Wednesday, March 29, 2017

NHU CẦU THẬT SỰ CỦA CON NGƯỜI

Giăng (John) 4:7-15
Một người đờn bà Sa-ma-ri đến múc nước. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy cho ta uống. Vì môn đồ Ngài đã đi ra phố đặng mua đồ ăn. Người đờn bà Sa-ma-ri thưa rằng: Ủi kìa! Ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đờn bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân Sa-ma-ri). Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Ðức Chúa Trời, và biết người nói: "Hãy cho ta uống" là ai, thì chắc ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống. . . Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi; nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó văng ra cho đến sự sống đời đời. Người đờn bà thưa: Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa.
Dưới ánh nắng chói chang và gay gắt của mùa hè oi bức, Chúa Jesus dừng bước tại bên giếng Gia-cốp để nghỉ mệt vì đói bụng. Mang thân xác con người như chúng ta, Ngài cũng cần thì giờ để bồi bổ sức lực sau một chặng đường dài đi bộ. Các môn đồ đi ra phố mua đồ ăn còn một mình Ngài ở lại nghỉ mệt và chờ các môn đồ trở về. Tuy nhiên, sự nghỉ ngơi của Chúa bị cắt ngang vì có một người cần đến sự giúp đỡ của Ngài. Đó là người đàn bà Sa-ma-ri. Mẫu đối thoại giữa Chúa Jesus và người đàn bà này bắt đầu từ chỗ: “Hãy cho ta uống.” Nhưng cuối cùng câu chuyện này không phải là người đàn bà Sa-ma-ri múc nước cho Ngài uống nhưng chính Ngài đã mang đến cho bà một loại nước khác với điều nàng trông đợi. Đó là nước hằng sống sẽ mang lại cho bà sự mãn nguyện bên trong lòng và thay đổi cả cuộc đời còn lại của bà. Chúa đến không để mang lại sự thay đổi hoàn cảnh sống mà bà đang đối diện, nhưng thay đổi bà để có thể sống vui thỏa trong hoàn cảnh sống hiện tại của mình.
Điều chúng ta thấy rất rõ trong câu chuyện này là khi đứng trước nhu cầu của con người, Chúa Jesus sẵn sàng hy sinh nhu cầu vật chất của mình để đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người chẳng chút do dự. Hay nói cách khác, ngay trong lúc không mấy thuận tiện của đời sống thể xác lẫn tinh thần, Chúa Jesus vẫn hăng hái để làm một điều nào đó cho người đang cần đến Ngài. Bụng đói khiến cho cơ thể lẫn tinh thần mỏi mệt. Nhưng không vì lý do tầm thường đó Chúa Jesus khước từ mang hạnh phúc đến cho một cuộc đời đang sống trong u buồn, sầu thảm, và đầy mặc cảm về tội lỗi. Chúa Jesus có thể đưa ra nhiều lý lẽ để từ khước cơ hội này nhưng Ngài chọn làm điều mà người khác không làm được. Khi các môn đồ trở lại. Chúa Jesus cho họ biết Ngài có một loại thức ăn mang lại sự thỏa mãn và no đủ: làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời và làm trọn công việc Cha Ngài giao phó (c. 31-34). Bị thiêu đốt bởi linh hồn tội nhân, Chúa Jesus bắt lấy mọi cơ hội, gác qua mọi nhu cầu nhỏ bé hiện tại của mình để đem đến cho một con người đang sống trong tối tăm niềm vui thiên thượng. Chúa Jesus nhận thức rằng cơ hội không phải lúc nào cũng có và linh hồn của con người quý hơn cả thế gian. Hơn nữa, Chúa Jesus biết rõ mục đích của cuộc đời mình là làm trọn công việc Cha Ngài giao phó. Chúa Jesus là con người sống có mục đích, biết điều mình phải làm, nên Ngài tận dụng mọi thì giờ và cơ hội để sống cho mục đích đó để đáp ứng nhu cầu thiết thực của con người.
Nhu cầu của người đàn bà Sa-ma-ri này là gì? Chúa Jesus đáp ứng nhu cầu của bà như thế nào? Trước hết, khi mới gặp Chúa Jesus và đối thoại với Ngài, người đàn bà Sa-ma-ri mong ước rằng Chúa cho bà nước uống như điều đã hứa, để rồi bà chẳng bao giờ phải trở lại giếng để múc nữa. Mới nhìn thoáng qua có vẻ dường như nhu cầu của bà chỉ là nước uống. Nhưng suy xét kỹ thì nhu cầu sâu xa của bà không nằm tại đó. Điều bà mong ước là “đừng bao giờ phải trở lại giếng này để lấy nước nữa” (c. 15). Tại sao bà lại ao ước điều đó? Có hai điều khiến bà muốn xa lánh nơi này: (a) bà là người Sa-ma-ri, giống dân mà người Do-thái rất khinh miệt. Sau khi vua Sa-lô-môn băng hà, đất nước Y-sơ-ra-ên bị chia ra làm hai vương quốc: vương quốc phía Bắc là Y-sơ-ra-ên (gồm 10 chi phái), thủ đô đặt tại Sa-ma-ri; và vương quốc phía Nam là Giu-đa (gồm hai chi phái), thủ đô đặt tại Giê-ru-sa-lem. Khi quân A-sy-ri đến xâm chiếm vương quốc phía Bắc, chúng đem dân Y-sơ-ra-ên sống tại thành phố Sa-ma-ri đến các thuộc địa khác, và lấy người từ thuộc địa khác đến sống tại Sa-ma-ri. Chính vì thế, dân chúng tại Sa-ma-ri sau này không còn thuần chủng là người Do-thái, nhưng lại là tạp chủng. Chính vì thế người Do-thái gớm ghiếc người Sa-ma-ri. Người đàn bà Sa-ma-ri cũng ở trong tâm trạng bị khinh khi như thế; (b) bà có một quá khứ và hiện tại không mấy tốt đẹp. Bà muốn tránh sự đàm tiếu của miệng người đời, cho nên rất khổ tâm cho bà phải xuất đầu lộ diện với mọi người tại nơi công cộng. Vì thế bà tìm cách đi đến giếng vào buổi trưa là lúc thưa thớt người ra vào. Thật ra có vẻ như bà muốn trốn chạy cặp mắt xoi mói và miệng mồm ác độc của con người, nhưng kỳ thật bà muốn trốn chạy khỏi chính mình! Khi bà đối diện với con người thì chính bà phải đối diện với quá khứ và hiện tại của chính mình. Bà mang trong mình nỗi mặc cảm dày vò chưa được giải quyết. Chính điều này làm cho cuộc đời bà u buồn, chán nãn, không bình yên và thiếu mãn nguyện.
