Thursday, August 24, 2017

TRƯỜNG HUẤN LUYỆN MÔN ĐỒ

Kinh Thánh: Ca-thương (Lamentations) 3:22-27
Ấy là nhờ sự nhơn từ Ðức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm. Hồn ta nói: Ðức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài. Ðức Giê-hô-va ban sự nhơn từ cho những kẻ trông đợi Ngài, cho linh hồn tìm cầu Ngài. Thật tốt cho người trông mong và yên lặng đợi chờ sự cứu rỗi của Ðức Giê-hô-va. Thật tốt cho người mang ách lúc trẻ thơ.
Dưỡng linh:
Tiên tri Giê-rê-mi và dân sự của Đức Chúa Trời sống trong cảnh lưu đày tại xứ Ba-by-lôn một thời gian khá dài. Suốt thời gian này, họ chứng kiến và chịu đựng biết bao cảnh ngang trái và bất công của người Ba-by-lôn đối xử với dân sự của Ngài. Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho dân ngoại chà đạp lên dân mà Ngài tuyển chọn như vậy? Trong khi đó, nếu kể ra thì sự gian ác của dân Ba-by-lôn lớn gấp bao nhiêu lần so với tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên! Dường như có những lúc tiên tri của Chúa và dân sự của Ngài cảm thấy lời cầu nguyện của mình không được nhậm, sự than thở của tấm lòng của họ chẳng được Chúa quan tâm. Tiên tri Giê-rê-mi và dân sự Đức Chúa Trời mong ước rằng Ngài sẽ ra tay giải cứu ngay lập tức. Nhưng Chúa dường như hoàn toàn yên lặng. Ngược lại, tình huống ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Đức Chúa Trời dùng dân Ba-by-lôn như cây roi quất vào lưng của dân Y-sơ-ra-ên như là sự báo thù về tội thờ lạy thần tượng của họ. Trong hoàn cảnh như thế, Giê-rê-mi và dân sự của Đức Chúa Trời không còn cách gì khác hơn là quay hướng về với Ngài để tìm kiếm sự an ủi và câu trả lời cho vấn nạn của họ.
Nhìn lại những ngày tháng sống trong chốn lưu đày, xa quê cha đất tổ, không nơi thờ phượng và dâng của tế lễ cho Đức Chúa Trời, tiên tri Giê-rê-mi vẫn có thể nói rằng: “Ấy là nhờ sự nhơn từ của Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt.” Mặc dầu dân sự của Chúa phạm tội và bị lưu đày. Nhưng ngay trong chốn khốn cùng này họ khám phá ra rằng lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục tuôn đổ trên đời sống của dân sự Ngài, bảo vệ và ban phước cho họ. Nếu không có sự thương xót của Chúa thì đời sống của họ chẳng có thể tồn tại. Đức Chúa Trời dùng những ngày hoạn nạn và khốn cùng để cho họ thấy được sự nhơn từ và lòng thương xót của Ngài đối với dân được chuộc của Ngài là thế nào. Mỗi buổi sáng thức dậy, tiên tri và dân sự của Ngài đón nhận một ngày mới như món quà Chúa ban cho, biểu lộ sự thành tín của Ngài đối với họ. Nếu Đức Chúa Trời không thành tín, chắc chắn họ đã bị tuyệt diệt từ lâu rồi. Nhờ sự thành tín của Đức Chúa Trời, dân sự vẫn còn tồn tại và sống còn qua những năm tháng hoạn nạn và thử thách dưới tay tàn ác của dân Ba-by-lôn.
Trong hoàn cảnh nghiệt ngã đó, tiên tri Giê-rê-mi tìm ra cho mình một phương cách để đối diện với thực tại đau khổ của đời sống của chính mình và của dân sự Đức Chúa Trời. Đó là Giê-rê-mi tự nói với chính mình rằng: “Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài.” Đức Chúa Trời chọn dân Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp thuộc riêng về Ngài. Tại đây, tiên tri Giê-rê-mi tuyên bố rằng Ngài là cơ nghiệp của ông. Đó là lý do tại sao ông để lòng trông cậy nơi Ngài trong những ngày đen tối nhất của lịch sử dân sự của Đức Chúa Trời. “Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp” có nghĩa Ngài là tất cả của Giê-rê-mi khi mà tất cả mọi sự chung quanh đều bị kẻ thù tước đoạt. Đức Chúa Trời đã dẫn ông vào trong một kinh nghiệm vô cùng quý báu trong đời sống theo Chúa và phục vụ Ngài. Nếu không có những ngày hoạn nạn và mất mát thì làm sao tiên tri Giê-rê-mi có thể kinh nghiệm Đức Chúa Trời là cơ nghiệp của ông?
Chẳng những Giê-rê-mi nói với chính mình rằng Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của ông và dân sự Ngài, mà ông còn nói rằng những ai trông đợi Chúa và tìm cầu mặt của Ngài thì người đó sẽ khám phá ra sự nhơn từ của Ngài. Chính sự nhơn từ của Chúa tiếp tục nắm giữ cuộc đời của người ngửa trông, tin cậy và tìm cầu mặt của Ngài trong những ngày đen tối nhất của cuộc đời. Càng tìm kiếm mặt Chúa bao nhiêu, người tìm cầu Ngài càng có sức mạnh để có thể bước qua những chặng đường gian nan của cuộc đời. Với kinh nghiệm của bản thân mình, tiên tri Giê-rê-mi nói: “Thật tốt cho người trông mong và yên lặng chờ đợi sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va.” Khi một người học tập tin cậy và trông đợi Đức Chúa Trời vì biết rằng Ngài là Đấng biết hết tất cả mọi sự và nắm quyền tể trị tuyệt đối trên muôn loài vạn vật, thì người đó sẽ yên lặng chờ đợi sự giải cứu của Ngài. Yên lặng chờ đợi Đức Chúa Trời giải cứu không phải là một việc dễ vì bản tánh con người luôn luôn nôn nóng và muốn mọi việc phải được giải quyết ngay, càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời biết sức chịu đựng của mỗi người, biết thời điểm khi nào cần được giải cứu để mang lại ích lợi nhất cho kẻ trông đợi Ngài.
Một nguyên tắc thuộc linh vô cùng quan trọng mà tiên tri Giê-rê-mi nêu ra ở đây: “Thật tốt cho người mang ách lúc còn thơ.” Nếu một người không được Chúa huấn luyện để mang ách từ lúc còn trẻ thì khi trở về già càng khó nhịn nhục và chịu đựng nỗi những thử thách hoạn nạn. Đức Chúa Trời muốn dùng một người vào trong công việc lớn của Chúa thì Ngài sẽ chuẩn bị người đó bằng những kinh nghiệm đau khổ và đè nén, để rồi khi được Chúa cất nhắc lên thì có thể chịu đựng được những thử thách và sức đè nén lớn hơn trong chức vụ. Thật nguy hiểm cho những người được đặt vào trong những chức vụ và vị trí quan trọng nhưng chưa được Chúa huấn nhục thì sẽ dễ dàng thất bại khi đối diện với những sức ép của đời sống cá nhân và chức vụ. Khi đó, người ấy sẽ gây ra biết bao nhiêu điều đau buồn và tai hại cho chính mình, gia đình, và hội thánh của Đức Chúa Trời.
Không có một điều nào Đức Chúa Trời làm cho chúng ta và cho phép xảy ra trong đời sống chúng ta là vô ích, nhất là những thử thách, hoạn nạn, đau buồn, bịnh tật. Có những điều là do hậu quả tội lỗi chúng ta gây ra. Nhưng cũng có những điều không phải do chúng ta gây ra, mà do Đức Chúa Trời muốn thử thách và luyện lọc chúng ta trở nên tinh ròng hơn cho Ngài, chuẩn bị chúng ta cho công việc nào đó Chúa muốn sử dụng. Điều quan trọng là thái độ chúng ta như thế nào khi đối diện với những điều Chúa cho phép xảy ra. Chúa muốn phát triển trong chúng ta lòng tin cậy Chúa, ngửa trông và chờ đợi sự cứu rỗi của Ngài. Chính lòng nhơn từ, thương xót và thành tín của Đức Chúa Trời là chỗ dựa cho cuộc đời chúng ta trong những ngày đen tối của khó khăn và thử thách. Nếu chúng ta chịu đựng trong sự yên lặng và sẵn sàng chịu mang ách của Chúa từ lúc còn trẻ tuổi, thì chắc chắn rằng khi chúng ta trở nên lớn tuổi thì đã rành rọt và lão luyện trong chiến trận thuộc linh mà Đức Chúa Trời đem đến và khi đó chúng ta là kẻ đắc thắng thay vì thất bại, gây dựng thay vì phá đổ, chúc phước thay vì rủa sả cho chính mình, gia đình mình, và hội thánh của Đức Chúa Trời.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin giúp con và nhắc nhở con nhớ rằng Ngài có chương trình tốt đẹp lâu dài cho đời sống con, khi Ngài đẹp lòng dẫn con qua những chặng đường hoạn nạn và đau thương của cuộc đời. Xin ban cho con sức mạnh thuộc linh để bước theo Ngài với tấm lòng trông cậy, với tâm trí sáng suốt để tin quyết, và với tình cảm mạnh mẽ để yên lặng chờ đợi sự giải cứu của Ngài. Chúa ôi! xin cho con bằng lòng mang ách của Ngài và học theo Ngài mỗi ngày, cho đến chừng con được trưởng thành trong Chúa để có thể gánh vác những công việc nhà Ngài. Xin cho con khám phá sự thành tín của Ngài mỗi buổi sáng trong cuộc đời còn lại của con. Amen!

Thursday, August 17, 2017

GIÁ PHẢI TRẢ CỦA SỰ KHÔNG VÂNG LỜI

Kinh Thánh: 1 Sa-mu-ên (Samuel) 28:15-19
Sa-mu-ên hỏi Sau-lơ rằng: Nhân sao ngươi quấy sự yên tịnh ta mà gọi ta lên? Sau-lơ đáp: Tôi bị hoạn nạn lớn; vì dân Phi-li-tin tranh chiến với tôi, và Ðức Chúa Trời đã lìa khỏi tôi. Ngài không trả lời cho tôi, hoặc bởi các đấng tiên tri, hoặc bởi chiêm bao. Vậy, tôi đã vời ông lên, để ông bảo cho tôi biết điều tôi phải làm. Sa-mu-ên đáp: Nhân sao ngươi cầu vấn ta, bởi vì Ðức Giê-hô-va đã lìa khỏi ngươi và trở nên thù nghịch ngươi? Ðức Giê-hô-va làm y như Ngài đã phán bởi miệng ta. Ðức Giê-hô-va đoạt lấy nước khỏi tay ngươi mà ban cho kẻ lân cận ngươi là Ða-vít. Ngươi không vâng theo lời phán của Ðức Giê-hô-va và không làm cho A-ma-léc cảm biết cơn giận phừng của Ngài; vì cớ đó nên ngày nay Ðức Giê-hô-va đãi ngươi cách nầy. Vả lại, Ðức Giê-hô-va sẽ phó Y-sơ-ra-ên và ngươi vào tay dân Phi-li-tin. Ngày mai ngươi và các con trai ngươi sẽ ở một nơi với ta. Ðức Giê-hô-va cũng sẽ phó đạo binh Y-sơ-ra-ên vào tay dân Phi-li-tin.

