Thursday, June 22, 2017

TRIẾT LÝ SỐNG CỦA SA-LÔ-MÔN

Truyền Đạo (Ecclesiastes) 12:13-14
Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết nầy: Khá kính sợ Ðức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi. Vì Ðức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến đỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hoặc ác cũng vậy.
Dưỡng linh:
Vua Sa-lô-môn được xem là vị vua khôn ngoan nhất trên trần gian này, “vô tiền khoáng hậu” (nghĩa là từ trước chưa bao giờ có và về sau cũng sẽ chẳng có ai sánh bằng). Đức Chúa Trời ban phước cho ông: của cải giàu có, uy quyền lừng lẫy, chẳng thiếu thốn gì cả. Tuy nhiên, không phải vì những điều đó mang lại cho ông sự thỏa lòng về cuộc đời của mình. Ông nói rằng tất cả mọi sự khôn ngoan, giàu có, tri thức đều là hư không theo luồng gió thổi. Cuộc đời con người được Đức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn nhiều thứ để hưởng thụ nhưng rồi cũng chỉ là hư không mà thôi. Sau khi giải luận mọi sự về cuộc đời con người và những gì con người tận hưởng trên trần gian này, vua Sa-lô-môn để lại một kết luận cho hết thảy mọi sự, gồm tóm trong những điểm chính sau đây: Giữ lòng kính sợ Đức Chúa Trời và giữ theo điều răn của Ngài là trọn phận sự của đời sống của một con người. Cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ mang con người đến trước ngai phán xét của Ngài về những hành động con người đã làm trong lúc còn sống trong xác thịt. Qua lời kết đầy khôn ngoan này của vua Sa-lô-môn, chúng ta thấy được những điểm quan trọng như sau:
1/ Cốt lõi của đời sống con người tựu trung lại trong mối quan hệ giữa con người với Đức Chúa Trời. Thông thường trong đời sống, chúng ta chỉ thấy được mối quan hệ của chính mình với con người chung quanh, từ những người thân cật ruột cho đến bạn bè. Ít ai quan tâm hay nói đến mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Nhưng vì Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng nên mỗi chúng ta, cho nên cuối cùng của cuộc đời con người, chúng ta sẽ phải trở về với Đức Chúa Trời và bước vào trong mối quan hệ với chính Ngài cách đầy trọn, trong đó bổn phận của chúng ta đối với Đức Chúa Trời nằm ngay trong trọng tâm của mối quan hệ này. Tất cả những bổn phận của chúng ta đối với nhau trên trần gian này cũng chỉ nhằm phản ánh bổn phận của chúng ta đối với Đức Chúa Trời; và mối quan hệ giữa chúng ta với nhau nhằm bổ sung và làm tăng trưởng mối quan hệ giữa chúng ta đối với Chúa. Khi chúng ta bước vào trong mối quan hệ đầy trọn giữa chúng ta đối với Đức Chúa Trời, tự động mối quan hệ giữa người và người sẽ hòa tan và tiêu biến trong mối quan hệ giữa con người với Đức Chúa Trời. Vì thế, muốn có mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời trong tương lai, thì trong hiện tại chúng ta phải biết xây đắp mối quan hệ giữa chúng ta với nhau, dựa trên tiêu chuẩn của mối quan hệ và bổn phận giữa chúng ta với Chúa.
2/ Bổn phận của con người với Đức Chúa Trời được đánh giá và thẩm định qua hai điều: lòng kính sợ Đức Chúa Trời và việc tuân giữ điều răn của Ngài. Lòng kính sợ Đức Chúa Trời là sự suy phục của tấm lòng ở trên trong, để cho Ngài làm chủ và chi phối toàn bộ đời sống của chúng ta. Nhưng việc tuân giữ điều răn của Đức Chúa Trời là sự bày tỏ ra bên ngoài của lòng kính sợ Đức Chúa Trời nằm sâu bên trong lòng. Nếu một người không có lòng kính sợ Đức Chúa Trời thì cũng chẳng bao giờ vui lòng tuân giữ điều răn của Ngài. Chính vì thế, việc chúng ta tuân theo điều răn của Chúa là thước đo lòng kính sợ Đức Chúa Trời của mỗi đời sống chúng ta. Người càng kính sợ Chúa bao nhiêu, người ấy càng muốn sống vâng giữ theo điều răn của Ngài bấy nhiêu.