Khi đối diện với Chúa Jesus, con người bà sống lại và Ngài muốn chữa lành cho bà một lần đủ cả. Chúa Jesus muốn đem đến cho bà sự vui mừng và tự do trong tâm hồn dẫu cho hoàn cảnh và những con người chung quanh bà cũng thế, chẳng có gì thay đổi. Nhưng điều quan trọng là chính con người bà cần được thay đổi, được giải thoát khỏi quá khứ tội lỗi và sống cuộc đời hoàn toàn tự do và vượt lên trên tất cả. Để đi đến chỗ này, Chúa Jesus đã đụng đến đời tư của bà và muốn bà phải đối diện với nó cách thành thật. Chỉ có khi đó, tâm linh bà mới được giải thoát và tự do để sống những ngày còn lại đầy tự tin và bình an. Người đàn bà này đã sẵn sàng trả giá này và chính bà đã được một mạch nước hằng sống trào lên trong tâm hồn và tâm trí như điều Chúa Jesus hứa, để rồi bà bước đi cách dạn dĩ và nói về tình yêu của Ngài cho mọi người chung quanh.
Ma quỷ thường hay đánh lừa con người và cho rằng mình có nhiều nhu cầu chưa được thỏa mãn. Nhưng kỳ thật chỉ có một nhu cầu sâu xa trong con người cần được thỏa mãn mà thôi. Đó là sự tha thứ cho chính mình và cho người khác. Nhu cầu này chỉ được đáp ứng khi chúng ta đem con người của mình đến trước mặt Chúa cách chân thành, để cho Ngài chữa lành và tha thứ. Chỉ khi nào chúng ta để cho Chúa cất đi tất cả những gánh nặng của tội lỗi, mặc cảm của quá khứ, thì lúc bấy giờ lòng chúng ta mới thật sự bình an và mãn nguyện. Từ đó, chúng ta mới có thể trở thành những chứng nhân đắc lực cho Chúa Jesus, đem nhiều người đến với Ngài vì họ đã mục kích được điều Chúa làm trong đời sống của chính chúng ta. Chúa có thể biến đổi người đàn bà Sa-ma-ri xấu nết này trở thành chứng nhân cho Ngài, thì Ngài cũng có thể làm điều đó cho mỗi một người trong chúng ta.

Thursday, March 23, 2017

BIỂU LỘ TÌNH THƯƠNG CỦA CHA

Kinh Thánh: Hê-bơ-rơ (Hebrews) 12:7-11
Ví bằng anh em chịu sửa phạt, ấy là Ðức Chúa Trời đãi anh em như con, vì có người nào là con mà cha không sửa phạt? nhưng nếu anh em được khỏi sự sửa phạt mà ai nấy cũng phải chịu, thì anh em là con ngoại tình, chớ không phải con thật. Cha về phần xác sửa phạt, mà chúng ta còn kính sợ thay, huống chi Cha về phần hồn, chúng ta há chẳng càng nên vâng phục lắm để được sự sống sao? Vả, cha về phần xác theo ý mình mà sửa phạt chúng ta tạm thời, nhưng Ðức Chúa Trời vì ích cho chúng ta mà sửa phạt, để khiến chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết Ngài. Thật các sự sửa phạt lúc đầu coi như một cớ buồn bã, chớ không phải sự vui mừng; nhưng về sau sanh ra bông trái công bình và bình an cho những kẻ đã chịu luyện tập như vậy.
Mục đích của Đức Chúa Trời cho đời sống Cơ-đốc nhân là ngày càng trở nên giống như Con của Ngài là Chúa Cứu Thế Jesus. Để có thể đạt đến mức độ đó, Cơ-đốc nhân cần được Chúa tỉa sửa và uốn nắn bằng những điều bất như ý: hoạn nạn, thử thách, bịnh tật… Đôi khi hoạn nạn, thử thách, bịnh tật xảy đến cho Cơ-đốc nhân là hoàn toàn do ý muốn của Đức Chúa Trời, không có sự can dự của con người về nguyên nhân dẫn vào trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như thế. Nhưng đôi khi có thể là hậu quả của chính sự ngu dại, yếu đuối, và cứng cõi của con người gây ra. Dẫu thế nào đi chăng nữa, Đức Chúa Trời cũng dùng những ngày tháng thử thách, hoạn nạn và bịnh tật để sửa trị và dạy dỗ hầu cho đời sống của Cơ-đốc nhân được thánh thiện hơn. Tùy theo sự cứng cõi của tấm lòng mà Đức Chúa Trời áp dụng sự sửa trị trong những mức độ khác nhau cho cá nhân.