Vua Sau-lơ bắt đầu cuộc đời chức vụ của mình thật tốt đẹp với tâm tình nhu mì khiêm nhường vì biết mình chẳng ra gì mà được Đức Chúa Trời chọn để chăn dắt dân sự của Ngài. Nhưng sau 20 năm, Sau-lơ trở thành một vị vua kiêu ngạo, chẳng bao giờ biết ăn năn lỗi lầm của mình đã phạm, lao mình vào con đường của lòng ganh tị với Đa-vít là người được Đức Chúa Trời dùng hơn mình. Từ tội này dẫn đến tội khác, ngày càng nghiêm trọng hơn. Kết quả là Sau-lơ đã bị thần Đức Giê-hô-va lìa bỏ và ác thần nhập vào ông. Trong cảnh cùng khốn của cuộc đời và đất nước bị quân Phi-li-tin hãm hiếp, Sau-lơ đi cầu hỏi ý muốn của Đức Chúa Trời nhưng không được Ngài đáp lời. Cuối cùng ông quay sang đi cầu bà bóng để mong rằng nhận được sự hướng dẫn trong lúc lâm nguy. Điều đáng buồn là chính Sau-lơ trước đây đã ra tay trừ khử thành thờ ma lạy quỷ và tội lỗi như bà bóng này. Nhưng khi tâm linh suy bại và sa sút thì chính ông lại đi tìm những gì mình đã phá bỏ trước đây. Khi rơi vào tình trạng thuộc linh sa sút, Sau-lơ đã làm điều mà khi yêu mến Chúa chính ông đã lên án và đả phá kịch liệt. Thái độ của Sau-lơ đối với tội lỗi phơi bày bản chất và tình trạng thuộc linh của ông.
Khi vua Sau-lơ đi cầu bà bóng thì đã gặp “tiên tri Sa-mu-ên” xuất hiện theo yêu cầu của ông. Khi Sa-mu-ên hiện ra thì ông cho vua Sau-lơ biết những điều vô cùng quan trọng sau đây:
1/ Vì vua Sau-lơ đã lìa bỏ Đức Chúa Trời cho nên Ngài lìa bỏ và biến ông trở thành kẻ thù của Ngài (c. 16). Saul-lơ bây giờ trở nên tệ hại hơn nhiều so với trước đây. Đức Chúa Trời đã để ông và dân sự của Ngài rơi vào trong hoạn nạn lớn không có lối thoát, để qua đó chính ông khám phá ra những gì còn lại trong đời sống của mình và Đức Chúa Trời ở đâu trong đời sống của ông và dân sự của Ngài. “Sự kiêu ngạo đi trước và sự bại hoại theo sau.” Sau-lơ đã phải trả giá quá đắt cho lòng kiêu ngạo và ganh tị của ông.
2/ Đức Chúa Trời đã lấy nước Y-sơ-ra-ên mà ông đang cai trị để giao qua cho Đa-vít là người theo lòng của Ngài (c. 17). Sau-lơ được Đức Chúa Trời chọn để chăn dắt dân sự của Ngài. Nhưng khi ông không canh giữ đời sống của mình, làm điều sai trật trước mặt Chúa và không chịu ăn năn thì Ngài đã lấy dân sự của Ngài lại để giao cho người khác có tấm lòng yêu mến Chúa và yêu mến dân sự của Ngài hơn ông. Sau-lơ không coi trọng bầy chiên của Chúa thì Ngài không còn tin cậy giao bầy chiên đó cho Sau-lơ chăn.
3/ Nguyên nhân sâu xa của việc Đức Chúa Trời quyết định gạt gỏ cuộc đời của Sau-lơ là khi ông gạt bỏ Lời của Đức Chúa Trời bảo ông đi giết dân A-ma-léc và tiêu diệt hết tất cả vật hóa tài và vua A-ma-léc. Đức Chúa Trời trách Sau-lơ tại sao ông không cho dân A-ma-léc thấy được cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đối với họ như thế nào (c. 18). Việc Sau-lơ không vâng lời Đức Chúa Trời bày tỏ cho thấy rằng ông coi thường và khinh bỉ Ngài. Vì Sau-lơ coi trọng chính mình và khinh dể Đức Chúa Trời cho nên Ngài đã từ khước chính ông và khiến ông trở thành sự khinh dể đối với cho mọi người. Sau-lơ khinh bỉ Đức Chúa Trời thì Ngài khiến dân sự khinh bỉ ông.
4/ Chẳng những Sau-lơ phải lãnh lấy những gì ông gieo nhưng ngay cả con cái của ông cũng đồng chung một số phận với ông. Hơn thế nữa, Đức Chúa Trời cũng phó cả đạo binh của dân Y-sơ-ra-ên vào trong tay kẻ thù của họ là dân Phi-li-tin (c. 19). Khi Đức Chúa Trời ban cho Sau-lơ địa vị cao trọng thì cả nhà của ông được hưởng sự cao trọng đó. Cả dân sự Đức Chúa Trời cũng được phước qua việc Ngài chọn Sau-lơ. Nhưng khi Sau-lơ sa bại, thì sự sa bại đó cũng bao trùm trên cả gia đình và dân sự của Đức Chúa Trời. Đó là nguyên tắc của Đức Chúa Trời đối với những người lãnh đạo dân sự của Ngài.
Ngày xưa vua Sau-lơ còn dễ dàng bị rơi vào trong tình huống đen tối và khủng khiếp vì sự cứng cõi, kiêu ngạo, và ganh tị của ông. Huống thay chúng ta ngày nay có gì bảo đảm rằng chúng ta không bị rơi vào những tội lỗi và sự trừng phạt của Đức Chúa Trời giống như Sau-lơ? Khi nào chúng ta bắt đầu không biết vâng lời Đức Chúa Trời và khinh dể Ngài, đó là lúc chúng ta bắt đầu bước theo con đường của Sau-lơ. Khi Đức Chúa Trời lìa bỏ chúng ta rồi thì Ngài trở thành kẻ thù của chúng ta và lời cầu nguyện của chúng ta chẳng bao giờ được Ngài nhậm. Lúc ấy, chúng ta sẽ quay lại làm những điều tội lỗi mà chính chúng ta trước đây đã lên án và đả phá cách mạnh mẽ và tìm cách hủy diệt nó. Chắc chắn rằng cuộc đời chúng ta sẽ bước qua những ngày đen tối trong đời sống tâm linh, mặc dầu về phương diện hình thức chúng ta vẫn còn nắm giữ những công việc và chức vụ quan trọng như Sau-lơ. Nhưng có thể Đức Chúa Trời đã lìa bỏ chúng ta từ lâu rồi. Sự rủa sả của Đức Chúa Trời không phải chỉ dừng lại trong chính chúng ta mà còn đi xa hơn điều chúng ta tưởng. Nó sẽ giáng trên gia đình và những người liên hệ đến chúng ta cho đến chừng chúng ta bị diệt mất! Vì vậy, cầu xin Chúa thương xót ban cho chúng ta tấm lòng mềm mại, nhu mì khiêm nhường biết ăn năn trước khi quá trễ.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, con cầu xin Ngài thương xót con tùy theo lòng nhơn từ của Ngài. Xin giúp con nhìn thấy và nhận ra được những tội lỗi và sự quá phạm của mình ngay từ khi con bắt đầu bước vào con đường không vâng lời và chống nghịch lại với Ngài. Xin tha thứ cho con những điều con biết cũng như những điều con không biết mà con đã phạm khinh dể chính Ngài. Xin Thần Linh của Chúa tiếp tục hành động trong tấm lòng của con để khiến nó trở nên mềm mại, tan chảy và đầu phục luôn luôn. Amen!