3/ Nhưng làm thế nào có thể biết được hành động của mỗi chúng ta là đúng đắn? Chỉ có một mình Đức Chúa Trời mới có thể đoán xét và thẩm định việc làm bên ngoài của con người và những gì xảy ra trong tâm trí và tấm lòng bên trong của họ. Sẽ có một ngày Đức Chúa Trời đem mọi việc ra trong ánh sáng của Ngài để đoán xét, ngay cả những điều kín nhiệm nhất, thiện hay ác cũng vậy. Sự phán xét của con người có thể lầm lẫn; và chúng ta có thể đánh lừa người khác về hành động của mình. Nhưng Đức Chúa Trời chẳng bao giờ bị chúng ta đánh lừa và sự phán xét của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ nhầm lẫn, vì “Đức Chúa Trời chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng” (1 Sa-mu-ên 16:7b). Chân lý này vừa mang lại cho chúng ta niềm vui mừng lẫn sự sợ hãi. Nếu một người có lòng kính sợ Đức Chúa Trời và giữ theo điều răn của Ngài, người đó sẽ chẳng giờ rúng động vì phản ứng của người khác đối với mình và sự nhận xét hay chỉ trích của người khác đối với cho mình. Nhưng nếu việc làm của một người không xuất phát từ lòng kính sợ Đức Chúa Trời thì đó là một hiểm họa cho người đó vì không chóng thì chày, không sớm thì muộn Đức Chúa Trời cũng sẽ phơi trần mọi việc ra ánh sáng để phán xét.
Cuộc sống của chúng ta trên trần gian này rất ngắn ngủi, tạm bợ nhưng nó được nối liền với cõi đời đời bằng những sợi dây của hành động và lời nói của chúng ta. Tất cả những gì trong hiện tại sẽ liên hệ đến tương lai. Những gì xảy ra trong lòng của chúng ta sẽ liên hệ đến hành động bên ngoài của chúng ta. Đức Chúa Trời sẽ đem mọi sự thiện hay ác ra để phán xét. Thế thì bổn phận của chúng ta là kính sợ Đức Chúa Trời và giữ theo điều răn của Ngài. Những điều này sẽ chi phối và bày tỏ ra bên ngoài trong bổn phận và mối quan hệ giữa chúng ta với những người chung quanh mình.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con biết rằng những ngày của cuộc đời mình thật là ngắn ngủi, bổn phận của con chẳng có gì ngoài việc sống kính sợ Chúa và tuân giữ theo điều răn của Ngài mỗi ngày. Xin Chúa Thánh Linh giúp con xây dựng và vun đắp và tài bồi mối quan hệ và bổn phận của con đối với chính Chúa qua mối quan hệ và bổn phận của con đối với những người chung quanh và tha nhân. Xin cho con làm mọi việc chỉ vì lòng kính sợ Chúa và yêu mến Ngài mà thôi. Amen!

Thursday, June 15, 2017

SỨ VỤ CỦA HỘI THÁNH

Kinh Thánh: Ê-sai (Isaiah) 61:1-2
Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Ðức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; đặng rao năm ban ơn của Ðức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Ðức Chúa Trời chúng ta; đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu; đặng ban mão hoa cho kẻ buồn rầu ở Si-ôn thay vì tro bụi, ban dầu vui mừng thay vì tang chế, ban áo ngợi khen thay vì lòng nặng nề; hầu cho những kẻ ấy được xưng là cây của sự công bình, là cây Ðức Giê-hô-va đã trồng để được vinh hiển.