Cơ-đốc nhân chân chính là người được Chúa yêu. Vì vậy, khi Cơ-đốc nhân phạm tội và đi sai trật khỏi ý muốn của Chúa thì Ngài như một người cha đầy tình thương sẽ dùng sự sửa phạt để đưa người đó quay trở lại với con đường ngay thẳng và công chính của Chúa. Đức Chúa Trời làm điều đó xuất phát từ lòng yêu thương và kể người đó là con thật của Ngài. Khi đã được Đức Chúa Trời kể là con thật, thì Ngài sửa dạy để người đó mỗi ngày trở nên càng tốt đẹp và xứng đáng hơn cho Ngài. Nếu một người gọi là con cái của Chúa, khi làm điều sai trái và phạm tội, không thấy bất cứ sự sửa trị nào cả của Chúa, thì người đó cần phải xét lại mình có phải là con cái thật của Chúa chưa? Hay có thể người đó đã bị Đức Chúa Trời bỏ rồi. Như sứ đồ Phao-lô nói với tín hữu hội thánh Cô-rinh-tô: “Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng? Hãy tự thử mình: anh em há không nhận biết rằng có Ðức Chúa Jêsus Christ ở trong anh em sao? miễn là anh em không đáng bị bỏ” (2 Cô-rinh-tô 13:5). Trong trường hợp đó, tác giả Hê-bơ-rơ nói rằng người đó là “con ngoại tình” chứ không phải con thật của Đức Chúa Trời! Từ “ngoại tình” ở đây có nghĩa là đứa con nằm ngoài luật pháp, không được luật pháp bảo vệ, không được thừa hưởng bất cứ một phần gia tài nào của cha mình.
Tác giả Hê-bơ-rơ cho biết mục đích của việc Chúa sửa phạt là “để khiến chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết của Ngài.” Sự thánh khiết là bản tánh của Đức Chúa Trời. Khi một người tin Chúa Jesus thì được dự phần vào trong bản tánh của Ngài (2 Phi-e-rơ 1:3-4). Mặc dầu mỗi Cơ-đốc nhân đều được thừa hưởng bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời, nhưng để phát triển bản tánh này trong Cơ-đốc nhân, Đức Chúa Trời cần sử dụng những thử thách, hoạn nạn, bịnh tật để loại bỏ khỏi đời sống Cơ-đốc nhân những cáu cặn và dơ nhớp của bản tánh bất khiết vốn ẩn tàng trong mỗi con người thuộc dòng dõi sa ngã của A-đam. Đó là điều ích lợi cho Cơ-đốc nhân. Trong những tình huống như vậy, điều đòi hỏi nơi Cơ-đốc nhân là phải có một thái độ hoàn toàn vâng phục, chấp nhận và ký thác cuộc đời của mình cho Chúa để Ngài làm hoàn thành chương trình và ý muốn của Chúa trên cuộc đời của chúng ta. Nếu Cơ-đốc nhân không chịu vâng phục và chống trả sự sửa dạy của Đức Chúa Trời, chắc chắn rằng công việc thánh hóa của Đức Thánh Linh trong đời sống của người đó sẽ bị dừng lại hay thối lui nữa là khác.
Dẫu cho kết quả cuối cùng của việc Chúa sửa phạt Cơ-đốc nhân khi phạm tội là điều tốt lành và cuối cùng mang lại sự vui mừng, nhưng trong hiện tại chắc chắn rằng sẽ không thể nào vui mừng được. Tuy nhiên, sự buồn bã này chỉ là tạm thời và rồi sự vui mừng đời đời sẽ đến. Kết quả lâu dài của việc bằng lòng luyện tập trong khi Chúa sửa trị đời sống của Cơ-đốc nhân là chắc chắn sẽ đến, nhưng Cơ-đốc nhân cần phải có thời gian để cho bông trái bình an của sự công bình nẩy nở trong tâm hồn. Hãy nhìn đến sự cuối cùng của con đường hoạn nạn, thử thách, bịnh tật mà Đức Chúa Trời dẫn con cái thật của Ngài đi qua là gì, lúc ấy chắc chắn rằng trong lòng chúng ta sẽ dấy lên niềm vui khôn tả của sự thánh khiết. Chẳng có điều nào Đức Chúa Trời làm cho Cơ-đốc nhân là dư thừa hay gây tổn hại, nhưng chỉ nhằm mục đích mang lại phước hạnh miên viễn cho Cơ-đốc nhân, là những người sẵn sàng vâng phục Ngài và bằng lòng tập luyện để chịu dựng sự sửa trị và dạy dỗ của Chúa dành cho mình, ngõ hầu giúp mình dứt khỏi tội lỗi và sống đời thánh thiện và công chính cho Ngài (1 Phi-e-rơ 4:1).
Cầu nguyện:
Lạy Cha thánh, con hết lòng cảm tạ Chúa vì biết rằng Ngài yêu con bằng tình yêu đời đời của Ngài. Chính Chúa là người Cha Nhân Lành luôn luôn mong muốn con mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn và xứng hợp hơn với sự thánh khiết của Ngài, cho nên Ngài thường hay sửa trị và dạy dỗ con bằng cách này hay cách khác. Xin Chúa ban cho con tấm lòng biết ăn năn và chịu luyện tập để có thể trở nên tốt đẹp hơn cho Ngài qua những lần Ngài sửa dạy và rèn tập con. Xin Chúa cứu con ra khỏi sự cứng cõi đến nỗi không còn nhạy bén với sự sai lầm và bất mãn với sự sửa dạy của Ngài, nhưng ban cho con tấm lòng tìm kiếm mặt Ngài luôn luôn để được biến đổi mỗi ngày, cho đến khi con được tầm thước vóc dạc ở trong Chúa Cứu Thế Jesus. Amen!

