (1:18, 19). Giá trị của vật được mua và giá trả cho vật được mua đều có giá trị tương đương trước mặt Đức Chúa Trời. Chính vì thế, Cơ đốc nhân không thể lấy đời sống vô cùng quý báu của mình để đánh đổi cho nếp sống tội lỗi và bất kính như người ngoại đạo.
Ngay phần đầu thư tín, sứ đồ Phi-e-rơ cho độc giả của ông biết họ là “…những người được chọn, theo sự biết trước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, và được nên thánh bởi Đức Thánh Linh, đặng vâng phục Đức Chúa Jêsus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài (I Phi-e-rơ 1:2). Hai đặc tính quan trọng trong sự kêu gọi của đời sống Cơ đốc nhân là sống thánh khiết và vâng phục. Cả hai đặc tính này là biểu hiện của lòng kính sợ Chúa. Sứ đồ Phi-e-rơ nói: “Anh em đã nên như con cái hay vâng lời, thì chớ có làm theo sự dâm dục, là sự cai trị trong anh em ngày trước, về lúc anh em còn mê muội. Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh. Nếu anh em xưng Đấng không tây vị anh em, xét đoán từng người theo việc họ làm, bằng Cha, thì hãy lấy lòng kính sợ mà ăn ở trong thời kỳ ở trọ đời nầy” (I Phi-e-rơ 1:14-17). Vì thế, dấu hiệu của người có lòng kính sợ Chúa là theo đuổi nếp sống thánh khiết, đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Lòng kính sợ Chúa cũng được biểu lộ trong nếp sống vâng lời hay vâng phục. Sự vâng phục Đức Chúa Jesus được bày tỏ qua sự vâng phục: vua (2:13-17), chủ (2:18-21), chồng (3:1-6), và người lãnh đạo trong Hội Thánh (5:5-7). Lòng kính sợ Chúa được đo lường bằng tấm lòng vâng phục thẩm quyền Chúa đặt để trên mình. Tinh thần phản loạn và chống lại thẩm quyền là dấu hiệu của sự vơi cạn lòng kính sợ Chúa trong chúng ta vì thẩm quyền do chính Chúa thiết lập ngoài xã hội, nơi sở làm, trong gia đình và Hội Thánh của Ngài.
Ngày nay mức độ lòng kính sợ Chúa dần dà vơi cạn trong đời sống cá nhân, gia đình cũng như Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Lý do rất đơn giản là vì đời sống Cơ đốc nhân và Hội Thánh của Chúa đã thiếu đi sự hiểu biết về chính Ngài và mối liên hệ Cha-con giữa chúng ta với Ngài, để cho làn sóng thế tục tràn vào trong đời sống cá nhân, gia đình và Hội Thánh của Ngài. Đây là lúc chúng ta cần phải được khơi dậy lòng yêu mến Chúa và hâm nóng lại lòng kính sợ Ngài. Khi đời sống cá nhân, gia đình và Hội Thánh của Đức Chúa Trời mất đi lòng kính sợ Chúa, đó là lúc chúng ta mất đi năng quyền của Chúa Thánh Linh để sống đẹp lòng Đức Chúa Trời và không thể chinh phục thế giới hư mất này cho Ngài.
Cầu nguyện:
Lạy Cha yêu thương và công chính, xin giúp con luôn duy trì và thêm lên lòng kính sợ và yêu mến Ngài để con có thể bày tỏ vẻ đẹp của Chúa Jesus trong lời nói và việc làm mỗi ngày. Xin giúp con nhớ rằng con đã được chuộc để thuộc về Ngài bằng chính huyết của Chiên Con hầu cho con không sống khinh xuất với địa vị cao đẹp Ngài đã ban cho con. Amen!

Thursday, September 6, 2018

CHÚA JESUS VÀ BỊNH PHUNG

Mác (Mark) 1:40-45
Có một người phung đến cùng Ngài, quì xuống cầu xin rằng: Nếu Chúa khứng, có thể khiến tôi sạch được. Ðức Chúa Jêsus động lòng thương xót, giơ tay rờ người, mà phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi. Liền khi đó, phung lặn mất, người trở nên sạch. Tức thì Ðức Chúa Jêsus cho người ấy ra, lấy giọng nghiêm phán rằng: Hãy giữ chớ tỏ điều đó cùng ai; song khá đi tỏ mình cùng thầy tế lễ, và vì người được sạch, hãy dâng của lễ theo như Môi-se dạy, để điều đó làm chứng cho họ. Nhưng người ấy đi, đồn việc đó ra, tới đâu cũng thuật chuyện, đến nỗi Chúa Jêsus không vào thành cách rõ ràng được nữa; song Ngài ở ngoài, tại nơi vắng vẻ; và người ta từ bốn phương đều đến cùng Ngài.