Thursday, August 3, 2017

NGUY CƠ THUỘC LINH


Kinh Thánh: Mác (Mark) 7:5-8
Vậy, các người Pha-ri-si và các thầy thông giáo hỏi Ngài rằng: Sao môn đồ thầy không giữ lời truyền khẩu của người xưa, dùng tay chưa tinh sạch mà ăn như vậy? Ngài đáp rằng: Hỡi kẻ giả hình, Ê-sai đã nói tiên tri về việc các ngươi phải lắm, như có chép rằng: Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra. Các ngươi bỏ điều răn của Ðức Chúa Trời, mà giữ lời truyền khẩu của loài người!
Dưỡng linh:
Chúa Jesus luôn luôn là nhân vật đối kháng mãnh liệt với cả một hệ thống Do-thái giáo, đặc biệt là đối với những nhà lãnh đạo giáo hội giả hình thời bấy giờ. Chúa Jesus không ngần ngại vạch trần con người của họ và chỉ cho họ thấy căn bịnh ung thư thuộc linh đã ăn ruồng đến tận xương tủy và đang làm cho cả giáo hội chết lần chết mòn. Do-thái giáo bắt đầu với những điều vô cùng tốt đẹp, dựa trên luật pháp của Đức Chúa Trời ban bố qua Môi-se. Nhưng rồi dần dà khi hệ thống tổ chức tôn giáo ngày càng trở nên phức tạp, phẩm trật thêm vào, vấn đề giải nghĩa luật pháp trở nên đa dạng, Do-thái giáo đã bị biến chất hồi nào không hay. Từ trong luật pháp Môi-se truyền lại, họ giải nghĩa và thêm thắt vào biết bao chi tiết phụ và  chính những chi tiết này dẫn họ đi xa rời chánh lộ. Đến một lúc, thay vì luật lệ của giáo hội được dựa trên Lời của Đức Chúa Trời, các nhà lãnh đạo tôn giáo lấy luật lệ của giáo hội làm tiêu chuẩn trong mọi lối hành xử của mình. Khi đó, Lời của Đức Chúa Trời không còn chiếm địa vị độc tôn trong đời sống tâm linh của dân sự Đức Chúa Trời; nó trở thành một thứ nước mắm pha loãng và được nêm nếm vào bởi những thứ gia vị khác của điều luật tôn giáo do con người đặt ra. Nhìn bề ngoài tưởng chừng việc thờ phượng Đức Chúa Trời của họ có vẻ ổn thỏa nhưng kỳ thực nó đã đánh mất đi cốt lỏi đó là sự hiện diện của tấm lòng chân thành ra từ sự nắm giữ Lời của Đức Chúa Trời cách không nhân nhượng. Đứng đối diện với tình trạng băng hoại thuộc linh của họ, Chúa Jesus buộc lòng phải lên tiếng phản đối cách kịch liệt. Những lời lẽ của Chúa Jesus thốt ra không có dính dấp bóng dáng nào của sự hòa hoãn để lấy lòng con người hay sự dung hòa để cầu an cho chính mình. Ba lần Chúa Jesus nhắc đi nhắc lại: “các ngươi bỏ điều răn của Đức Chúa Trời, mà giữ lời truyền khẩu của con người” hay “các ngươi lấy lời truyền khẩu mình lập ra mà bỏ mất Lời Đức Chúa Trời” (c. 8, 9, 13). Rõ ràng rằng những nhà lãnh đạo Do-thái giáo lúc bấy giờ đã xếp Lời Đức Chúa Trời vào hàng thứ yếu và nâng lời truyền khẩu hay lời giải nghĩa kinh điển của họ trở thành thứ chính. Qua câu chuyện Chúa Jesus đối chất với những nhà lãnh đạo Do-thái giáo về vấn đề tuân giữ giới luật Chúa truyền dạy, chúng ta rút ra được một số điểm sau đây:
1/ Sự thờ phượng Đức Chúa Trời và sự tuân giữ Lời của Ngài luôn luôn có nguy cơ bị biến trở thành một món hàng tôn giáo giả hiệu. Ma quỷ rất khôn ngoan chẳng bao giờ bảo chúng ta không nên thờ phượng và tuân giữ Lời Đức Chúa Trời, vì nó dư biết rằng nhiều người trong chúng ta sẽ có phản ứng rất mạnh mẽ và sẵn sàng sống chết cho điều mình tin! Nói cách khác: chúng ta biến việc tuân giữ Lời Đức Chúa Trời và cung cách thờ phượng Đức Chúa Trời trở thành món hàng giả hiệu được bày bán giữa chợ tôn giáo. Nhìn bề ngoài của hai món hàng như nhau nhưng bản chất bên trong hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt giữa hai món hàng đó là gì? Há chẳng phải là ma quỷ tìm đủ mọi cách lấy đi tấm lòng của chúng ta ra khỏi tất cả sinh hoạt tôn giáo của chúng ta hay sao? Con người dễ dàng thích thú với những gì bề ngoài vì đó là điều ai cũng thấy và dễ nhận được sự tán thưởng của người khác. Vì thế, ma quỷ biết điểm yếu của con người chúng ta chỗ nào và nó cuốn hút chúng ta vào trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời chỉ bằng hình thức, mà bên trong hoàn toàn trống rỗng mối liên hệ giữa chúng ta với Ngài. Đúng như điều Chúa Jesus nói: “Dân này lấy môi miếng tôn kính ta, nhưng lòng chúng nó cách xa ta lắm” (c. 6). Ma quỷ khiến chúng ta tự thỏa mãn trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời vì có nhiều người tham dự, chương trình phong phú và hấp dẫn, nhận được nhiều sự tán thưởng và tung hô của con người. Nhưng sau khi thờ phượng trở về, lòng chúng ta vẫn buồn thảm và trống vắng. Hoặc giả sau khi đã “trình diễn thờ phượng” xong, chúng ta bị người khác chỉ trích vì một lý do nào đó, khi ấy những “niềm vui” của sự thờ phượng tan biến theo mây khói và đọng lại trong lòng chúng ta một nỗi buồn nặng trĩu và cay đắng. Đó chính là dấu hiệu của sự thờ phượng Đức Chúa Trời giả hiệu. Sự thờ phượng chân thật là sự thờ phượng mà trong đó chúng ta được chính Chúa đụng chạm đến nơi sâu thẩm của linh hồn và quyền năng của Chúa Thánh Linh kéo chúng ta đến gần Ngài và lẽ thật của Đức Chúa Trời bắt đầu tỉa sửa và biến đổi chúng ta. Sự thờ phượng thật là khi rời khỏi hàng băng ghế nhà thờ, lòng cảm thấy khoan khoái và tràn ngập niềm vui của thiên đàng vì trong chỗ kín nhiệm của tấm lòng và tâm trí chúng ta chạm được sông nước hằng sống của Đức Chúa Trời và được mãn nguyện thật sự.
2/ Sự thờ phượng Đức Chúa Trời chân chính luôn luôn có khuynh hướng bị chi phối và dẫn dụ bởi những điều không phải hoàn toàn ra từ Đức Chúa Trời và Lời của Ngài. Chúa Jesus phán: “Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra” (c. 7). Có bao nhiêu lần chúng ta đến trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời và ra về mà tự hỏi rằng: “bao nhiêu điều tôi thờ phượng Đức Chúa Trời ngày hôm nay xuất phát từ ‘tâm thần và lẽ thật?’”Cung cách của sự thờ phượng và hình thức của nó cần phải được cải tiến theo một ý nghĩa tích cực hầu làm cho người đến trong sự thờ phượng thấy được sự thích thú để được kéo đến gần Đức Chúa Trời. Nhưng tất cả những điều này phải được kiểm chứng bằng Lời của Đức Chúa Trời. Khi nào Đức Chúa Trời không còn là đối tượng duy nhất của sự thờ phượng của chúng ta và Lời của Ngài không còn là kim chỉ nam để hướng dẫn sự thờ phượng Chúa của chúng ta, khi đó chúng ta đang đứng trước nguy cơ của sự thờ phượng giả hiệu.
3/ Sự thờ phượng Đức Chúa Trời dễ dàng bị đánh lừa bởi truyền thống của giáo hội. Chúa Jesus lên tiếng về việc những nhà lãnh đạo Do-thái tuân giữ lời truyền khẩu mà tưởng rằng mình đang xây dựng sự thờ phượng Đức Chúa Trời theo điều răn của Ngài. Không có gì tệ hại hơn cho bằng việc chúng ta bị người khác đánh lừa hay mình đi đánh lừa người khác về niềm tin tôn giáo. Ma quỷ thường hay đánh lừa và đổi tráo những gì có vẻ giống nhau. Chẳng hạn tại đây, những nhà lãnh đạo tôn giáo bị đánh lừa bởi những gì thuộc về truyền thống nhưng cứ ngỡ là ra từ Lời của Ngài. Truyền thống của giáo hội không thể đi ngược Lời Đức Chúa Trời hay biến nó trở thành thứ yếu. Khi con người bắt đầu thêm thắt vào Lời chân chính của Đức Chúa Trời và nền thần học chính thống của Hội Thánh Đức Chúa Trời, khi đó con người đã bắt đầu lao mình vào cuộc phiêu lưu táo bạo và gây nguy hiểm đến tánh mạng thuộc linh của chính mình và những người nương dựa vào mình để được gây dựng.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cứu con ra khỏi bất cứ nguy cơ của hình thức tôn giáo giả hiệu trong đời sống cá nhân và chức vụ của con. Xin ban cho con sự nhạy bén của Chúa Thánh Linh để biện biệt giữa sự thật và sự giả trong một bối cảnh hội thánh có quá nhiều đổi thay và đa dạng vì sự phức tạp về thần học của sự thờ phượng. Xin ban cho con tấm lòng trung thành với Lời Hằng Sống của Ngài và can đảm rao giảng nó ra để có thể cứu những cuộc đời đang lầm đường lạc lối sớm trở về với Đấng chăn giữ linh hồn mình. Amen!

Thursday, July 20, 2017

CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CUỘC ĐỜI


Kinh Thánh: Ma-thi-ơ (Matthew) 7:24-27
Vậy, kẻ nào nghe và làm theo lời ta phán đây, thì giống như một người khôn ngoan cất nhà mình trên hòn đá. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy; song không sập, vì đã cất trên đá. Kẻ nào nghe lời ta phán đây, mà không làm theo, khác nào như người dại cất nhà mình trên đất cát. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy, thì bị sập, hư hại rất nhiều.
Dưỡng linh:
Trong những câu Kinh Thánh trên Chúa Jesus vẽ ra cho chúng ta thấy mỗi cuộc đời con người là một công trình xây dựng. Vật liệu chúng ta dùng để xây dựng bao gồm: tư tưởng, lời nói, và hành động mỗi ngày. Đối với Chúa Jesus, chỉ có hai hình ảnh về hai số phận khác nhau của con người tùy thuộc vào thái độ và tấm lòng của mỗi người đối với lời của Chúa. Tại đây Chúa Jesus đưa cho chúng ta nguyên tắc rất quan trọng trong việc xây dựng cuộc đời của mỗi người: cuộc đời xây dựng bằng những vật liệu xuất phát từ lòng kính sợ Đức Chúa Trời, dựa trên Lời của Ngài thì sẽ đứng vững trước những phong ba bão táp của cuộc đời. Ngược lại, cuộc đời được xây dựng bằng những vật liệu của lòng bất kính và không vâng phục đối với Lời Đức Chúa Trời, chắc chắn sẽ không thể đứng nỗi trước những thách thức nghiệt ngã của cuộc đời.  
Tất cả mọi cuộc đời đều sẽ trải qua những cuộc thử nghiệm để chứng minh rằng cuộc đời đó được xây dựng bằng vật liệu gì? Suy nghĩ, lời nói và việc làm của người đó dựa trên điều gì? Chỉ có khi nào “mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy” thì nền tảng căn bản của căn nhà mới được bộc lộ ra. Lúc bình thường không ai nhìn thấy nền móng của căn nhà. Người ta chỉ thấy những vẻ hào nhoáng và đẹp đẽ bên ngoài của nó. Nhưng khi có sóng gió ba đào ập đến, lúc ấy nền móng của ngôi nhà sẽ lộ ra cách rõ ràng. Khi chúng ta cố gắng xây dựng cuộc đời của chúng ta bằng lòng tin kính Chúa, sống theo những nguyên tắc của Lời Chúa trong mọi khía cạnh của đời sống, gieo rắc những lời nói và việc làm xuất phát từ lòng kính sợ Chúa, chắc chắn rằng chúng ta sẽ chẳng bao giờ ngã quỵ dưới những thách thức, cám dỗ của cuộc đời tìm cách vùi dập đời sống cá nhân và gia đình chúng ta. Nhưng nếu chúng ta xây dựng chính cuộc đời của mình và gia đình mình bằng những tư tưởng không kính sợ Chúa, gieo rắc những lời nói và việc làm không xuất phát từ lòng kính sợ Chúa, chắc chắn rằng không chóng thì chày, chúng ta sẽ ngã quỵ trước sóng gió bão tố của cuộc đời. Khi ấy, cả con người chúng ta sẽ bị lột trần và phơi bày ra cho mọi người đều thấy.
Đời sống con người là sự tích lũy của nhiều tư duy suy nghĩ, lời nói và việc làm qua nhiều năm tháng. Chính vì thế, khi đối diện với thử thách xảy đến chẳng bao giờ báo trước, thì phản ứng của mỗi người sẽ là bông trái tự nhiên của sự tích lũy lâu dài này. Đó không phải là sự xuất hiện đường đột của bản tính con người. “Mưa xa, nước chảy, gió lay động” là những động thái của thiên nhiên tất phải có trong vũ trụ này. Giống như những biến cố thiên nhiên xảy ra thử nghiệm những căn nhà do con người xây nên thể nào, Đức Chúa Trời dùng những hoạn nạn, thử thách, cám dỗ để thử nghiệm bản chất thuộc linh của con cái của Ngài thể ấy. Có những cuộc đời khi đối diện với thử thách, cám dỗ thì càng vững vàng và mạnh mẽ hơn vì đã xây dựng cuộc đời của mình trên nền tảng của Lời Chúa và lòng kính sợ Ngài. Ngược lại, có những cuộc đời lại bị sụp đổ hoàn toàn hay một phần nào đó vì đã xây dựng cuộc đời mình trên những lời nói và việc làm không theo Lời Chúa dạy và không có lòng kính sợ Ngài. Kỳ thật, không phải lúc đó cuộc đời của họ mới sụp đổ nhưng đã bị mối mọt gặm nhấm từ lâu nay mà không hay biết.
Mỗi người chúng ta chỉ có một cuộc đời. Không ai có hai cuộc đời. Vì vậy, chúng ta nhờ ơn Chúa xây dựng cuộc đời mình với những điều tốt đẹp, thiện hảo, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh xa điều ác. Có thể rằng trước mắt vì quyết tâm xây dựng cuộc đời của mình trên lời Chúa và lòng kính sợ Ngài, “căn nhà” của chúng ta có vẻ nghèo nàn hơn “căn nhà” của người không kính sợ Đức Chúa Trời. Cuộc đời của họ và gia đình của họ dường như thạnh vượng và may mắn hơn chúng ta nhiều. Điều này dễ dàng làm cho chúng ta chán nãn và mất lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời và Lời của Ngài. Nhưng xin đừng lo lắng và buồn phiền. Trong những lúc như vậy, hãy lắng lòng xuống và nghe lời khích lệ của tác giả Thi thiên 37 như sau:
Chớ phiền lòng vì cớ kẻ làm dữ, cũng đừng ghen tị kẻ tập tành sự gian ác.
Vì chẳng bao lâu chúng nó sẽ bị phát như cỏ, và phải héo như cỏ tươi xanh.
Hãy tin cậy Ðức Giê-hô-va, và làm điều lành; Khá ở trong xứ, và nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài.
Cũng hãy khoái lạc nơi Ðức Giê-hô-va, thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước.
Hãy phó thác đường lối mình cho Ðức Giê-hô-va, và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy.
Ngài sẽ khiến công bình ngươi lộ ra như ánh sáng, và tỏ ra lý đoán ngươi như chánh ngọ.
Hãy yên tịnh trước mặt Ðức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài. Chớ phiền lòng vì cớ kẻ được may mắn trong con đường mình, hoặc vì cớ người làm thành những mưu ác.
Hãy dẹp sự giận, và bỏ sự giận hoảng; Chớ phiền lòng, vì điều đó chỉ gây ra việc ác.
Vì những kẻ làm ác sẽ bị diệt; Còn kẻ nào trông đợi Ðức Giê-hô-va sẽ được đất làm cơ nghiệp.
Một chút nữa kẻ ác không còn. Ngươi sẽ xem xét chỗ hắn, thật không còn nữa.
Song người hiền từ sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp, và được khoái lạc về bình yên dư dật.