Thursday, March 16, 2017

SỐNG TRONG THỜI KỲ SAU RỐT

Kinh Thánh: 1 Phi-e-rơ (Peter) 4:7-11
Có một điều không thể chối cãi được đó là các sứ đồ ngày xưa bị thiêu đốt mãnh liệt về lòng trông đợi Chúa Jesus trở lại, đến nỗi họ tưởng chừng như Ngài trở lại ngay trong thời của họ! Vì thế, sứ đồ Phi-e-rơ nói rằng: “Sự cuối cùng của muôn vật đã gần.” Ông nhận lấy những lời này từ nơi sự giảng dạy của Thầy mình là Chúa Jesus. Muôn vật do Đức Chúa Trời dựng nên có khởi đầu thì cũng sẽ có kết thúc. Đó là điều chắc chắn.Tuy nhiên, để chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại, là Cơ-đốc nhân, chúng ta phải làm gì? Sứ đồ Phi-e-rơ đưa ra những lời khuyên rất thực tiễn sau đây:
Trước hết, Cơ-đốc nhân cần phải sống trong sự “khôn ngoan tỉnh thức mà cầu nguyện.” Trong nguyên văn điều này có nghĩa là Cơ-đốc nhân cần có một tâm trí minh mẫn, sáng suốt và tự chủ, ra từ đời sống cầu nguyện. Chỉ khi nào Cơ-đốc nhân sống trong tinh thần cầu nguyện thì tâm trí mới sáng suốt và tỉnh táo để phân biệt điều thiện và điều ác, nhận chân ra được những dấu hiệu cho thấy ngày Chúa gần đến. Chính sự gần gủi Chúa làm cho lý trí, ý chí, tình cảm của Cơ-đốc nhân được mạnh mẽ và trong sáng.
Kế đến, Cơ-đốc nhân cần sống bày tỏ tình yêu thương chân thật và sống động trong cộng đồng đức tin. Cụm từ “nhứt là” có nghĩa là “trên hết mọi sự” (above all things). Trước đây, sứ đồ Phi-e-rơ nghe những lời căn dặn cuối cùng này của Chúa Jesus cho các môn đồ: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta” (Giăng 13:34-35). Bây giờ, ông đưa những lời vàng ngọc này vào trong đời sống cộng đồng đức tin để thực hành. Đây phải là điều tiên quyết và quan trọng nhất của hội thánh. Hội thánh có thể làm nhiều điều cho thế gian nhưng không có tình yêu thương với nhau thì cũng vô ích. Sự bày tỏ cụ thể của tình yêu thương trong cộng đồng đức tin nằm ở những phương diện sau đây:
1/ Khi có tình yêu thương của Chúa thì Cơ-đốc nhân sẽ “che đậy vô số tội lỗi” của nhau. Sứ đồ Phi-e-rơ trích dẫn Châm ngôn 10:12. Việc Cơ-đốc nhân “Che đậy vô số tội lỗi” không có nghĩa là bao che hay bưng bít tội lỗi của nhau nhưng sống với nhau trong tinh thần khoan dung, tha thứ, và kiên nhẫn với sự yếu đuối của người khác mà không cảm thấy khó chịu hay bực dọc vì mình bị người khác làm tổn thương (Ma-thi-ơ 18:21-22; 1 Cô 13:4-7). Chỉ khi nào có tình yêu thương chân thật của Chúa ban cho, Cơ-đốc nhân mới có thể sống với tâm tình này.
2/ Tiếp đãi nhau cách vui lòng. Ngày xưa, việc tiếp đãi những người có nhu cầu trong hội thánh hay tiếp các sứ giả của Đức Chúa Trời là chuyện bình thường. Tuy nhiên, khi tiếp đãi một người hay một nhóm người trong nhà, đòi hỏi vị chủ nhà phải hy sinh sự tự do và riêng tư của mình cho người khác. Nếu không thì rất dễ cho người tiếp đón “cằn rằn” nhau hay trách móc “sự không biết điều” của người khác. Ở đây sứ đồ Phi-e-rơ muốn nói đến việc tiếp đón là một đặc ân Chúa ban, vì biết đâu chừng chúng ta được tiếp đón thiên sứ của Đức Chúa Trời! Sự tiếp đón trong tinh thần “cằn rằn” hay “trách móc” thì sẽ làm cho việc tiếp đón không còn là một ơn phước nhưng là một gánh nặng.
