Thursday, August 25, 2016

SỰ THIẾU HỤT CỦA THỜI ĐẠI

Thi Thiên (Psalm) 12:1-4
Đức Giê-hô-va ôi! xin cứu chúng tôi, vì người nhơn đức không còn nữa, và kẻ thành tín đã mất khỏi giữa con loài người. Chúng đều dùng lời dối trá mà nói lẫn nhau, lấy môi dua nịnh và hai lòng, mà trò chuyện nhau. Đức Giê-hô-va sẽ diệt hết thảy các môi dua nịnh, và lưỡi hay nói cách kiêu ngạo; Tức là kẻ nói rằng: Nhờ lưỡi mình chúng ta sẽ được thắng; Môi chúng ta thuộc về chúng ta: Ai là Chúa của chúng ta?

Vua Đa-vít là người của Đức Chúa Trời. Người duy nhất trong Kinh Thánh được Chúa nói là người "theo lòng của Ngài" (I Samuên 13:14). Nhưng làm thế nào để bày tỏ ông là người sống theo lòng của Chúa? Đó là Đức Chúa Trời cho phép Đa-vít đối diện với biết bao hoàn cảnh khó khăn, trong đó bao gồm cả việc phải đối diện với những con người vô đạo và bị nhận chìm giữa biển đời dối trá, gian manh, và oán thù người lành. Chẳng những Đa-vít chịu tổn hại bởi người chung quanh nhưng ngay cả người trong nhà. Thi Thiên 12 được viết trong lúc ông bỏ cung điện, chạy thoát thân sau khi bị Áp-sa-lôm là con trai của ông cướp ngôi. Có những người trước đây ủng hộ Đa-vít, nay trở mặt quay lại làm hại ông bằng lời nói và việc làm. Trong hoàn cảnh như thế, Đa-vít chẳng tìm được nguồn an ủi nào ngoài chính Chúa và đặt niềm tin hoàn toàn nơi Ngài. Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh khốn cùng đó, Đa-vít đã phát huy được những đức tính vô cùng cao quý bên cạnh niềm tin yêu Chúa ngày càng trở nên sắt son.

Đa-vít kêu cầu Chúa đến cứu giúp mình vì "người nhơn đức" và “kẻ thành tín" không còn nữa. “Người nhơn đức” ở đây là “người kính sợ Chúa” (godly man). Trong Cựu Ước, “người kính sợ Chúa” là người có lòng thương xót (mercy) được bày tỏ qua cách đối xử tốt không hề mỏi mệt và có lòng nhân ái đối với người khác. Tất cả đức tính trên của người kính sợ Chúa thụ hưởng từ đức thánh khiết của Ngài qua mối liên hệ mật thiết giữa người đó với Chúa. Qua những biến cố của đời sống cá nhân và dân sự Đức Chúa Trời, Đa-vít khám phá ra rằng không tìm đâu ra những người có lòng kính sợ Chúa và có lòng trung thành với ông như trước đây. Lúc còn tại vị, có lẽ ông chưa có dịp khám phá ra điều này. Nhưng khi thời cuộc đổi thay, bản chất thật của con người được phơi bày. Sự thử nghiệm do hoàn cảnh của cuộc đời chẳng khác gì lò lửa để phơi bày bản chất thật của con người.