Nguyện Chúa ban cho chúng ta lòng nhịn nhục để tiếp tục theo Chúa, làm theo Lời của Ngài dẫu trước mắt chúng ta có quá nhiều điều bất công, nhiễu nhương, sai trái. Nhưng đừng ngã lòng. Sứ đồ Phao-lô khuyên lơn và khích lệ chúng ta như sau:
Chớ hề dối mình; Ðức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt. Vậy, đương lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhứt là cho anh em chúng ta trong đức tin (Ga-la-ti 6:7-10).
Hãy tìm kiếm những vật liệu còn lại đời đời để xây dựng cuộc đời của chúng ta thì chắc chắn rằng cuộc đời của chúng ta sẽ đứng vững và còn lại đời đời sau những trận phong ba bão táp do ma quỷ kéo đến, hòng tìm cách tàn diệt cuộc đời và gia đình của chúng ta. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ chống đỡ và bảo vệ cuộc đời của chúng ta và dòng dõi những người kính sợ Ngài. Thật tạ ơn Chúa!
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin Ngài giúp cho mỗi ngày biết xây dựng cuộc đời của mình bằng những “lời hay ý đẹp” vừa lòng Chúa, bằng những việc làm xứng hợp với Lời của Ngài. Chúa ôi, xin cứu con khỏi sự chán nãn và sự thối lui trong đức tin, để rồi từ bỏ xây dựng cuộc đời mình theo ý muốn của Ngài mà xoay qua muốn xây dựng cuộc đời mình bằng cách học đòi thói gian manh của thế gian, mau qua chóng tàn. Xin cho con thêm lòng kiên nhẫn và nhịn nhục để tiếp tục sống và theo đuổi nếp sống thánh khiết, công chính, yêu thương. Amen!

Thursday, July 13, 2017

QUÁ TỐT ĐỂ CẢM THÔNG VÀ YÊU THƯƠNG

Kinh Thánh: Lu-ca (Luke) 15:25-32
Vả, con trai cả đương ở ngoài đồng. Khi trở về gần đến nhà, nghe tiếng đờn ca nhảy múa, bèn gọi một đầy tớ mà hỏi cớ gì. Ðầy tớ thưa rằng: Em cậu bây giờ trở về, nên cha cậu đã làm thịt bò con mập, vì thấy em về được mạnh khỏe. Con cả liền nổi giận, không muốn vào nhà. Vậy cha nó ra khuyên nó vào. Nhưng nó thưa cha rằng: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép, mà cha chẳng hề cho tôi một con dê con đặng ăn chơi với bạn hữu tôi. Nhưng nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về, thì cha vì nó làm thịt bò con mập! Người cha nói rằng: Con ơi, con ở cùng cha luôn, hết thảy của cha là của con. Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được.
Dưỡng linh:
Đối tượng nghe những câu chuyện trong Lu-ca đoạn 15 gồm có hai hạng người tương phản nhau rõ rệt: (a) nhóm người thâu thuế và kẻ có tội, xấu xa, bị xã hội ruồng bỏ và khinh chê; và (b) các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, thông thạo kinh điển, tuân giữ luật pháp không chỗ trách được. Không nghi ngờ gì, Chúa Jesus đang ám chỉ người con trai hoang đàng chính là những người thâu thuế và kẻ có tội; người anh cả không ai khác hơn là các thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Còn có một nhân vật rất tuyệt vời trong câu chuyện Chúa Jesus kể là hình người cha nhân hậu, bày tỏ lòng yêu thương chẳng hề mỏi mệt đối với đứa con hoang đàng; nhưng người cha cũng rất kiên nhẫn và khoan dung đối với đứa con cả.
Hình ảnh người con trai hoang đàng trong câu chuyện dường như ai trong chúng ta đều biết khá rõ và có thể mô tả lại cuộc sống và tâm tánh của chàng thanh niên này cách dễ dàng. Trọng tâm trong câu chuyện không nhằm chỉ nhắm vào người con trai hoang đàng, nhưng Chúa Jesus còn muốn phơi bày con người của anh cả ra trước con mắt phán xét và phê phán của mọi người. Có lẽ nếu không có sự trở về của người em thì cho đến bao giờ con người thật bên trong của người anh mới được bộc lộ ra? Chính vì sự trở về của người em và tình trạng tội lỗi của người em đến chỗ tận cùng của nó thể nào, thì con người thật của người anh cả cũng được lột trần ra không kém phần đáng kinh tởm chẳng hơn gì đứa em của anh ta thể ấy! Nhưng có lẽ lâu nay anh ta khá tài tình để che đậy con người thật của mình nên mọi người tưởng rằng anh ta là một con người tốt, hiền lành, đạo đức, và từng tặng cho anh ta với một cái nhìn đầy lòng kính trọng và khâm phục. Tuy nhiên, Chúa Jesus muốn nói đó là chẳng những người em hư mất đã đành, nhưng người anh cả cũng hư mất ngay trong chỗ tưởng chừng như đạo đức và tốt đẹp nhất của chính nó! Đây là sứ điệp của Chúa dành cho bọn Pha-ri-si và thầy Thông giáo: Chẳng thà họ hư hỏng, tội lỗi như đứa em hoang đàng mà biết ăn năn, còn hơn nghĩ mình là quá đạo đức và lên án người khác không tiếc lời nhưng chẳng bao giờ biết ăn năn. Đứa em hư mất khi đi xa nhà và lang thang đầu đường xó chợ. Nhưng đứa anh hư mất ngay trong nhà của cha mình! Vì thế, cuối cùng lại, đứa con thật sự hư mất không phải là đứa em bèn chính là đứa con trai cả trong gia đình.
Mới nhìn qua thì người anh rất nghiêm chỉnh về đạo đức, biết vâng lời cha. Tính tình của anh có vẻ nghiêm khắc khi phải đối diện với những con người vô kỷ luật và sống thác loạn như đứa em. Anh là đứa con luôn luôn sống để không gây thiệt hại cho cha, thậm chí chẳng bao giờ dám xin cha cho mình một con dê con để ăn chơi với bạn bè. Thật là một đứa con đáng quý và hiếm có vô cùng. Anh được phú cho một bản tánh hiếu thảo như thế thật tuyệt vời. Có lẽ anh ta nghĩ cha mình rất hãnh diện về anh. Có nhiều lý do để cho anh tự mãn về đời sống đạo hạnh khi so sánh với đứa em hư hỏng, truỵ lạc. Tuy nhiên, có những điểm phản diện trong chàng thanh niên này đáng cho chúng ta lưu ý:
1/ Anh tự là người có đời sống rất mẫu mực và đạo đức đến độ anh không còn nhận biết mình là một tội nhân. Nhưng kỳ thật, anh là một tội nhân không hơn không kém như người em. Anh nghĩ rằng mình sống với tiêu chuẩn đạo đức như thế thì làm sao đứa em có thể sống kém hơn mà lại được cha thương. Thật là bất công. Phản ứng của anh không vào nhà khi nghe tin người em hoàng đàng trở về không phải chỉ là phản ứng đối với em mình mà thôi, vì không muốn gặp mặt đứa em phá của, nhưng anh ta còn muốn phản đối người cha đã cư xử vô cùng bất công đối với chính anh. Cha già không còn phân biệt ai đúng ai sai. Chính vì anh không có tình thương nên không thể hiểu nỗi lòng của người cha vì cha là người sống với một quy luật cao trọng hơn thuần luật pháp. Đó là luật yêu thương. Nếu đã là sống và chi phối bởi luật yêu thương thì sẽ nín chịu mọi sự, bao dung mọi sự, trông cậy mọi sự nơi đứa con hư hỏng của mình có ngày sẽ trở nên người tốt (1 Cô-rinh-tô 13:7).
2/ Vì quá tốt nên anh đem mình so sánh với người khác và lên án người khác cách dễ dàng nhưng lại không thấy được sai lầm của mình. Anh cả có nhiều sai lầm trong chính mình mà anh không thấy. Anh không hề có lòng yêu thương em mà đáng lý ra anh phải bày tỏ điều này cho những người chung quanh thấy. Trái lại, anh để lộ cho mọi người thấy anh là một con người nóng nảy và lên án em và cha là điều anh không nên làm trước mặt mọi người chung quanh. Khi nghe tin em về, đáng lý anh vui mừng thì lại giận hoảng lên và la lối om sòm, gây xấu hổ cho cha mình và gia đình. Người ta nhìn vào hành động và con người của anh tự hỏi anh có mối liên hệ máu mủ gì với em anh không? Tại sao anh em lại không thương yêu nhau? Chính người cha phải đích thân ra khuyên em vào. Anh phản ứng đối với cha của mình là điều không thể chấp nhận được. Có lẽ khi trở về già và có con thì anh sẽ hối tiếc vô cùng về hành động, phản ứng và lời nói khi còn trẻ của mình.
3/ Anh sống và tự đày đọa chính mình trong cảnh nô lệ thay vì là con trong gia đình. Địa vị của anh đối với cha là con, nhưng trên thực tế anh sống như một tên nô lệ, tự đày dọa chính mình trong thân phận của một kẻ làm mướn cho cha mà không dám xin xỏ gì cả. Cho đến khi nghe cha nói: “Con ơi, con ở cùng cha luôn, hết thảy của cha là của con!” thì lúc ấy anh mới vỡ lẽ là mình sống với một gia tài kết xù mà mình không hề biết! Điều gì làm cho anh là một đứa con mà sống như một tên nô lệ? Chính là tinh thần tự ép xác, khổ tu theo luật pháp, và tự lấy làm thỏa mãn chính mình qua việc tự đối xử nghiêm khắc với chính mình. Khi sống như thế, thật khó cho anh có thể cảm thông và chấp nhận đứa em hoang đàng của mình! Có người cho rằng có lẽ chính vì thái độ và hành động tự mãn về chính mình của người anh cả đã vô tình đẩy em mình xa khỏi gia đình. Làm thế nào đứa em sống luông tuồng bên cạnh một người anh rất mẫu mực về đạo đức. Có lẽ trong gia đình đã từng có nhiều lần giữa anh em có sự xích mích, cãi vả với nhau vì lối sống không thể chấp nhận của người em. Phải chăng điều này chắc hẳn làm cho người cha quá đau lòng và cuối cùng khi khi người con út xin ra đi thì người cha phải đành đoạn cho nó ra khi không? Chỉ vì thiếu tình thương nên người anh đã không thể chấp nhận người em xấu xa và tội lỗi của mình sống chung trong cùng một căn nhà. Người em luôn luôn là mục tiêu của sự chỉ trích và phê phán của người anh.
Chúng ta đang sống cuộc đời như thế nào? Có giống người anh cả không? Chúng ta càng trưởng thành trong Chúa và kinh nghiệm sự biến đổi của Chúa bao nhiêu, chúng ta ngày càng trở nên cảm thông, yêu thương, và bao dung đối với mọi người bấy nhiêu không? Bằng không, đời sống chúng ta càng trở về già càng trở nên gắt gỏng, hung tợn, và vắng bóng tình thương và sự tha thứ của Ngài. Kiệt tác bất hủ về tình yêu của I Cô-rinh-tô 13:4-7 chẳng bao giờ trở nên lỗi thời cho những ai muốn theo đuổi trở nên giống Chúa Cứu Thế Jesus: “Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.”
Cầu nguyện:
Xin Chúa giúp cho con mỗi ngày dầm thấm trong tình yêu và sự tha thứ của Ngài để rồi có thể sống một đời yêu thương, tha thứ, bao dung và nhân hậu đối với mọi người chung quanh từ trong gia đình, cho đến Hội Thánh, và ra đến ngoài xã hội, bày tỏ hình ảnh tuyệt vời của Chúa Jesus Cứu Thế Jesus. Amen!