Suy gẫm:
Ngày xưa, bịnh phung được xem là căn bịnh quái ác đối với con người. Khi một người mang lấy chứng bịnh này thì cuộc đời còn lại hoàn toàn bị cô lập và cách ly khỏi mọi người, cộng đồng, và gia đình. Người đó sống cũng coi như đã bị chôn vùi trong cái chết cô đơn của bịnh tật. Cái chết của sự cô độc này còn khủng khiếp hơn gấp bao lần cái chết của thể xác. Vì thế, trong linh hồn của người phung không khao khát gì hơn là: “Nếu Chúa khứng, có thể khiến tôi sạch được.” Người phung này biết rõ rằng chỉ một mình Chúa Jesus là Đức Chúa Trời có thể chấm dứt tình trạng khốn cùng và tuyệt vọng của mình. Chúa Jesus đáp ứng lại bằng sự biểu hiện của lòng thương xót: “Ta khứng, hãy sạch đi.” Chúa chẳng bao giờ đành đoạn ngoảnh mặt làm ngơ trước lời van nài của những con người đang bị vùi dập trong cảnh tuyệt vọng nhất của cuộc đời và nhận biết Ngài là Đấng duy nhất có thể cứu vớt mình!

Cách Chúa Jesus chữa lành cho người phung cũng giống như cách Ngài chữa cho bà gia Si-môn. Người bịnh cần có sự đụng chạm của Ngài trên thân thể họ. Tuy nhiên, có một sự khác biệt lớn lao giữa việc Ngài đưa tay ra rờ người phung và bà gia Phi-e-rơ. Khi làm như thế, Chúa Jesus bằng lòng mang lấy bịnh phung của người và truyền sự thanh sạch trọn vẹn của Ngài vào trong người đó. Hành động này chứa đựng tính chất “hoán đổi” giữa chính Ngài và người bị phung. Nó tiêu biểu cho việc một người tin Chúa Jesus được tha thứ tội lỗi và mặc lấy sự công bình của chính Ngài. Từ ngữ thần học gọi đó là “sự xưng nghĩa” (justification).  Kết quả sự chữa lành của Chúa Jesus cho người phung là đem người đó trở lại với mối tương giao với Chúa, cộng đồng và gia đình. Thay vào đó, Ngài mang lấy sự cô độc và bị xô đuổi ra khỏi cộng đồng của người đó. Cho nên tác giả Hê-bơ-rơ kêu gọi: “Vậy nên, chúng ta hãy ra ngoài trại quân, đặng đi tới cùng Ngài, đồng chịu điều sỉ nhục” (Hê-bơ-rơ 13:13). Điều này tiêu biểu cho việc một tội nhận bị xua đuổi ra khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời được đem lại trong mối tương giao với Ngài qua sự chết của Con Ngài là Chúa Jesus. Chính Con Ngài đã phải gánh lấy sự cô độc vì tội lỗi gây ra của nhân loại khi kêu lên rằng: “Ê-li, Ê-li, lam-ma sa-bách ta-ni” (Ma-thi-ơ 27:46). Ngoài ra, khi Chúa Jesus bảo người được chữa lành đi đến với các thầy tế lễ để dâng của tế lễ làm chứng cho sự thanh sạch của mình, bày tỏ rằng Ngài đến không phải để phá đổ luật pháp nhưng làm trọn luật pháp (Ma-thi-ơ 5:17). Chúa Jesus đến để giải thoát tất cả những ai bị luật pháp lên án và giúp họ đáp ứng cách thỏa đáng những gì luật pháp đòi hỏi (Rô-ma 8:1-4). Thật cảm tạ Chúa Jesus!

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Jesus, con cảm ơn Ngài đã bằng lòng chết thay cho con để con được trở nên con cái của Đức Chúa Trời, và giúp con có thể sống làm trọn điều Ngài đòi hỏi của luật pháp. Amen!