Dưỡng linh:
Ê-sai đoạn 61 thuộc trong phần cuối của sách tiên tri Ê-sai, nói về tương lai hy vọng của dân Y-sơ-ra-ên sau những năm tháng bị lưu đày. Bởi ơn thương xót của Đức Chúa Trời, Ngài đã đem họ trở về đất hứa. Nay qua Đấng Mê-sia là Chúa Jesus, Đức Chúa Trời khôi phục lại sự vinh hiển rạng rỡ cùng những phước hạnh thiêng liêng mà dân Y-sơ-ra-ên đã mất do tội lỗi của họ gây ra. Tiên tri Ê-sai 61 bắt đầu bằng lời tiên tri về Đầy Tớ của Chúa (the Servant of the Lord) tức là Chúa Jesus Christ. Qua sứ vụ của Ngài là một Giảng sư (the Preacher) và cũng là Đấng Cứu Chuộc (the Redeemer) của dân Y-sơ-ra-ên. Mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời là muốn giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi cảnh tù đày khác hơn cảnh tù đày tại Ba-by-lôn, mang họ vào trong một tương lai sáng lạng đời đời của Ngài. Mặc dầu trước đây dân Y-sơ-ra-ên đã được giải cứu ra khỏi cảnh nô lệ tại Ai-cập và Ba-by-lôn nhưng vẫn còn bị nhốt dưới gông cùm của bản tánh xác thịt và tội lỗi. Sứ vụ của Chúa Jesus đến trần gian này không những giải cứu dân Y-sơ-ra-ên mà cả nhân loại ra khỏi tội lỗi. Vì thế, trong một phiên nhóm tại nhà hội Do-thái khi xưa, chính Chúa Jesus nhắc lại lời tiên tri này chỉ về Ngài trong Lu-ca 4:18-19 và cho thấy sự ứng nghiệm của nó ngay trong đời sống và chức vụ của Ngài.
Để có thể thi hành sứ vụ giải cứu con người ra khỏi tội lỗi, “Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên” Chúa Jesus. Công tác cứu chuộc nhân loại và giải cứu con người ra khỏi quyền lực thống trị của ma quỷ và tội lỗi chính là công việc của Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Yếu tố không thể thiếu được trong chức vụ của Chúa Jesus trên đất là sự xức dầu của Thần Đức Giê-hô-va. Chúa Jesus là Đức Chúa Trời nhưng khi thi hành chức vụ của mình Ngài cần phải được sự xức dầu của Chúa Thánh Linh hay Thần của Đức Giê-hô-va là dường nào. Sự xức dầu đối với Chúa Jesus mang một vài ý nghĩa vô cùng quan trọng: (a) sự tuyển chọn và sai phái chính thức của Đức Chúa Trời để Ngài bước vào trong sứ vụ cứu vớt thế gian hư mất; (b) sự ban sức mạnh cho Chúa Jesus để thi hành chức vụ và đối diện với quyền lực của ma quỷ. Với sự xức dầu đó, Chúa Jesus có một mục đích và đối tượng rõ rệt trong chức vụ của mình. Trong sứ vụ này bao gồm việc:
1/ Chúa Jesus giảng Tin Lành cho kẻ khiêm nhường. Trong Lu-ca 4:18 thì nói đọc Chúa Jesus giảng Tin Lành cho “kẻ nghèo khó” thay vì “kẻ khiêm nhường.” Thực ra, hai từ ngữ này mang cùng một ý nghĩa như nhau, đều chỉ về những người có lòng đau thương thống hối về tội lỗi của mình và nhận biết nhu cầu thuộc linh của chính mình. Vấn nạn của họ chỉ có thể được đáp ứng bởi chính Chúa. Tình trạng khó nghèo tâm linh là bước khởi đầu của việc chuẩn bị tấm lòng cho Phúc Âm của Chúa Jesus được rao giảng. Chỉ có những người kiêu ngạo mới không thấy được nhu cầu thuộc linh và tự mãn về đời sống tâm linh của mình.
2/ Chúa Jesus được sai đến để rịt những kẻ có tấm lòng tan vỡ. Con người là tạo vật cao quý của Đức Chúa Trời nhưng lại là tạo vật rất dễ dàng đổ vỡ (vunerable). Tâm lý của con người rất phức tạp và dễ bị tổn thương bởi tội lỗi. Sự tổn thương bao gồm việc làm do chính mình gây ra và của người khác gây ra cho chính mình. Vì thế, Chúa Jesus đến để mang lại sự tha thứ và chữa lành cho con người qua sự chết của Ngài. Thế gian đầy dẫy những cuộc đời đổ vỡ và rách nát đang cần đến Chúa Jesus. Ma quỷ thì lên án tội lỗi của con người, làm cho con người mặc cảm về tội lỗi của mình. Chỉ trong Chúa Jesus con người mới tìm thấy được sự tha thứ, an ủi, chữa lành và cảm thông.