Thursday, July 6, 2017

NẾP SỐNG CỦA NGƯỜI KHÔN


Truyền đạo (Ecclessiates) 7:1-5
Danh tiếng hơn dầu quí giá; ngày chết hơn ngày sanh. Ði đến nhà tang chế hơn là đến nhà yến tiệc; vì tại đó thấy sự cuối cùng của mọi người; và người sống để vào lòng. Buồn rầu hơn vui vẻ; vì nhờ mặt buồn, lòng được vui. Lòng người khôn ngoan ở trong nhà tang chế, còn lòng kẻ ngu muội ở tại nhà vui sướng. Thà nghe lời quở trách của người khôn ngoan, còn hơn là câu hát của kẻ ngu muội.
Dưỡng linh:
Trong Kinh Thánh cho chúng ta thấy vua Sa-lô-môn là người được Đức Chúa Trời ban cho sự khôn ngoan vô cùng đặc biệt. Sự khôn ngoan này không được định nghĩa là có vốn tri thức rộng và cao siêu nhưng là biết áp dụng những nguyên tắc sống kính sợ Đức Chúa Trời vào trong đời sống mỗi ngày. Người có kiến thức rộng, văn bằng cao chưa hẳn là người khôn ngoan hay ngược lại. Trong mấy câu Kinh Thánh trên, vua Sa-lô-môn vẽ ra cho chúng ta thấy hai bức tranh đối kháng nhau trong cách sống của người khôn ngoan thật và người thiếu khôn ngoan, nếu không muốn nói là ngu dại. 

Người khôn ngoan thật                         Người thiếu khôn ngoan 
Coi trọng giá trị đời đời                        Coi trọng giá trị tạm thời
Suy nghĩ đến sự cuối cùng                    Tìm kiếm thú vui tạm bợ
Xem trọng sự đau khổ                           Coi thường sự đau khổ
Để ý đến lời khuyên lơn, quở trách       Thích những lời nịnh bợ, tâng bốc
Sa-lô-môn cho chúng ta thấy người khôn ngoan coi trọng thanh danh và uy tín của mình, tìm cách sống như thế nào để người khác tôn trọng mình vì giá trị đạo đức và thuộc linh. Người đó sẵn sàng chấp nhận mất mát những gì tạm bợ ở đời này để tìm kiếm giá trị thuộc linh đời đời. Muốn có được những giá trị cao quý này, người đó phải tu thân và giữ mình trong lời nói và việc làm để khi nhắc đến tên của mình thì người khác tôn trọng và muốn học đòi. Nhưng người sống thiếu khôn ngoan thì không quan tâm và coi trọng giá trị đạo đức và thuộc linh, những gì bề trong nhưng lại đi tìm kiếm vẻ hào nhoáng bên ngoài và “tô son trét phấn” sao cho người khác thán phục và khen ngợi mình. Những người xem trọng bề ngoài và tìm kiếm tiếng thơm tạm bợ của dầu và vui hưởng nó; giống như một người ngồi hít cho đầy lồng ngực mùi dầu thơm thoảng qua một chốc rồi lại tan ngay. Có người lại xem tiền bạc hơn tất cả mọi điều, sẵn sàng đánh đổi thanh danh và uy tín của mình để được những đồng tiền dơ bẩn. Đối với họ “tiền là tiên là phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của ông già” v.v… Hay nói cách khác, đối với họ tiền bạc là tất cả. Cũng có người xem bằng cấp là quan trọng và tưởng rằng vì mình có văn bằng cao thì người khác sẽ kính trọng. Cho nên thay vì học hành cho đàng hoàng thì đi kiếm những văn bằng “dỏm” (degree mills) không phải tốn công học hành bao nhiêu mà vẫn có bằng cấp như ai. Nhưng khi có việc xảy ra thì bản chất của họ chứng minh rằng sự hiểu biết và lối sống của họ không tương xứng với bằng cấp họ có. Có người lại nghĩ rằng giá trị của mình nằm trong những bộ áo quần đắt tiền, ngôi nhà sang trọng lộng lẫy. Cho nên tìm đủ mọi cách để tìm kiếm và xây dựng cho mình những “tháp ngà,” trong khi đó lại bỏ bê nhân cách, giá trị đạo đức và thuộc linh của mình, không lo tài bồi để cho bị mai một và héo úa theo thời gian. Cuối cùng, con người của họ trở nên cộc cằn, thô bạo, hung tàn, và gian xảo. Có người còn cho rằng giá trị của mình nằm trong chức vụ mình có. Cho nên tìm đủ mọi cách để trèo lên “nấc thang danh vọng.” Nhưng khi không quan tâm đến đức độ thì chính mình đã đào mồ chôn thanh danh và uy tín của mình bởi những lời nói và việc làm sai lầm, thiếu đạo đức, thiếu thuộc linh.
Người khôn ngoan suy nghĩ đến sự cuối cùng của cuộc đời của mình sẽ ra sao. Cho nên, lòng người khôn ngoan chú ý vào trong đám tang hơn là yến tiệc. Khi đến với nhà tang chế, người khôn ngoan thấy được những bài học quý báu rút ra từ cuộc đời của người quá cố cũng như thấy được sự ngắn ngủi của đời sống con người là thể nào. Khi đó, người khôn ngoan sẽ lo chỉnh đốn lại những gì không tốt đẹp trong đời sống của mình, và quyết định sống những ngày còn lại sao cho ích lợi và tốt đẹp cho Chúa và cho mọi người. Người khôn ngoan biết đếm các ngày của đời mình và sẽ không làm những việc điên dại để rồi phải hối tiếc trong những ngày về xế chiều. Nhưng người ngu dại chỉ ham thích sự vui chơi trong các yến tiệc, phung phí cuộc đời của mình vào trong các cuộc mua vui mau qua chóng tàn, rồi để lại trong lương tâm và tấm lòng của mình những nổi buồn man mác. Người ngu dại làm cho thỏa mãn bản tánh xác thịt mà không cần biết hậu quả ra sao đối với linh hồn và thanh danh của mình.
Người khôn ngoan học được những bài học quý báu qua những kinh nghiệm đau khổ của cuộc đời. Cuộc đời càng gặp nhiều đau khổ, người khôn ngoan càng trở nên dày dạn và trưởng thành trong nhân cách đạo đức và thuộc linh của mình. Trong khi đó, người thiếu khôn ngoan tìm cách trốn chạy sự đau khổ và tìm cách bào chữa cho chính mình về những điều sai phạm. Đau khổ đối với họ là sự rủa sả thay vì sự chúc phước trá hình của Đức Chúa Trời. Vì thế, họ chẳng học được gì từ nơi sự đau khổ ngoài những nỗi niềm cay đắng và thù hận gặm nhấm trong tâm hồn của họ.
Người khôn ngoan sẽ sẵn sàng nghe lời khuyên dạy của người khác, ngay cả những lời quở trách đôi khi quá đáng. Những lời này trở thành sự chúc phước và họ xem như sự dạy dỗ Chúa để làm cho mình trở nên người tốt và xứng đáng hơn cho Chúa và cho hội thánh của Ngài. Người khôn ngoan cảm thấy ngọt ngào và biết ơn Chúa về những điều Ngài dùng người khác để quở trách, dạy dỗ và giúp đỡ mình, xem như là những sự tỉa sửa để mình “được sai trái hơn.” Trong khi đó người ngu dại chỉ muốn nghe những lời khen tặng và nịnh hót của người khác. Lòng tự ái và kiêu ngạo của người ngu dại đã khiến cho người đó không còn muốn nghe lời khuyên can hay quở trách của người khác nữa. Trái lại, người ngu dại nghĩ rằng mình biết hết mọi sự vì lớn tuổi hơn người khác, giữ chức vụ quan trọng hơn người khác nên luôn luôn đúng trong mọi việc mình làm và lời mình nói! Nhưng đó chỉ là bước đầu và dấu hiệu của sự sa bại. Như Sa-lô-môn nói: “Một kẻ trẻ tuổi nghèo mà khôn hơn một ông vua già cả mà dại, chẳng còn biết nghe lời khuyên can” (Truyền đạo 4:13).
Đức Chúa Trời muốn chúng ta là người thuộc về Chúa sống khôn ngoan và tìm kiếm những gía trị bề trong đời đời thay vì những gì bề ngoài tạm bợ của trần gian này. Khi chúng ta bắt đầu tìm kiếm những gía trị vĩnh cửu thì tấm lòng tâm trí của mình được quyền năng của Chúa Thánh Linh biến đổi để mỗi ngày trở nên giống Chúa Jesus càng hơn. Đức Chúa Trời làm cho linh hồn chúng ta ngày càng trở nên chán ngán với những gì của thế gian này nhưng trở nên đói khát chính Ngài và những điều thuộc về cõi đời đời. Người đeo đuổi giá trị vĩnh cửu sẽ có kinh nghiệm chết với thế gian và thế gian chết với mình. Như sứ đồ Phao-lô đã nói: “Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!” (Ga-la-ti 6:14).
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, mỗi ngày xin Ngài đưa con đi sâu vào trong đời sống nhận biết những giá trị thiên thượng đời đời và bị thu hút bởi nó đến nỗi con không còn thấy những gì bề ngoài và hư vinh của thế gian là điều đáng cho con tìm kiếm và đeo đuổi. Xin cho con chết với thế gian và thế gian chết với con, để con có thể sống cách tuyệt đối cho Ngài mà không bị bất cứ quyền lực nào quấy phá. Amen!