Sự không kính sợ Đức Chúa Trời được bày tỏ trong lời nói "dối trá" và "dua nịnh." Lời "dua nịnh" ở đây được hiểu là những lời nói trơn tru, "ngọt mật chết ruồi" và trong đó kèm theo một mưu đồ ẩn tàng bên dưới. Lời nói dua nịnh ra từ người có "hai lòng" và không chân thật. Áp-sa-lôm đã dùng lời nói để dụ dỗ những người đến cung điện của vua cha hầu tìm cách cướp ngôi của cha mình (2 Samuên 15:1-6). Áp-sa-lôm biết sử dùng đòn tâm lý để mua chuộc lòng dân theo mình, tự đề cao mình lên và chê bai sự cai trị của cha mình. Có thể Áp-sa-lôm còn dựng lên những điều không thật về cha mình nữa là khác, tạo sự nghi ngờ trong lòng dân chúng từ những sự kiện “nữa thật nữa giả” hay "bán tín bán nghi." Trước mắt, Áp-sa-lôm và những người theo ông đạt được điều mình muốn và toan tính. Có lẽ họ rất hãnh diện vì cảm thấy rằng dường như không ai có thể cản ngăn hành động tội ác của mình. Thậm chí, họ tưởng như Chúa cũng ủng hộ việc làm của mình thì phải. Nếu không, tại sao Chúa để cho họ thành công trong mưu ác của họ? Nhưng sự thành công của Áp-sa-lôm và những người theo ông chỉ là ngắn ngủi mà thôi. Sự thất bại và hủy diệt đang chờ đón họ đằng trước mà họ không thấy!
Sự đau khổ Đa-vít phải gánh chịu không chỉ là sự đau khổ về thể xác, phải chạy trốn khỏi cung điện rày đây mai đó, mà còn sự đau khổ về tinh thần. Đó là những lời nói phao vu và tổn hại do Áp-sa-lôm gây ra. Đứng trước tình cảnh này Đa-vít đã làm gì? Đa-vít cầu nguyện xin Chúa hủy diệt hết thảy các môi dua nịnh và lưỡi nói cách kiêu ngạo. Chắc chắn rằng Đức Chúa Trời chẳng bao giờ vừa lòng về việc làm của Áp-sa-lôm và Ngài nhìn thấy tất cả mọi sự. Đức Chúa Trời đang theo dõi mọi sự và Ngài sẽ hành động trong thời điểm của Ngài. Vì thế, Đa-vít ký thác chính mình cho Chúa và chờ đợi sự giải cứu của Ngài.

Con chống nghịch cha mẹ; anh em phản bội nhau; người hầu việc Chúa làm hại nhau đã trở nên chuyện thường tình. Càng gần đến sự tái lâm của Chúa Jesus bao nhiêu, tình trạng đạo đức loài người càng suy đồi bấy nhiêu, và điều này cũng đúng trong bối cảnh của hội thánh Chúa chung trên khắp thế giới. Chúa Jesus nói trước rằng: "Tội ác sẽ thêm nhiều, thì lòng yêu mến của phần nhiều người nguội dần" (Mathiơ 24:12). Những người sống kính sợ Chúa và sống ngay thật theo Lời của Ngài ngày càng trở nên hiếm hoi và đi đến chỗ “diệt chủng.” Thay vào đó, tình trạng tệ hại về đạo đức đã ăn ruồng trong hội thánh của Chúa, không chừa một thành phần nào, từ tín hữu cho tới những nhà lãnh đạo. Ngày nay, người ta dễ dàng phao vu, tố cáo nhau, dùng lời nói để tàn hại nhau qua thư từ, email, truyền miệng, thêu dệt bao nhiêu điều không thật để làm hại thanh danh và uy tín người khác, nâng mình lên và tìm kiếm tư lợi cho mình và gia đình mình. Tình trạng ngày nay chẳng khác gì thời của vua Đa-vít khi mà người kính sợ Chúa không còn nữa và kẻ thành tín biến mất giữa dân sự của Ngài! Trong tang lễ của cha mình, người con gái đã thốt lên rằng: “Thế giới đã mất đi một người công chính và đối với thế giới đó chẳng hề là một chuyện nhỏ!” 

Chúng ta hãy thêm lời cầu nguyện cho chính mình và giữ mình khỏi sự ô uế của thế gian. Đồng thời, chúng ta cầu nguyện cho hội thánh của Chúa trong giai đoạn cuối cùng này: xin Chúa Thánh Linh thăm viếng dân sự của Ngài. Chỉ có sự thăm viếng của Chúa mới có thể giải quyết được những nan đề trong đời sống cá nhân, gia đình, hội thánh và dân tộc chúng ta. Nhưng sự thăm viếng của Chúa chỉ đến khi nào có những cuộc đời bằng lòng đầu phục Ngài và tìm kiếm sự hiện diện của Ngài cách thành khẩn và hết lòng.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa yêu thương, xin Ngài thăm viếng chúng con mỗi ngày để gìn giữ chúng con trong con đường kính sợ, yêu mến Ngài và yêu mến mọi người. Xin cứu chúng con khỏi những lời nói giả dối, dua nịnh, và làm tàn hại người khác. Xin cho chúng  con khi phải nói, thì nói lời lành, có ích cho người nghe, mang lại sự gây dựng đời sống tâm linh anh em, gây dựng hội thánh và danh Chúa được đồn ra cho nhiều người được biết Ngài. Amen!