3/ Lấy ân tứ của Chúa cho mình để phục vụ nhau. Mỗi người đều được Đức Chúa Trời phú cho ân tứ để phục vụ nhau. Sứ đồ Phi-e-rơ gọi đó là “các thứ ơn của Đức Chúa Trời.” Ân tứ là của Chúa, không phải của Cơ-đốc nhân. Đức Chúa Trời là Đấng sở hữu mọi ân tứ, còn Cơ-đốc nhân là “người quản gia” các ân tứ của Ngài. Đức Chúa Trời ban cho Cơ-đốc nhân ân tứ để phục vụ nhau và làm sáng danh Đức Chúa Trời. Chỉ có một mình Đức Chúa Trời đáng để được tôn cao qua sự phục vụ của Cơ-đốc nhân. Khi nào Cơ-đốc nhân muốn dành cho mình sự tôn trọng vì cớ ân tứ Chúa ban, khi đó Cơ-đốc nhân đã tự đặt mình vào trong vị trí chống nghịch với Đức Chúa Trời và Ngài sẽ lấy lại những ân tứ này của họ. Sứ đồ Phi-e-rơ đưa ra hai loại ân tứ: ân tứ liên quan đến Lời (speaking gifts) và ân tứ liên quan đến sự phục vụ (serving gifts). Các ân tứ này được sứ đồ Phao-lô trình bày chi tiết trong Rô-ma 12:6-8 và 1 Cô-rinh-tô 12:27-30. Có người được Đức Thánh Linh ban cho ân tứ rao giảng, dạy dỗ thì phải hết lòng mà thi hành chức vụ mình với thẩm quyền Chúa ban chứ không phải cậy vào tri thức mình có. Còn người được ban cho ân tứ phục vụ thì phải nhờ sức Chúa ban mà làm cách vui lòng. Điều quan trọng không phải là Cơ-đốc nhân nhận được loại ân tứ nào nhưng là sử dụng ân tứ đó như thế nào? Về phần Đức Thánh Linh, Ngài ban cho mỗi người ân tứ tùy theo ý muốn tốt lành của Ngài. Còn về phần Cơ-đốc nhân, chúng ta phải sử dụng ân tứ mình nhận để làm sáng danh Đức Chúa Trời.
Có lẽ hội thánh của Đức Chúa Trời ngày nay có nhiều khả năng hơn những thế hệ trước. Nhưng chúng ta phải nhìn nhận rằng hội thánh của Chúa ngày nay kém thiếu về tình yêu thương và lòng nhiệt thành cho Đức Chúa Trời trong việc sử dụng những ân ban của Ngài để phục vụ hội thánh và dân tộc mình hơn những thế hệ đi trước. Ngày Chúa đã gần đến. Thế giới mà chúng ta thấy sẽ đến hồi chung kết một ngày không xa. Cuộc đời của mỗi chúng ta rồi cũng sẽ qua mau. Thế thì, điều chúng ta có thể làm được để chẳng bao giờ hối tiếc về cuộc đời do Chúa ban cho, đó là sống yêu thương đối với mọi ngườidùng ân tứ Chúa ban để phục vụ Ngài qua việc phục vụ nhau. Trong khi thế gian đầy dẫy những con người ghen ghét, Hội thánh của Đức Chúa Trời phải đầy dẫy những con người có tình yêu thương chân thật và cung ứng cho thế gian những con người yêu thương. Bởi điều đó thế gian nhận biết chúng ta là môn đồ của Chúa Jesus. Trong khi thế gian tìm đủ mọi cách để thủ lợi cho mình và sống ích kỷ, Hội thánh của Đức Chúa Trời phải biết sống cho nhau và đem hết khả năng mình có để phục vụ Ngài và phục vụ nhau. Trong khi thế gian sẽ chấm dứt, Hội thánh của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại đời đời. Vì vậy, là Cơ-đốc nhân, chúng ta không nên mệt nhọc trong việc sống bày tỏ tình yêu thương và phục vụ nhau bằng ân tứ Chúa ban vì những điều này sẽ còn lại đời đời. Cuộc đời của chúng ta trở nên cao quý không phải vì thâu tóm nhiều nhưng là ban cho nhiều, không phải vì chiếm hữu nhiều bèn là tận hiến nhiều.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con luôn sống trong ý thức rằng ngày Chúa Jesus trở lại không còn bao lâu nữa và tỉnh thức linh hồn và tâm trí con luôn luôn sống trong mối liên hệ mật thiết với Ngài. Xin Chúa Thánh Linh đổ đầy tình yêu của chính Ngài vào trong đời sống của con để con có thể sống yêu thương, khoan dung, tha thứ đối với mọi người, và dùng ân tứ Ngài ban để phục vụ Chúa và mọi người, nhất là anh em trong đức tin. Amen!

Thursday, March 9, 2017

ĐỒNG HỒ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Xuất Ai-cập ký (Exodus) 3:7-12
Ðức Giê-hô-va phán rằng: Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân ta tại xứ Ê-díp-tô, và có nghe thấu tiếng kêu rêu vì cớ người đốc công của nó; phải, ta biết được nỗi đau đớn của nó. Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít ở. Nầy, tiếng kêu rêu của dân Y-sơ-ra-ên thấu đến ta, và ta đã thấy dân Ê-díp-tô hà hiếp chúng nó thể nào; vậy bây giờ, hãy lại đây, đặng ta sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn, để dắt dân ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Môi-se bèn thưa rằng: Tôi là ai, dám đi đến Pha-ra-ôn, đặng dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô? Ðức Chúa Trời phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi; nầy là điều làm dấu cho ngươi biết rằng ta đã sai ngươi đi: Khi ngươi dắt dân sự ra khỏi xứ Ê-díp-tô rồi, thì các ngươi sẽ phụng sự Ðức Chúa Trời tại trên núi nầy.
Sau khi bày tỏ cho Môi-se biết về sự hiện diện của Ngài trong bụi gai cháy, Đức Chúa Trời cho Môi-se biết mục đích của việc Ngài hiện ra cho ông. Đức Chúa Trời muốn dùng ông để giải cứu dân sự của Ngài ra khỏi tay hà hiếp của vua Pha-ra-ôn. Chúng ta lưu ý rằng sứ vụ này được giao cho Môi-se trong thời điểm mà chính ông cũng không sẵn sàng để nhận lãnh. Thậm chí ông tìm cách để thoái thác nữa là khác. Nhưng đó chính là lúc Ngài muốn giao cho Môi-se điều mà ông không muốn nhận. Khi ấy Môi-se mới có thể khiêm cung để bước đi trong việc thực hiện sứ vụ này. Tại đây, chúng ta thấy một Môi-se hoàn toàn khác với một Môi-se cách đây 40 năm. Môi-se ngày xưa xông xáo, sốt sắng, hăng hái, tự tin bao nhiêu, ngày nay Môi-se rụt rè, e dè, nhút nhát bấy nhiêu. Nhưng Đức Chúa Trời muốn dùng một Môi-se nhút nhát làm công việc của Ngài, để rồi Môi-se này sẽ không bao giờ dám lên mình kiêu ngạo và tự phụ vì mình đã làm được việc nào đó cho Đức Chúa Trời!