Thursday, June 22, 2017

TRIẾT LÝ SỐNG CỦA SA-LÔ-MÔN

Truyền Đạo (Ecclesiastes) 12:13-14
Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết nầy: Khá kính sợ Ðức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi. Vì Ðức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến đỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hoặc ác cũng vậy.
Dưỡng linh:
Vua Sa-lô-môn được xem là vị vua khôn ngoan nhất trên trần gian này, “vô tiền khoáng hậu” (nghĩa là từ trước chưa bao giờ có và về sau cũng sẽ chẳng có ai sánh bằng). Đức Chúa Trời ban phước cho ông: của cải giàu có, uy quyền lừng lẫy, chẳng thiếu thốn gì cả. Tuy nhiên, không phải vì những điều đó mang lại cho ông sự thỏa lòng về cuộc đời của mình. Ông nói rằng tất cả mọi sự khôn ngoan, giàu có, tri thức đều là hư không theo luồng gió thổi. Cuộc đời con người được Đức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn nhiều thứ để hưởng thụ nhưng rồi cũng chỉ là hư không mà thôi. Sau khi giải luận mọi sự về cuộc đời con người và những gì con người tận hưởng trên trần gian này, vua Sa-lô-môn để lại một kết luận cho hết thảy mọi sự, gồm tóm trong những điểm chính sau đây: Giữ lòng kính sợ Đức Chúa Trời và giữ theo điều răn của Ngài là trọn phận sự của đời sống của một con người. Cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ mang con người đến trước ngai phán xét của Ngài về những hành động con người đã làm trong lúc còn sống trong xác thịt. Qua lời kết đầy khôn ngoan này của vua Sa-lô-môn, chúng ta thấy được những điểm quan trọng như sau:
1/ Cốt lõi của đời sống con người tựu trung lại trong mối quan hệ giữa con người với Đức Chúa Trời. Thông thường trong đời sống, chúng ta chỉ thấy được mối quan hệ của chính mình với con người chung quanh, từ những người thân cật ruột cho đến bạn bè. Ít ai quan tâm hay nói đến mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Nhưng vì Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng nên mỗi chúng ta, cho nên cuối cùng của cuộc đời con người, chúng ta sẽ phải trở về với Đức Chúa Trời và bước vào trong mối quan hệ với chính Ngài cách đầy trọn, trong đó bổn phận của chúng ta đối với Đức Chúa Trời nằm ngay trong trọng tâm của mối quan hệ này. Tất cả những bổn phận của chúng ta đối với nhau trên trần gian này cũng chỉ nhằm phản ánh bổn phận của chúng ta đối với Đức Chúa Trời; và mối quan hệ giữa chúng ta với nhau nhằm bổ sung và làm tăng trưởng mối quan hệ giữa chúng ta đối với Chúa. Khi chúng ta bước vào trong mối quan hệ đầy trọn giữa chúng ta đối với Đức Chúa Trời, tự động mối quan hệ giữa người và người sẽ hòa tan và tiêu biến trong mối quan hệ giữa con người với Đức Chúa Trời. Vì thế, muốn có mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời trong tương lai, thì trong hiện tại chúng ta phải biết xây đắp mối quan hệ giữa chúng ta với nhau, dựa trên tiêu chuẩn của mối quan hệ và bổn phận giữa chúng ta với Chúa.
2/ Bổn phận của con người với Đức Chúa Trời được đánh giá và thẩm định qua hai điều: lòng kính sợ Đức Chúa Trời và việc tuân giữ điều răn của Ngài. Lòng kính sợ Đức Chúa Trời là sự suy phục của tấm lòng ở trên trong, để cho Ngài làm chủ và chi phối toàn bộ đời sống của chúng ta. Nhưng việc tuân giữ điều răn của Đức Chúa Trời là sự bày tỏ ra bên ngoài của lòng kính sợ Đức Chúa Trời nằm sâu bên trong lòng. Nếu một người không có lòng kính sợ Đức Chúa Trời thì cũng chẳng bao giờ vui lòng tuân giữ điều răn của Ngài. Chính vì thế, việc chúng ta tuân theo điều răn của Chúa là thước đo lòng kính sợ Đức Chúa Trời của mỗi đời sống chúng ta. Người càng kính sợ Chúa bao nhiêu, người ấy càng muốn sống vâng giữ theo điều răn của Ngài bấy nhiêu.
3/ Nhưng làm thế nào có thể biết được hành động của mỗi chúng ta là đúng đắn? Chỉ có một mình Đức Chúa Trời mới có thể đoán xét và thẩm định việc làm bên ngoài của con người và những gì xảy ra trong tâm trí và tấm lòng bên trong của họ. Sẽ có một ngày Đức Chúa Trời đem mọi việc ra trong ánh sáng của Ngài để đoán xét, ngay cả những điều kín nhiệm nhất, thiện hay ác cũng vậy. Sự phán xét của con người có thể lầm lẫn; và chúng ta có thể đánh lừa người khác về hành động của mình. Nhưng Đức Chúa Trời chẳng bao giờ bị chúng ta đánh lừa và sự phán xét của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ nhầm lẫn, vì “Đức Chúa Trời chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng” (1 Sa-mu-ên 16:7b). Chân lý này vừa mang lại cho chúng ta niềm vui mừng lẫn sự sợ hãi. Nếu một người có lòng kính sợ Đức Chúa Trời và giữ theo điều răn của Ngài, người đó sẽ chẳng giờ rúng động vì phản ứng của người khác đối với mình và sự nhận xét hay chỉ trích của người khác đối với cho mình. Nhưng nếu việc làm của một người không xuất phát từ lòng kính sợ Đức Chúa Trời thì đó là một hiểm họa cho người đó vì không chóng thì chày, không sớm thì muộn Đức Chúa Trời cũng sẽ phơi trần mọi việc ra ánh sáng để phán xét.
Cuộc sống của chúng ta trên trần gian này rất ngắn ngủi, tạm bợ nhưng nó được nối liền với cõi đời đời bằng những sợi dây của hành động và lời nói của chúng ta. Tất cả những gì trong hiện tại sẽ liên hệ đến tương lai. Những gì xảy ra trong lòng của chúng ta sẽ liên hệ đến hành động bên ngoài của chúng ta. Đức Chúa Trời sẽ đem mọi sự thiện hay ác ra để phán xét. Thế thì bổn phận của chúng ta là kính sợ Đức Chúa Trời và giữ theo điều răn của Ngài. Những điều này sẽ chi phối và bày tỏ ra bên ngoài trong bổn phận và mối quan hệ giữa chúng ta với những người chung quanh mình.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cho con biết rằng những ngày của cuộc đời mình thật là ngắn ngủi, bổn phận của con chẳng có gì ngoài việc sống kính sợ Chúa và tuân giữ theo điều răn của Ngài mỗi ngày. Xin Chúa Thánh Linh giúp con xây dựng và vun đắp và tài bồi mối quan hệ và bổn phận của con đối với chính Chúa qua mối quan hệ và bổn phận của con đối với những người chung quanh và tha nhân. Xin cho con làm mọi việc chỉ vì lòng kính sợ Chúa và yêu mến Ngài mà thôi. Amen!

Thursday, June 15, 2017

SỨ VỤ CỦA HỘI THÁNH

Kinh Thánh: Ê-sai (Isaiah) 61:1-2
Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Ðức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; đặng rao năm ban ơn của Ðức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Ðức Chúa Trời chúng ta; đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu; đặng ban mão hoa cho kẻ buồn rầu ở Si-ôn thay vì tro bụi, ban dầu vui mừng thay vì tang chế, ban áo ngợi khen thay vì lòng nặng nề; hầu cho những kẻ ấy được xưng là cây của sự công bình, là cây Ðức Giê-hô-va đã trồng để được vinh hiển.
Dưỡng linh:
Ê-sai đoạn 61 thuộc trong phần cuối của sách tiên tri Ê-sai, nói về tương lai hy vọng của dân Y-sơ-ra-ên sau những năm tháng bị lưu đày. Bởi ơn thương xót của Đức Chúa Trời, Ngài đã đem họ trở về đất hứa. Nay qua Đấng Mê-sia là Chúa Jesus, Đức Chúa Trời khôi phục lại sự vinh hiển rạng rỡ cùng những phước hạnh thiêng liêng mà dân Y-sơ-ra-ên đã mất do tội lỗi của họ gây ra. Tiên tri Ê-sai 61 bắt đầu bằng lời tiên tri về Đầy Tớ của Chúa (the Servant of the Lord) tức là Chúa Jesus Christ. Qua sứ vụ của Ngài là một Giảng sư (the Preacher) và cũng là Đấng Cứu Chuộc (the Redeemer) của dân Y-sơ-ra-ên. Mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời là muốn giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi cảnh tù đày khác hơn cảnh tù đày tại Ba-by-lôn, mang họ vào trong một tương lai sáng lạng đời đời của Ngài. Mặc dầu trước đây dân Y-sơ-ra-ên đã được giải cứu ra khỏi cảnh nô lệ tại Ai-cập và Ba-by-lôn nhưng vẫn còn bị nhốt dưới gông cùm của bản tánh xác thịt và tội lỗi. Sứ vụ của Chúa Jesus đến trần gian này không những giải cứu dân Y-sơ-ra-ên mà cả nhân loại ra khỏi tội lỗi. Vì thế, trong một phiên nhóm tại nhà hội Do-thái khi xưa, chính Chúa Jesus nhắc lại lời tiên tri này chỉ về Ngài trong Lu-ca 4:18-19 và cho thấy sự ứng nghiệm của nó ngay trong đời sống và chức vụ của Ngài.
Để có thể thi hành sứ vụ giải cứu con người ra khỏi tội lỗi, “Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên” Chúa Jesus. Công tác cứu chuộc nhân loại và giải cứu con người ra khỏi quyền lực thống trị của ma quỷ và tội lỗi chính là công việc của Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Yếu tố không thể thiếu được trong chức vụ của Chúa Jesus trên đất là sự xức dầu của Thần Đức Giê-hô-va. Chúa Jesus là Đức Chúa Trời nhưng khi thi hành chức vụ của mình Ngài cần phải được sự xức dầu của Chúa Thánh Linh hay Thần của Đức Giê-hô-va là dường nào. Sự xức dầu đối với Chúa Jesus mang một vài ý nghĩa vô cùng quan trọng: (a) sự tuyển chọn và sai phái chính thức của Đức Chúa Trời để Ngài bước vào trong sứ vụ cứu vớt thế gian hư mất; (b) sự ban sức mạnh cho Chúa Jesus để thi hành chức vụ và đối diện với quyền lực của ma quỷ. Với sự xức dầu đó, Chúa Jesus có một mục đích và đối tượng rõ rệt trong chức vụ của mình. Trong sứ vụ này bao gồm việc:
1/ Chúa Jesus giảng Tin Lành cho kẻ khiêm nhường. Trong Lu-ca 4:18 thì nói đọc Chúa Jesus giảng Tin Lành cho “kẻ nghèo khó” thay vì “kẻ khiêm nhường.” Thực ra, hai từ ngữ này mang cùng một ý nghĩa như nhau, đều chỉ về những người có lòng đau thương thống hối về tội lỗi của mình và nhận biết nhu cầu thuộc linh của chính mình. Vấn nạn của họ chỉ có thể được đáp ứng bởi chính Chúa. Tình trạng khó nghèo tâm linh là bước khởi đầu của việc chuẩn bị tấm lòng cho Phúc Âm của Chúa Jesus được rao giảng. Chỉ có những người kiêu ngạo mới không thấy được nhu cầu thuộc linh và tự mãn về đời sống tâm linh của mình.
2/ Chúa Jesus được sai đến để rịt những kẻ có tấm lòng tan vỡ. Con người là tạo vật cao quý của Đức Chúa Trời nhưng lại là tạo vật rất dễ dàng đổ vỡ (vunerable). Tâm lý của con người rất phức tạp và dễ bị tổn thương bởi tội lỗi. Sự tổn thương bao gồm việc làm do chính mình gây ra và của người khác gây ra cho chính mình. Vì thế, Chúa Jesus đến để mang lại sự tha thứ và chữa lành cho con người qua sự chết của Ngài. Thế gian đầy dẫy những cuộc đời đổ vỡ và rách nát đang cần đến Chúa Jesus. Ma quỷ thì lên án tội lỗi của con người, làm cho con người mặc cảm về tội lỗi của mình. Chỉ trong Chúa Jesus con người mới tìm thấy được sự tha thứ, an ủi, chữa lành và cảm thông.
3/ Chúa Jesus đến ban sự tự do cho con người khỏi sự giam cầm của tội lỗi và ma quỷ. Kể từ khi con người nghe theo lời dụ dỗ của ma quỷ để phạm tội, con người đã trở thành kẻ nô lệ cho tội lỗi mà mình không muốn. Ma quỷ muốn nhốt tất cả nhân loại dưới ách thống trị của nó để làm theo ý muốn của nó. Kết quả của tội lỗi là sự chết. Nhưng Chúa Jesus đến để ban cho con người sự tự do thật khi con người nhận được tha thứ. Khi Chúa Jesus sống lại từ kẻ chết, Ngài bứt đứt dây trói của ma quỷ và giải thoát con người ra khỏi ngục tù của bãn ngã là chính mình.
4/ Chúa Jesus mang đến cho con người sự an ủi và sự vui mừng chiến thắng. Tội lỗi làm cho cuộc đời con người trở nên kẻ thất bại, u sầu, buồn thảm, chán chường, tuyệt vọng, đánh mất đi niềm vui chân thật. Chúa Jesus đến để phục hồi lại cho con người ý nghĩa của cuộc đời, ban cho con người nguyên lý sống mới, và đem niềm vui thiêng đàng vào trong đời sống của những kẻ tang chế do sự chết gây ra. Chính tội lỗi đem con người đến chỗ chết mất và tuyệt vọng. Trong Chúa Jesus con người tìm lại được hy vọng sống là sự cứu rỗi mà Ngài để dành cho chúng ta trên thiên đàng vinh hiển đời đời.
Sứ vụ của hội thánh và của mỗi Cơ-đốc nhân là rao giảng Tin-lành cho những kẻ có lòng nhu mì khiêm nhường, rịt vết thương lòng cho những cuộc đời tan vỡ, rách nát do tội lỗi gây ra, công bố sự tự do thật cho những cuộc đời đang sống trong bóng đêm của ngục tù của chính bản ngã của mình, và mang niềm vui đến cho mọi người qua Tin-lành của Chúa Jesus Christ. Tuy nhiên, Cơ-đốc nhân và hội thánh chỉ có thể làm được sứ vụ này khi có Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên và xức dầu cho. Hội thánh của Đức Chúa Trời khác với tất cả các tổ chức tôn giáo và xã hội của trần gian này vì hội thánh của Chúa được điều khiển và chi phối bởi một nguyên tắc hoàn toàn khác biệt, đó là Chúa Thánh Linh. Người hầu việc Chúa trong vương quốc của Đức Chúa Trời cũng hoàn toàn khác hẳn với những tu sĩ tôn giáo và người làm công tác xã hội của đời. Hội thánh của Chúa và người hầu việc phải tìm kiếm sự xức dầu của Đức Chúa Trời để hoạt động và thi hành chức vụ của mình. Bằng không sinh hoạt của hội thánh và công việc của người hầu việc không khác gì sinh hoạt của đời và công việc của người làm công tác tôn giáo. Thế gian sẽ chẳng nhận lãnh được gì từ nơi những con người thi hành chức vụ của mình bằng năng lực chính mình và từ nơi những hội thánh không có sự hành động mạnh mẽ của Thần Đức Giê-hô-va. Nhưng muốn có được Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên mình và xức dầu cho mình, mỗi cá nhân cũng như hội thánh của Đức Chúa Trời phải theo đuổi nếp sống thánh khiết và công chính trước mặt Ngài. Linh của Đức Chúa Trời là Linh của sự thánh khiết, khác với uế linh của ma quỷ và của đời này. Linh của Đức Chúa Trời thì gây dựng, còn linh của ma quỷ thì đạp đỗ và gây tan thương cho người khác và cho hội thánh của Đức Chúa Trời. Vì thế, hội thánh của Đức Chúa Trời trong thời đại này không khao khát gì hơn ngoài sự khao khát được Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên và xức dầu cho mỗi một người, để làm chứng nhân đắc thắng và sống động cho Ngài.
Cầu nguyện:
Con cầu xin Chúa đoái thương, thăm viếng, và thức tỉnh chính mình con và Hội Thánh của Ngài mỗi ngày bằng Thần của Ngài để nhận thức được sứ mạng của mình và ban quyền năng để có thể rao giảng sứ điệp Phúc Âm cho thế giới hư mất trở về với Ngài. Amen!