Wednesday, August 17, 2016

ĐỊNH LUẬT THUỘC LINH

Giăng (John) 12:23-27
Đức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Giờ đã đến, khi Con người sẽ được vinh hiển. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu hột giống lúa mì kia, chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất đi, ai ghét sự sống mình trong đời nầy thì sẽ giữ lại đến sự sống đời đời. Nếu ai hầu việc ta, thì phải theo ta, và ta ở đâu, thì kẻ hầu việc ta cũng sẽ ở đó; nếu ai hầu việc ta, thì Cha ta ắt tôn quí người. Hiện nay tâm thần ta bối rối; ta sẽ nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ nầy! nhưng ấy cũng vì sự đó mà Con đến giờ nầy!

Chúa Jesus thốt ra những lời nầy sau biến cố Ngài vào thành Jerusalem được mọi người tung hô. Đó là những giây phút "vinh quang" để chuẩn bị Ngài cho sứ mạng đầy nước mắt và đau khổ sắp xảy đến: bước lên thập tự giá làm sinh tế thay cho tội lỗi của toàn nhân loại. Đây chính là đỉnh điểm của việc Chúa Jesus xuống thế làm người. Vì thế, Chúa Jesus luôn tự nhắc nhở mình và mọi người về mục đích Ngài đến trần gian để làm gì (c. 27). Chúng ta quan sát phản ứng của con người, nhất là của các môn đồ thân tín của Chúa Jesus đối với sự kiện Ngài được tung hô như thế nào? Ai nấy điều hoan hỉ, vui mừng; đặc biệt, đám dân trong thành Giê-ru-sa-lem dành cho Ngài những gì đẹp đẽ nhất trong ngày hôm đó. Thậm chí, sau đó, có mấy người Hy-lạp đến nhờ các môn đồ cho cái hẹn để gặp riêng Chúa Jesus. Chúng ta không rõ mục đích của việc gặp để xin chữ ký hay để làm gì? "Chúng tôi muốn ra mắt Đức Chúa Jesus" ("We wish to see Jesus"). Các môn đồ bổng dưng trở thành những nhân vật quan trọng nhờ ảnh hưởng của thầy! Cảnh trạng và giây phút "huy hoàng" này khiến cho không một ai trong đám đông ngày hôm ấy nghĩ ra được rằng chỉ trong vài ngày nữa, chính "thần tượng" của họ sẽ sụp đổ và ngã chết trên thập tự tại đồi Gô-gô-tha cách nhục nhã, phủ phàng như một kẻ yếu hèn! Nhưng cũng không ai khác hơn là chính tham dự vào cái chết của Chúa Jesus khi họ kêu la muốn đóng đinh Ngài. Điều gì con người ban cho thì con người có thể lấy lại khi họ không hài lòng. Thế thái nhân tình là thế đấy! Ai quên thì quên, chứ Chúa Jesus chẳng bao giờ bị chết lịm vì những phút vinh quang tạm bợ, hay bị đánh lừa bởi sự tung hô và khen tặng rỗng tuếch của con người dành cho Ngài. Chúng ta hãy xem Chúa Jesus phản ứng ra sao?
Khác với chúng ta, phản ứng của Chúa Jesus trong lúc này thật là quan trọng. Phi-líp và Anh-rê thưa với Ngài về việc người Hi-lạp muốn gặp riêng nhưng Chúa chẳng màng gì đến việc đó. Thậm chí Chúa Jesus cũng chẳng bận tậm việc con người ban tặng cho Ngài cái vinh hoa tạm bợ, vì Ngài đã nhìn thấy vinh quang thiên thượng từ đằng xa. Chúa Jesus lại phán: "Giờ đã đến, khi Con người sẽ được vinh hiển" (c. 23). Tâm trí Ngài bị chiếm ngự bởi một điều mà con người không thể ban cho và cũng chẳng ai tước đoạt đi được. Chúa Jesus tìm kiếm vinh hiển thật đến từ nơi Cha. Con đường đến đó không phải được trải bằng những cành cây chà là hay chiếc áo của con người hay ngay cả những lời tung hô vang dậy như khi Ngài vào thành Jerusalem nhưng bằng sự hy sinh chính mạnh sống của Ngài trong im lặng, tủi nhục, đau khổ mà chẳng ai có thể chia sẻ được nổi cô đơn giá buốt này. Ngay cả Cha cũng ngoảnh mặt khỏi Con Ngài khi Người bị treo trên thập tự giá (Mathiơ 27:46). Hay nói cách, con đường đi đến vinh quang thật phải băng qua mồ chôn của chính mình. Chúa Jesus ví sánh chính mình như hột giống lúa mì phải được chôn và chết trong lòng đất sau khi gieo thì mới sanh sản kết quả được nhiều (c. 24). Chúa Jesus không giữ vinh quang cho chính mình nhưng sẵn sàng từ bỏ để đem nhiều người vào trong sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Trong sự vinh hiển thật chứa đựng sự từ bỏ cái ngã, cái tinh thần muốn thụ hưởng cho chính mình để san sẻ nó cho người khác. Thế rồi, Ngài đưa ra luật vàng của thiên đàng ở đây: từ bỏ chính mình là giữ lại tất cả, còn giữ lại chính mình là đánh mất tất cả! (c. 25). Luật vàng này không tìm thấy trong môn toán học của con người nhưng chỉ có trong máy tính của Đức Chúa Trời!