Trước khi sai Môi-se đi giải cứu dân sự của Ngài, Đức Chúa Trời cho Môi-se biết nguyên nhân của việc sai phái này là gì. Ngài nói cho Môi-se những điểm quan trọng sau đây:
1/ Vì Đức Chúa Trời đưa dân sự của Ngài vào trong xứ Ai-cập, cho nên Ngài theo dõi hành trình thuộc linh và thuộc thể của họ. Cái ngày mà Ngài thay đổi thể chế chính trị tại xứ Ai-cập, Đức Chúa Trời đã biết trước những gì sẽ xảy ra cho dân sự của Ngài. Thời điểm của Ngài khác với thời điểm của Môi-se. Cách đây 40 năm, lúc mà Môi-se nghĩ rằng ông có thể ra tay giải cứu dân sự của Đức Chúa Trời nhưng đó chưa phải là thời điểm của Ngài. Nay, mới là thời điểm của Chúa. Khi tất cả mọi sự đi đến sự tận cùng của nó, nỗi thống khổ chồng chất lên dân sự của Ngài đến độ họ không còn có thể chịu đựng được nữa thì Đức Chúa Trời ra tay giải cứu. Đức Chúa Trời để cho sức ép của Pha-ra-ôn và người Ê-díp-tô trên dân sự của Ngài đến cực độ, làm cho họ chán ngán xứ Ai-cập mà muốn ra đi. Hay nói cách khác, Đức Chúa Trời dùng cách đối xử bạc đãi và hà hiếp của người Ê-díp-tô để rút họ ra khỏi xứ Ai-cập và đưa họ vào trong đất hứa. Đồng thời, cũng chính trong hoàn cảnh này họ mới có thể nhìn nhận được Môi-se là người lãnh đạo của mình.
2/ Mặc dầu Đức Chúa Trời ngự trên trời nhưng luôn theo dõi, “thấy”, “lắng nghe” những gì xảy ra trong đời sống của dân sự Ngài. Lòng của Đức Chúa Trời quặn thắt và đau khổ khi thấy dân sự của Ngài chịu đựng sự đau khổ hơn là chính họ chịu đau khổ vì chính Ngài đã tạo dựng nên họ. Họ chính là con cái của Ngài. Đức Chúa Trời muốn nói với Môi-se điều này để ông an tâm rằng không phải chỉ có một mình ông đau khổ vì dân sự của Chúa mà thôi nhưng chính Ngài biết rất rõ điều đó và sự đau khổ của Ngài còn thấm thía sâu xa hơn nhiều. Đồng thời, Đức Chúa Trời cũng cho Môi-se biết rằng chỉ vì tình thương mà Ngài muốn giải cứu dân sự của Đức Chúa Trời. Không có điều nào chiếm ngự tâm trí và tấm lòng của Đức Chúa Trời hơn là tình yêu của Ngài đối với dân sự của Ngài. Vì thế, điều Đức Chúa Trời mong đợi nơi Môi-se là tấm lòng yêu thương dân sự của Ngài để có thể chịu đựng và lãnh đạo họ.
3/ Khi Đức Chúa Trời muốn giải cứu dân sự của Ngài ra khỏi xứ Ai-cập thì Ngài cần sử dụng một con người. Đức Chúa Trời chẳng có thể giải cứu dân sự của Ngài nếu không sử dụng một con người nào đó. Trong trường hợp này, người đó chính là Môi-se. Chúng ta thấy phản ứng của Môi-se trước việc Đức Chúa Trời sai phái như thế nào. Ông cảm thấy mình quá nhỏ bé so với vua Pha-ra-ôn (c. 11). Chắc có lẽ Môi-se cảm thấy rất sợ hãi phải ra mắt vua Pha-ra-ôn nữa là khác! Nhưng Đức Chúa Trời vẫn vui lòng kiên nhẫn đối với Môi-se trong sự yếu đuối của chính ông. Để cho ông yên lòng về việc Ngài sử dụng cuộc đời ông cho mục đích cao cả này, Đức Chúa Trời ban cho Môi-se một lời hứa về việc dân sự của Ngài sẽ thờ lạy tại núi Si-nai!
Đôi khi chúng ta phải ở trong những hoàn cảnh rất là đen tối và khó khăn của đời sống, rất dễ cho chúng ta nghĩ rằng Đức Chúa Trời không biết rõ những gì chúng ta đang đối diện và đi qua mỗi ngày; Ngài không nghe tiếng rên siết và kêu cầu của chúng ta, và không thấy được những sự hà hiếp của người khác đối với chúng ta trong cuộc sống. Nhưng chúng ta quên rằng Đức Chúa Trời là Đấng cho phép mọi việc xảy ra trong đời sống của mỗi chúng ta thì Ngài biết trước tâm trạng của tấm lòng và tâm trí của chúng ta như thế nào. Đức Chúa Trời có thời điểm giải cứu của Ngài khác với lòng mong ước và thời điểm của chúng ta. Ngài biết khi nào là sự tận cùng của mọi sự việc và của mọi tấm lòng con người. Khi đó Ngài sẽ ra tay giải cứu chính chúng ta và con dân của Ngài.  Nhưng Đức Chúa Trời mong muốn có một người nào đó bằng lòng để cho Ngài sử dụng để làm công việc của Ngài, giải cứu dân sự của Ngài ra khỏi những cảnh trầm luân, khổ não. Người đó sẽ là người bằng lòng mang lấy sự đau khổ của dân sự và có tấm lòng yêu thương như chính Ngài đối với dân sự Ngài. Chúng ta có bằng lòng làm con người đó không?