Thursday, May 18, 2017

GIỮ LÒNG KÍNH SỢ CHÚA

Kinh Thánh: Thi-thiên (Psalm) 34:9-14
Hỡi các thánh của Ðức Giê-hô-va, hãy kính sợ Ngài; Vì kẻ nào kính sợ Ngài chẳng thiếu thốn gì hết.
Sư tử tơ bị thiếu kém, và đói; Nhưng người nào tìm cầu Ðức Giê-hô-va sẽ chẳng thiếu của tốt gì.
Hỡi các con, hãy đến nghe ta; Ta sẽ dạy các con sự kính sợ Ðức Giê-hô-va.
Ai là người ưa thích sự sống, và mến ngày lâu dài để hưởng phước lành?
Khá giữ lưỡi mình khỏi lời ác, và môi mình khỏi nói sự dối gạt.
Hãy tránh sự ác, và làm điều lành; hãy tìm kiếm sự hòa bình, và đeo đuổi sự ấy. 

Đa-vít sáng tác Thi thiên này trong lúc chạy trốn khỏi sự săn đuổi của vị vua tàn ác là Sau-lơ. Vì lòng ganh tị, Sau-lơ đã săn đuổi mạng sống của Đa-vít. Sự săn đuổi này đến lúc cực kỳ căng thẳng đến nỗi Đa-vít bỏ nước chạy trốn đến với A-kích, vua của xứ Gát; và ông phải giả dạng khùng điên để cho được an thân! Nhưng rồi các tôi tớ của vua A-kích phát hiện ra Đa-vít là người đã làm nên chiến công lẫy lừng, được dân Y-sơ-ra-ên quý mến. Do đó, Đa-vít chỉ ở với vua A-kcíh được một thời gian rồi cũng bị đuổi đi (1 Sam 21:10-15). Đây rõ ràng là một kinh nghiệm yếu đuối của Đa-vít tìm cách chạy thoát thân khỏi tay Sau-lơ mà gây ra điều sỉ nhục cho danh vinh hiển của Chúa.
Trong hoàn cảnh vô cùng đen tối của cuộc đời, hoạn nạn vây phủ tứ bề từ tinh thần lẫn vật chất, qua Thi thiên này, Đa-vít thốt ra những lời ca ngợi Chúa, khích lệ đức tin những người chung quanh về lòng tin cậy Đức Chúa Trời và ngửa trông Ngài, vì ngoài Chúa ra chẳng có ai xứng đáng cho ông tin cậy và ký thác cuộc đời. Từ kinh nghiệm bản thân, Đa-vít kêu gọi mọi người hãy nếm biết Chúa là ngọt ngào. Ai nương dựa nơi Chúa thì thật là phước hạnh. Vì thế, những người tin Chúa cần phải sống kính sợ Đức Chúa Trời. Qua mấy câu 9-14 trong Thi Thiên 34, Đa-vít đã nêu ra những điểm rất quan trọng liên quan đến phước hạnh và nguyên tắc sống của người kính sợ Ngài.
1/ Đức Chúa Trời là sự bảo đảm cho người kính sợ Ngài (c. 9-10). Cấu trúc trong câu này cũng giống như câu 1 trong Thi thiên 23, cho thấy người kính sợ Chúa và để cho Ngài dắt dẫn cuộc đời mình sẽ chẳng thiếu thốn nhưng hoàn toàn được no đủ. Đức Chúa Trời là sự bảo đảm cho những kẻ sống đặt lòng kính sợ Chúa lên trên tất cả mọi sự của đời sống mình. Như thế, chúng ta có thể hiểu rằng mất đi lòng kính sợ Đức Chúa Trời sẽ dẫn đến sự thiếu thốn, khánh tận về đời sống thuộc linh lẫn thuộc thể. Đa-vít lấy hình ảnh của các “sư tử tơ” ra để so sánh với người kính sợ Chúa. Ông nói rằng sư tử tơ còn có lúc bị thiếu kém và bỏ đói, nhưng người kính sợ Đức Chúa Trời không hề bị Ngài bỏ đói bao giờ. Có lúc Đức Chúa Trời chỉ thử nghiệm để gia tăng niềm tin của người yêu mến Ngài, nhưng rồi sau đó Ngài giải cứu và ban phước dư dật trên đời sống và gia đình của họ. Sự giàu có hay no đủ là do Đức Chúa Trời đến, không do quyết định của con người. Đức Chúa Trời có thể làm cho no đủ nhưng Ngài cũng có quyền làm cho khánh tận. Sống kính sợ Đức Chúa Trời chính là sự bảo đảm cho đời sống vật chất và tinh thần của người theo Chúa. Đa-vít đã kinh nghiệm sâu xa điều này trong những năm chạy trốn vua Sau-lơ. Mưu đồ thâm độc của Sau-lơ đối với Đa-vít: không những tìm cách tàn diệt mạng sống của Đa-vít nhưng còn săn đuổi ông để không thể ổn định trong đời sống vật chất nữa. Nhưng trong những năm tháng sống rày đây mai đó, Đa-vít thật sự kinh nghiệm sự nuôi nấng và chăm sóc của Đức Chúa Trời dành cho đầy tớ trung tín và kính sợ Ngài. Đức Chúa Trời có đủ cách và dùng đủ người để làm nên chương trình của Ngài cho Đa-vít là “kẻ theo lòng của Đức Chúa Trời.” Thật tạ ơn Chúa vô cùng về lòng yêu thương, khoan nhân và thành tín của Ngài đối với Đa-vít ngày xưa và đối với chúng ta ngày nay.
2/ Nguyên tắc sống của người kính sợ Đức Chúa Trời (c. 11-14):
(a) gìn giữ môi miệng mình khỏi nói lời gian ác và dối gạt. Rất dễ dàng khi bị Sau-lơ săn đuổi chạy trối chết, Đa-vít bị rơi vào sự cám dỗ để phải than thân trách phận, oán trách Chúa, hận thù con người. Nhưng Đa-vít đã tự nhủ chính mình rằng không để cho những hoàn cảnh như thế đưa đẩy mình vào con đường phạm tội trong lời nói với Chúa và với anh em, nhất là với vua Sau-lơ;
(b) làm điều lành mà tránh điều gian ác, tìm kiếm sự hòa thuận và đeo đuổi sự hòa bình. Thật dễ dàng cho Đa-vít tìm cách trả thù Sau-lơ, làm những điều giống như Sau-lơ làm cho Đa-vít phải không? Nhưng Đa-vít nhận biết một điều là khi mình tìm cách trả thù thì Đức Chúa Trời sẽ không binh vực ông. Ông mong muốn để cho Chúa giải quyết thì hay hơn con người giải quyết. Cách Đức Chúa Trời giải quyết tuy có chậm nhưng rất chắc. Chẳng ai có thể thoát khỏi bàn tay và thanh gươm đoán phạt của Đức Chúa Trời khi lao mình vào con đường gian ác, tội lỗi mà không biết dừng lại hay ăn năn. Khi Đức Chúa Trời rút gươm phán xét và báo thù của Ngài ra thì chẳng ai có thể ngăn chặn được. Hơn thế nữa, Đa-vít biết chắc chắn mình đã được Đức Chúa Trời xức dầu qua tiên tri Sa-mu-ên để làm vua thì trước sau gì cũng làm vua thôi, cần gì phải triệt hạ Sau-lơ để lên làm vua! Đa-vít nhận biết sâu xa điều này: khi Đức Chúa Trời hạ xuống thì không ai nhắc lên được. Nhưng khi Đức Chúa Trời nhắc lên thì chẳng ai có thể cản Ngài được!
(c) Người sống kính sợ Đức Chúa Trời là người biết quý trọng mạng sống của mình, tức là người “ưa thích sự sống.” Khi chúng ta sống không kính sợ Chúa tức là chúng ta khinh bỉ Ngài và Đức Chúa Trời sẽ báo trả hành động đó của chúng ta bằng cách rút ngắn những ngày trên đất! Ngược lại, người kính sợ Đức Chúa Trời sẽ được Ngài ban cho sự trường thọ trên đất. Đó là lời hứa chắn chắn và phước hạnh của Chúa dành cho những người kính sợ Ngài. Điều này khiến chúng ta thật vô cùng biết ơn Chúa nhưng cũng vô cùng run rẫy trong nếp sống bước đi với Chúa mỗi ngày.
Cầu nguyện:
Lạy Cha Chí Thánh, con thành khẩn cầu xin Chúa ban cho con lòng kính sợ Ngài, hầu cho đời sống con là ống dẫn ơn phước của Chúa đến cho những người chung quanh mình. Xin giúp con trong những lúc khủng hoảng của đời sống biết gìn giữ môi miệng, lời nói, hành động của mình trong sự kính sợ và yêu mến Ngài. Chúa ôi! xin cứu giúp con trong những lúc cảm thấy tuyệt vọng vì hoàn cảnh chung quanh, ban cho con sức mạnh của lòng nhịn nhục để chịu đựng cho đến khi ánh bình minh ló dạng. Con hết lòng biết ơn Chúa về ân huệ và sự dẫn dắt của Ngài trên đời sống con trong những năm tháng đã qua và những ngày tháng sắp đến. Amen!