3/ Chúa Jesus đến ban sự tự do cho con người khỏi sự giam cầm của tội lỗi và ma quỷ. Kể từ khi con người nghe theo lời dụ dỗ của ma quỷ để phạm tội, con người đã trở thành kẻ nô lệ cho tội lỗi mà mình không muốn. Ma quỷ muốn nhốt tất cả nhân loại dưới ách thống trị của nó để làm theo ý muốn của nó. Kết quả của tội lỗi là sự chết. Nhưng Chúa Jesus đến để ban cho con người sự tự do thật khi con người nhận được tha thứ. Khi Chúa Jesus sống lại từ kẻ chết, Ngài bứt đứt dây trói của ma quỷ và giải thoát con người ra khỏi ngục tù của bãn ngã là chính mình.
4/ Chúa Jesus mang đến cho con người sự an ủi và sự vui mừng chiến thắng. Tội lỗi làm cho cuộc đời con người trở nên kẻ thất bại, u sầu, buồn thảm, chán chường, tuyệt vọng, đánh mất đi niềm vui chân thật. Chúa Jesus đến để phục hồi lại cho con người ý nghĩa của cuộc đời, ban cho con người nguyên lý sống mới, và đem niềm vui thiêng đàng vào trong đời sống của những kẻ tang chế do sự chết gây ra. Chính tội lỗi đem con người đến chỗ chết mất và tuyệt vọng. Trong Chúa Jesus con người tìm lại được hy vọng sống là sự cứu rỗi mà Ngài để dành cho chúng ta trên thiên đàng vinh hiển đời đời.
Sứ vụ của hội thánh và của mỗi Cơ-đốc nhân là rao giảng Tin-lành cho những kẻ có lòng nhu mì khiêm nhường, rịt vết thương lòng cho những cuộc đời tan vỡ, rách nát do tội lỗi gây ra, công bố sự tự do thật cho những cuộc đời đang sống trong bóng đêm của ngục tù của chính bản ngã của mình, và mang niềm vui đến cho mọi người qua Tin-lành của Chúa Jesus Christ. Tuy nhiên, Cơ-đốc nhân và hội thánh chỉ có thể làm được sứ vụ này khi có Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên và xức dầu cho. Hội thánh của Đức Chúa Trời khác với tất cả các tổ chức tôn giáo và xã hội của trần gian này vì hội thánh của Chúa được điều khiển và chi phối bởi một nguyên tắc hoàn toàn khác biệt, đó là Chúa Thánh Linh. Người hầu việc Chúa trong vương quốc của Đức Chúa Trời cũng hoàn toàn khác hẳn với những tu sĩ tôn giáo và người làm công tác xã hội của đời. Hội thánh của Chúa và người hầu việc phải tìm kiếm sự xức dầu của Đức Chúa Trời để hoạt động và thi hành chức vụ của mình. Bằng không sinh hoạt của hội thánh và công việc của người hầu việc không khác gì sinh hoạt của đời và công việc của người làm công tác tôn giáo. Thế gian sẽ chẳng nhận lãnh được gì từ nơi những con người thi hành chức vụ của mình bằng năng lực chính mình và từ nơi những hội thánh không có sự hành động mạnh mẽ của Thần Đức Giê-hô-va. Nhưng muốn có được Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên mình và xức dầu cho mình, mỗi cá nhân cũng như hội thánh của Đức Chúa Trời phải theo đuổi nếp sống thánh khiết và công chính trước mặt Ngài. Linh của Đức Chúa Trời là Linh của sự thánh khiết, khác với uế linh của ma quỷ và của đời này. Linh của Đức Chúa Trời thì gây dựng, còn linh của ma quỷ thì đạp đỗ và gây tan thương cho người khác và cho hội thánh của Đức Chúa Trời. Vì thế, hội thánh của Đức Chúa Trời trong thời đại này không khao khát gì hơn ngoài sự khao khát được Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên và xức dầu cho mỗi một người, để làm chứng nhân đắc thắng và sống động cho Ngài.
Cầu nguyện:
Con cầu xin Chúa đoái thương, thăm viếng, và thức tỉnh chính mình con và Hội Thánh của Ngài mỗi ngày bằng Thần của Ngài để nhận thức được sứ mạng của mình và ban quyền năng để có thể rao giảng sứ điệp Phúc Âm cho thế giới hư mất trở về với Ngài. Amen!