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin giúp con tiếp tục tin cậy và phó thác đời sống con cho Ngài, an lòng vì biết rằng Ngài biết rõ mọi sự trong đời sống của con. Xin ban cho con sự kiên nhẫn, lòng thuận phục để Ngài có thể làm trọn công việc của Ngài trong đời sống con và sẵn sàng chấp nhận chờ đợi cho đến khi thời điểm Ngài được bày tỏ. Amen!

Thursday, March 2, 2017

NGÔN SỨ LÀ BỤI GAI CHÁY

Xuất Ai-cập (Exodus) 3:1-4
Vả, Môi-se chăn bầy chiên cho Giê-trô, ông gia mình, là thầy tế lễ tại xứ Ma-đi-an; dẫn bầy chiên qua phía bên kia đồng vắng, đến núi của Ðức Chúa Trời, là núi Hô-rếp. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va hiện ra cùng người trong ngọn lửa, giữa bụi gai kia. Người nhìn thấy cả bụi gai đang cháy, nhưng không hề tàn. Môi-se bèn nói rằng: Ta hãy tẻ bước lại đặng xem sự lạ lớn nầy, vì cớ sao bụi gai chẳng tàn chút nào. Ðức Giê-hô-va thấy người tẻ bước lại xem, Ðức Chúa Trời bèn ở giữa bụi gai gọi rằng: Hỡi Môi-se, hỡi Môi-se! Người thưa rằng: Có tôi đây!
Sau khi chạy thoát thân vào đồng vắng để ẩn mình tránh khỏi sự săn đuổi của vua Pha-ra-ôn, Môi-se bắt đầu tạo lập cuộc đời riêng cho mình. Cuộc sống dần dà ổn định với sự giúp đỡ của gia đình vợ là thầy tế lễ Ma-đi-an. Cái ước mơ giải cứu dân Y-sơ-ra-ên coi như tiêu tan như mây khói. Mấy chục năm ăn học những gì khôn ngoan và ưu việt nhất của xứ Ai-cập (Công vụ 7:22), nay dường như vứt sông đổ biển. Bao nhiêu ước mơ vàng của một thời huy hoàng nay bổng dưng trở thành con số không chỉ vì một hành động nông nổi của tuổi trẻ muốn giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. Chỉ trong nháy mắt Môi-se mất tất cả! Cuộc đời Môi-se giống như một chiếc xe đang lao xuống dốc không phanh lại được. Từ một chàng hoàng tử trở thành một tên tử tội. Bây giờ, mỗi sáng thức dậy, tay cầm cây gậy đi quanh quẩn trong đồng vắng để chăn chiên. Cái nghề mà Môi-se có lẽ chẳng bao giờ nghĩ đến chứ đừng nói là ước mơ. Môi-se chết với tất cả, ngay cả chết với chính mình để sống với một con người hoàn toàn khác hẳn. Môi-se ôm trong mình một nỗi đau gặm nhấm làm hao mòn tuổi trẻ. Cái đau của một kẻ có học mà nay chỉ là một anh chăn chiên lang thang từ chỗ này sang chỗ khác. Thôi, đừng ai nói với Môi-se hay nhắc lại cái chuyện đi giải cứu dân tộc của mình nữa. Hãy quên nó đi! Quên tất cả đi, ngay cả có thể quên luôn việc suy nghĩ đến liệu Đức Chúa Trời đứng chỗ nào trong những chuỗi ngày lang bạt của Môi-se và sự đau khổ của dân Y-sơ-ra-ên dưới tay vua Pha-ra-ôn độc ác…
Môi-se dường như chấp nhận số phận và vui với gia đình nhỏ bé của mình: vợ con, công việc lều trại, chăn nuôi mỗi ngày… Bổng dưng một hôm, Môi-se dẫn bầy chiên đi qua bên kia đồng vắng, đến núi của Đức Chúa Trời là Hô-rếp, tức là núi Si-nai. Đang khi đi, Môi-se gặp phải một bụi gai giống như bao nhiêu bụi gai đã từng gặp trong đồng vắng. Nhưng có điều khác lạ trong ngày hôm đó mà cả bao nhiêu năm chăn chiên chưa từng thấy: bụi gay cháy chẳng bao giờ tàn tắt. Vì tính tò mò hiếu kỳ, Môi-se tiến đến gần để quan sát.  Môi-se chẳng bao giờ hiểu rằng chính sự hiện diện của Đức Chúa Trời đã làm cho bụi gai này cháy mà chẳng bao giờ tàn tắt. Ngay giữa bụi gai có tiếng phán của Đức Chúa Trời, kêu đích danh Môi-se. Ông đáp lại rằng: “Có tôi đây.” Thế là cuộc đời của Môi-se thay đổi theo một chiều hướng khác kể từ hôm đó qua biến cố đặc biệt này. Sự đáp ứng của Môi-se với tiếng kêu gọi của Đức Chúa Trời là điều quyết định cho sự thay đổi trong chính cuộc đời của Môi-se, kéo theo cả gia đình của ông.