Friday, May 12, 2017

SỐNG THỎA LÒNG

Kinh Thánh: Phi-líp (Philippians) 4:11-13
Không phải tôi muốn nói đến sự cần dùng của tôi; vì tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ Ðấng ban thêm sức cho tôi.
Dưỡng linh:
Trong các hội thánh thời sứ đồ Phao-lô, hội thánh Phi-líp đã góp phần cung ứng nhu cầu vật chất cho ông nhiều hơn hết (Phi-líp 4:15-19). Cách 10 năm về trước, khi Phao-lô đang hầu việc Chúa tại thành Tê-sa-lô-ni-ca, lần đầu tiên con dân Chúa tại hội thánh Phi-líp đã gửi quà giúp cho ông (c. 15-16). Từ đó trở về sau, nhiều lần họ đã ao ước thực hiện điều đó đều đặn hơn nhưng không có dịp (c. 10). Trong khoảng thời gian dài, Đức Chúa Trời vẫn nuôi đầy tớ của Ngài bằng cách này cách khác. Mặc dù Đức Chúa Trời có cảm động lòng của  con dân Chúa trong hội thánh tại Phi-líp yêu thương và giúp đỡ ông về phương diện vật chất đi chăng nữa, không phải vì thế ông trở nên lệ thuộc vào tấm lòng yêu thương và hào phóng của họ. Là đầy tớ của Đức Chúa Trời, Phao-lô luôn cẩn thận giữ một thái độ và chỗ đứng hoàn toàn độc lập đối với mọi vấn đề, từ chức vụ cho đến tiền bạc sử dụng để hầu việc Chúa. Nơi sứ đồ Phao-lô nương dựa trong chức vụ của mình không phải là lòng tốt của anh em dành cho ông, nhưng là chính Đức Chúa Trời Hằng Sống. Nói như thế không có nghĩa Phao-lô phủ nhận và xem thường tấm lòng tốt của con dân Chúa được Ngài cảm động để giúp đỡ ông. Trái lại, Phao-lô luôn luôn bày tỏ lòng biết ơn đối với mọi người. Ông xem họ như là tác nhân thiên thượng (divine agents) được Đức Chúa Trời sử dụng để mang phước hạnh đến cho cuộc đời và chức vụ của ông.
Sứ đồ Phao-lô đưa ra triết lý sống của mình đối với vấn đề vật chất như sau: tập sống với những gì Đức Chúa Trời ban cho và tìm thấy sự thỏa lòng trong mọi hoàn cảnh. Phao-lô học tập không phung phí khi dư dật và không oán trách khi thiếu thốn. Trong nguyên văn Hi-lạp, thành ngữ “dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu” mang ý nghĩa rất đặc biệt. Nó mô tả cảnh trước mắt Phao-lô giống như sóng biển đang lên xuống và ông như một tay chơi trò lướt sóng biển chuyên nghiệp (professional surfer), uốn mình lên xuống theo lượn sóng để tiến tới, không để bị sóng nhận chìm ông xuống biển sâu! Bởi đâu mà Phao-lô có thể biến nghịch cảnh và thuận cảnh trở thành “trò chơi thuộc linh” (spiritual game) để đạt đến mức trưởng thành trong Chúa như thế? Sứ đồ Phao-lô đưa ra bí quyết sau đây: “Tôi làm được nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi.” Trong nguyên văn, động từ “tôi làm được” đồng nghĩa là “tôi trở nên mạnh mẽ” hay “tôi có sức mạnh” để có thể thực hiện được nếp sống bằng lòng chấp nhận mọi hoàn cảnh Chúa đặt để. Động từ “thêm sức” có nghĩa là “ban sức mạnh” hay “đặt để sức mạnh vào bên trong.” Như vậy, chính Chúa Jesus Christ đã đặt sức mạnh của Ngài trong Phao-lô để ông có thể vui chịu tất cả mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Chúa Jesus đã truyền sức mạnh chịu đựng và niềm vui thỏa của Ngài vào trong sứ đồ Phao-lô, vì chính mình Ngài đã từng đi đến chỗ “tứ cố vô thân” của cuộc đời con người lúc ở trần gian này. Chúa Jesus đã nói về mình như sau: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, song Con Người không có chỗ mà gối đầu!” (Ma-thi-ơ 8:20)
Trong Kinh Thánh cho chúng ta một số tấm gương từ các tiên tri cho đến các sứ đồ là những người mà Đức Chúa Trời đã đặt họ trải qua những cuộc thử nghiệm về vật chất hầu phát triển lòng tin cậy Đức Chúa Trời của họ. Có người đắc thắng những cũng có lắm kẻ thất bại trước sự thử nghiệm nghiệt ngã này. Tiên tri Ê-li sau khi ra mắt của A-háp để công bố sứ điệp Đức Chúa Trời muốn ông nói, thì Ngài đem ông vào trong đồng vắng, khe Kê-rít để tập tành ông sống lệ thuộc Đức Chúa Trời qua việc Ngài nuôi ông bằng con chim quạ mỗi ngày. Sau đó Đức Chúa Trời dùng người đàn bá góa Sa-rép-ta để tiếp tục nuôi đầy tớ của Ngài. Chính vì thế, sau này sứ điệp của Ê-li trở nên mạnh mẽ và đanh thép vì đã được trui rèn trong nồi lửa thử thách và nẩy sanh ra lòng tin cậy chỉ một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Nếu Ê-li không dám tin Đức Chúa Trời thì làm sao Đức Chúa Trời dám tin và ký thác vào trong ông sứ mệnh để giải cứu dân sự của Đức Chúa Trời ra khỏi lò hỏa ngục của tà thần Ba-anh và Át-tạt-tê? Vì biết rằng người hầu việc Đức Chúa Trời sẽ dễ dàng trở nên bị cám dỗ, sanh lòng tham lam của cải vật chất và nương cậy vào chúng để hầu việc Đức Chúa Trời, nên Ngài đã truyền cho dòng dõi Lê-vi và thầy tế lễ không được có sản nghiệp giữa vòng dân sự của Ngài. Chính Đức Chúa Trời là sản nghiệp của họ (Dân số ký 18:20-24). Do đó, khi Đức Thánh Linh thăm viếng hội thánh đầu tiên, vì nhận biết việc sở hữu sản nghiệp là điều không theo đúng lời Chúa dạy từ Cựu Ước, Ba-na-ba là người thuộc dòng Lê-vi đã đem bán hết sản nghiệp mình có để dâng cho Đức Chúa Trời (Công vụ 4:36-37).
Những ai muốn trở thành người hầu việc Chúa chân chính đều phải chịu thử nghiệm về lãnh vực vật chất thì mới có thể phục vụ Chúa cách hữu hiệu và kết quả. Người đó phải học tập sống ký thác cuộc đời của mình cho Đức Chúa Trời, tin cậy, bước đi, và ngửa trông sự tiếp trợ đến từ Đức Chúa Trời cho chính mình và gia đình mình mỗi ngày. Nếu chịu được thử nghiệm này, khi đó người hầu việc Chúa mới có thể rao giảng những sứ điệp sống động, đầy dẫy thần quyền và sự xức dầu đến từ nơi Ngài. Khi người hầu việc Chúa để cho lòng tham mê vật chất và của cải đời này chiếm ngự tâm trí và tấm lòng của mình, người đó sẽ bị cướp mất đi sự xức dầu, sức mạnh của lòng tin cậy Đức Chúa Trời, và quyền phép trong sự giảng dạy và chức vụ của mình. Dần dà người đó sẽ trở nên muốn dung hòa và nhân nhượng lối sống nửa đời nửa đạo trong những vấn đề thuộc linh.
Là con cái của Chúa, chúng ta cũng rất dễ bị cám dỗ chạy theo vật chất, tiền tài, danh vọng của đời này. Sứ đồ Phao-lô đưa ra cho chúng ta thấy một số nhân vật ông từng quen biết và hướng dẫn họ, nay đã bị mất đức tin và lòng yêu mến Chúa cũng chỉ vì tham mê đời này. Đê-ma là người có đặc điểm “ham hố đời này” nên đã lìa bỏ vị thầy của mình là Phao-lô (2 Ti-mô-thê 4:10). Để khuyên Ti-mô-thê và ngay cả tín hữu về thái độ của Cơ-đốc nhân đối với vấn đề vật chất, sứ đồ Phao-lô đưa ra những lời ra từ kinh nghiệm xương máu sau những năm tháng dài trong chức vụ hầu việc Chúa, đã từng đối diện với biết bao cám dỗ và chứng kiến bao cuộc đời gãy đổ, gia đình tan nát vì lòng tham mê tiền bạc. Sứ đồ Phao-lô khuyên như sau: “Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng ấy là một lợi lớn. Vì chúng ta ra đời chẳng đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được. Như vậy, miễn mà đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng; Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn” (1 Ti-mô-thê 6:6-10). Nguyện Đức Chúa Trời thương xót mỗi chúng ta để tiếp tục sống giữa thế gian nhưng không ham mê thế gian. Lòng tham mê thế gian và vật chất luôn luôn là thước đo lòng yêu mến Chúa của chúng ta. Sứ đồ Giăng viết: “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Ðức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy. Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra. Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Ðức Chúa Trời thì còn lại đời đời” (1 Giăng 2:15-17).
Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin giúp con sống đắc thắng và vượt qua sự cám dỗ muốn nương cậy vào con người và vật chất để sống cho Chúa và phục vụ Ngài. Xin ban cho con sức mạnh từ nơi Chúa Cứu Thế Jesus mỗi ngày để con có thể tiếp tục sống vui thỏa trong mọi hoàn cảnh mà Ngài vui lòng đặt để con, hầu cho Chúa được sáng danh qua đời sống hèn mọn của của con, hội thánh của Đức Chúa Trời được gây dựng qua đức tin và lòng tin cậy Ngài của con. Amen!