Cuối cùng, Chúa Jesus đưa ra một câu mà những người hầu việc Chúa thường trích dẫn để an ủi và khích lệ chính mình và người khác (c. 26). Tuy nhiên, chúng ta thường hay bỏ qua các câu trên để chỉ nắm giữ phần ban thưởng của câu này. Chúng ta phải nhớ điểm này, Đức Chúa Trời chỉ ban sự vinh hiển và tôn quý cho những ai bằng lòng từ bỏ chính sự sống của mình để san sẻ cho người khác. Nghĩa là người đó phải bước qua sự chết của chính cái tôi của mình, tự ái của mình, niềm hãnh diện và tự hào về mình; ngay cả tội lỗi và mặc cảm yếu đuối của mình thì mới hy vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ tôn quý mình. Người hầu việc Chúa thật sự và đúng nghĩa là người phải đi con đường thập tự giá với Chúa thì mới được Chúa tôn quý. Không có con đường nào khác cho chúng ta chọn lựa. Trong chiếc máy vi tính của Đức Chúa Trời không có dấu hiệu (icon) rút ngắn (short-cut). Thông thường con đường rút ngắn không tìm thấy được nội dung (content) của nó. Thật nguy hiểm thay cho những ai không đi qua con đường sự chết chính bãn ngã của mình mà được quyền cao chức trọng và được mọi người tôn trọng. Người đó sẽ là hiểm họa cho dân sự của Đức Chúa Trời thay vì sự chúc phước. Người đó sẽ chẳng bao giờ được Đức Chúa Trời tôn quý mà là con người tôn quý hay mình tự tôn quý mình thì đúng hơn.
Trong hai câu 27 và 28 chúng ta cảm nhận tiếng thổn thức sâu xa của một linh hồn đang còn muốn níu khéo sự sống hiện tại và vật lộn giữa cái ngã và sứ mạng của Đức Chúa Cha cho chính đời sống của mình. "Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này! Nhưng ấy cũng vì sự đó mà Con đến giờ này" (c. 27). Nhưng rồi, Chúa Jesus hoàn toàn buông mình trong tay Cha để rồi nhờ đó mà chúng ta được thừa hưởng sự vinh hiển Đức Chúa Trời ban cho qua sự chết của Con Ngài. Như sứ đồ Phao-lô nói: "Còn những kẻ Ngài đã định sẵn thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi thì Ngài cũng đã xưng công bình, và những kẻ Ngài đã xưng công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển" (Rô-ma 8:30). Chúa Jesus đã thấy rõ mồn một từ cõi đời đời và ghi đậm trong tâm trí của Ngài điều này: sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến! Cảm tạ Chúa Jesus vì Ngài đã bằng lòng đi con đường này cho đến cuối cùng.
Điều bận tâm của người theo Chúa và phục vụ Ngài không phải là chúng ta làm được gì cho Chúa, bèn là chúng ta bằng lòng bước qua sự chết với Chúa của chính con người của mình đến đâu, và để Chúa làm gì trong đời sống chúng ta. Cơ đốc nhân muốn kết quả cho Chúa không phải vì nổ lực hoạt động cho nhiều, tạo nên nhiều phong trào sôi nổi, cố công cầu nguyện la hét và ca hát rập rộ v.v. . . bèn là bằng lòng đặt mình xuống để bước vào trong lòng đất lạnh của thế giới băng hoại và bản chất sa ngã của chính mình, để rồi từ đó Chúa Jesus vực chúng ta lên qua sự sống phục sanh của Ngài. Hay nói cách, sự sống phục sanh của Chúa Cứu Thế Jesus hành động mạnh mẽ trong chúng ta và biến đổi chúng ta bao nhiêu, thì chúng ta sẽ kết quả cho Ngài bấy nhiêu. Khi đó, sự vinh hiển thật sẽ đến, ở mãi với chúng ta và đưa chúng ta vào trong cõi vinh hiển đời đời với Ngài.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa Jesus, con cám ơn Ngài đã bằng lòng đi con đường của sự từ bỏ chính mình vì con để nay con được thuộc về Ngài và được vinh hiển trong Ngài. Xin giúp con mỗi ngày bằng lòng đi theo Ngài trên con đường này cho đến khi Ngài rước con vào trong nơi vinh hiển với Ngài. Xin cho tai con điếc với những tiếng khen ngợi của con người và mắt con trở nên mù lòa với sự vinh hiển hào nhoáng nhưng tạm bợ và rẻ tiền của trần gian này. Xin cho tâm trí con không bị đánh lừa bởi những sự hứa hẹn giả tạo của vinh quang đời này. Chúa ôi, xin mở mắt tâm linh con để nhìn thấy vinh hiển thật đến từ nơi Cha, để con bằng lòng chấp nhận mất mát tất cả để rồi con sẽ được chính Ngài, vì Ngài là mọi sự trong mọi sự. Xin cho linh hồn con vui mừng và nhảy nhót trong Ngài đang khi con đi qua những ngày từ bỏ chính mình để sống cho Ngài. Amen!