Tại sao Đức Chúa Trời dùng bụi gai cháy để gặp gỡ và phán với Môi-se về ý định và chương trình của Ngài? Có mối liên hệ rất mật thiết gì giữa bụi gay cháy và chính cuộc đời của Môi-s? Nếu khám phá ra điều này thì chúng ta sẽ nói rằng Đức Chúa Trời có thể sử dụng bất cứ cuộc đời nào và gặp họ bất cứ nôi chốn nào, khi họ bằng lòng đáp ứng lại với tiếng gọi của Ngài.
1/ Bụi gai khô héo làm hình bóng về chính con người và cuộc đời của Môi-se. Kể từ ngày rời bỏ xứ Ai-cập chạy thoát thân, khát vọng muốn sống cho Chúa và giải cứu dân sự của Đức Chúa Trời ngày càng trở nên tàn tắt trong tấm lòng và tâm trí của Môi-se. Lúc này cuộc đời của ông chẳng khác gì bụi gai đã khô hết tất cả nhựa sống của nó, có hình dạng trơ trọi giống như một cây chuổi chà không hơn không kém. Nếu ai đó chặt đi thì cũng phải quăng ra ngoài cho người khác chà đạp lên. Đức Chúa Trời muốn dùng hình ảnh bụi gai này để cho Môi-se đối diện thấy chính con người của mình. Giờ đây, lòng hăng hái và nhiệt thành thời thanh xuân của Môi-se đến lúc đã khô hạn và tàn tắt. Trước đây, Môi-se tưởng rằng với vốn học thức và văn bằng của xứ Ai-cập, với địa vị và quyền thế mình có trong cung điện Pha-ra-ôn, chắc lời mình nói có trọng lượng khiến người ta sẽ nghe theo, việc mình làm chắc người ta sẽ tán thưởng. Nhưng nào ngờ đâu tất cả đi ngược lại. Rồi Môi-e bỏ chạy trốn vào sa mạc hoang vu để cứu lấy mạng sống (Công vụ 7:23-25). Bây giờ Môi-se mới hiểu ra rằng mạng sống mình quý hơn tất cả.
Nghề chăn chiên là điều gớm ghiếc đối với người Ai-cập (Sáng 46:54). Môi-se chịu ảnh hưởng Ai-cập cả 40 năm rất nặng nề, đến nỗi người ta nhìn Môi-se thấy bộ tịch giống người Ai-cập hơn là người Do-thái. Đức Chúa Trời không muốn sử dụng một Môi-se ngồi trong cung điện sung sướng để đi giải cứu dân sự của Ngài. Ngài muốn dùng một Môi-se nếm trải kinh nghiệm cuộc sống như dân sự của Ngài, để ông có thể đồng cảm và học biết chăn dắt dân sự của Ngài qua nghề chăn chiên. Điều ông chẳng thích chút nào, hay thậm chí lấy làm gớm ghê như người Ai-cập nữa là khác. Đó là “trường huấn nhục” Môi-se phải tốt nghiệp để rồi Đức Chúa Trời mới tin cậy trao dân sự của Ngài cho ông chăn dắt!
2/ Nhưng bụi gai cháy và không bao giờ tàn tắt. Nguyên nhân nó cháy mà không tắt là vì có sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa bụi gai. Đức Chúa Trời muốn nói với Môi-se rằng cuộc đời của ông vẫn có thể sống động và bùng cháy với lòng nhiệt thành và tình yêu mới nếu có sự thăm viếng của Chúa và có Ngài hiện diện bên trong. Lòng nhiệt thành của ông đã một lần tàn tắt vì chẳng qua là năng lực xác thịt của chính mình. Lòng nhiệt thành và tình cảm tự nhiên sẽ khiến cho Môi-se ngã gục khi đối diện với sự chống đối và thất bại, tìm cách chạy thoát thân. Môi-se không thể tự mình tạo nên sự nhiệt thành chẳng bao giờ tàn tắt. Nay Chúa làm cho cuộc đời này trở nên sinh động với nguồn năng lực mới. Chỉ bởi năng lực và lòng nhiệt thành từ Chúa ban cho Môi-se mới có thể phục vụ Ngài, đối diện bao nhiêu sự chống đối và sỉ nhục mà ông chẳng bao giờ có thể buông bỏ chức vụ và bầy chiên phản loạn với người chăn chiên. Đức Chúa Trời muốn nói với Môi-se rằng ông sẽ là bụi gai cháy chẳng bao giờ tàn tắt! Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời cho Môi-se gặp Ngài tại bụi gai cháy chẳng bao giờ tàn tắt này.
Năng lực của xác thịt, lòng nhiệt thành của tuổi thanh xuân, niềm tự hào về tri thức và bằng cấp chẳng bao giờ làm cho chúng ta thích hợp với công việc của Đức Chúa Trời. Tất cả những điều này có ngày sẽ phản bội và đánh gục chúng ta nếu chúng ta muốn nương cậy nơi chúng để hầu việc Đức Chúa Trời Hằng sống. Nếu chúng ta muốn phục vụ Chúa và dân sự của Ngài cách kết quả, chẳng có con đường nào khác hơn là bị Ngài đuổi chạy vào trong đồng vắng một thời gian, phải làm điều mình không muốn, ngõ hầu hạ tính kiêu căng và tự ái của con người chúng ta xuống, hút cạn hết cáu cặn của bản ngã và tư dục, và rồi gặp Chúa tại bụi gai cháy trong khúc quanh nào đó của cuộc đời chúng ta. Khi đó, chúng ta sẽ nhỏ nhẹ và khiêm cung nói với Chúa rằng: “Có con đây! Xin hãy sai con.”
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con gặp Ngài tại bụi gai cháy mỗi ngày để được Ngài làm mới lại lòng yêu mến Chúa và phục vụ Ngài. Amen!