Thursday, August 30, 2018

CHÚA CHỮA LÀNH

Mác (Mark) 1:29-34
Vừa ở nhà hội ra, Chúa và môn đồ đi với Gia-cơ và Giăng vào nhà Si-môn và Anh-rê. Và, bà gia Si-môn đang nằm trên giường, đau rét; tức thì chúng thưa với Ngài về chuyện người. Ngài bèn lại gần, cầm tay người đỡ dậy; bịnh rét dứt đi, và người bắt tay hầu hạ. Ðến chiều, mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ bịnh và kẻ bị quỉ ám đến cùng Ngài. Cả thành nhóm lại trước cửa. Ngài chữa lành nhiều kẻ đau các thứ bịnh, và đuổi nhiều quỉ, chẳng cho phép các quỉ nói ra, vì chúng nó biết Ngài.

Suy gẫm:
Sau khi chữa lành bệnh tâm linh do quỷ ám gây ra, Chúa Jesus xoay qua chữa bịnh thể xác cho bà gia Si-môn Phi-e-rơ. Có một vài điều đáng cho chúng ta lưu ý ở đây: (a) Chúa Jesus chữa bịnh cho bà gia Si-môn theo lời cầu xin của các môn đồ của Ngài; (b) sự chữa bịnh của Chúa là xảy ra tức thì; và (c) sau khi được chữa lành, bà gia Si-môn hầu hạ Chúa Jesus và các môn đồ. Chúa Jesus thi hành chức vụ của Ngài trên các nẻo đường và trong bối cảnh cuộc sống hằng ngày của con người. Chức vụ của Chúa Jesus không bị hạn chế bởi bất cứ môi trường nào: trong nhà hội hay tại nhà riêng. Nơi nào có nhu cầu, nơi đó có sự hiện diện của Ngài. Chúa Jesus đến vì nhu cầu của con người thay vì của chính mình, “Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta…” (Mác 10:45).

Chúa thi hành phép lạ cho bà gia Phi-e-rơ theo lời cầu thay của các môn đồ. Có một số bằng chứng cho thấy khi Chúa Jesus thi hành chức vụ, có một thời gian Ngài tá túc tại nhà của Si-môn. Khi các môn đồ theo Chúa và phục vụ Ngài thì chính Ngài cũng quan tâm và giúp đỡ các môn đồ trong những vấn nạn xảy ra trong cuộc sống của họ. Giăng và Gia-cơ, Si-môn và Anh-rê là những người vừa đáp ứng tiếng gọi của Chúa để theo Ngài. Chúa thi hành phép lạ này để mang lại sự an ủi và tạo nên sự an tâm cho Si-môn và các môn đồ hầu biết rằng khi họ theo Ngài thì chính Ngài chẳng bao giờ bỏ quên những người thân yêu của họ trong những hoàn cảnh khó khăn hay bịnh tật v.v… Nói cách khác, khi họ quyết tâm theo Chúa và dâng hiến cuộc đời phục vụ Ngài thì chính Chúa chắc chắn sẽ quan tâm đến những nhu cầu thiết yếu và người thân của họ.

Chữa bịnh là một phần của chức vụ Chúa Jesus thi hành trong khi ở trần gian này để bày tỏ Ngài là Đức Chúa Trời. Trong thời Chúa Jesus cũng có những người thi hành phép lạ giống như Ngài. Nhưng sự khác biệt giữa Chúa Jesus và những người này là sự chữa bịnh của Chúa mang đến kết quả ngay lập tức. Hành động Chúa Jesus cầm tay người đau được Mác nhắc lại nhiều lần (1:31; 5:41; 9:27) cho thấy đây chính là phương cách chữa bịnh của Ngài. Nó mang tính chất “gánh thay” trong đó. Vì thế, khi một người được Chúa đụng chạm và chữa lành thì sẽ mong muốn phục vụ Chúa và người khác. Bà gia của Si-môn là một trong những con người đó. Phải chăng có những cuộc đời yếu đuối trong sự phục vụ Chúa có lẽ vì chưa bao giờ được chính Ngài đụng chạm đến một lần nào trong cuộc đời của mình?

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con tiếp tục tin cậy và phó thác đời sống chúng con cho Ngài và biết rằng chính Ngài chẳng những quan tâm đến con nhưng cũng quan tâm đến những người thân yêu của con nữa. Xin Chúa tiếp tục đụng chạm đến cuộc đời con để con có thể chổi dậy, sốt sắng phục vụ Ngài. Amen!