Wednesday, August 10, 2016

SỰ HIỂU LẦM ĐÁNG TIẾC

I Sử ký (Chronicles) 19:1-4 
Sau các việc đó, Na-hách, vua dân Am-môn, băng hà, và con trai người kế người làm vua. Đa-vít nói: Ta muốn làm ơn cho Ha-nun con trai của Na-hách, vì cha người đã làm ơn cho ta. Đa-vít bèn sai những sứ giả đến an ủi người về sự cha người đã băng hà. Vậy các đầy tớ của Đa-vít đến cùng Ha-nun tại trong xứ dân Am-môn, đặng an ủi người. Nhưng các quan trưởng dân Am-môn tâu với Ha-nun rằng: Vua há có tưởng rằng Đa-vít sai những kẻ an ủi đến cùng vua, là vì tôn kính thân-phụ vua sao? Các đầy tớ hắn đến cùng vua há chẳng phải để tra xét và do thám xứ, hầu cho hủy phá nó sao? Ha-nun bèn bắt các tôi tớ của Đa-vít, biểu cạo râu họ đi, cắt áo họ từ chặng phân nửa cho đến lưng, rồi đuổi về.
Đa-vít được gọi là “người theo lòng của Đức Chúa Trời.” Chính vì thế, ông luôn luôn bày tỏ là người trung thành với giao ước mà mình đã kết ước với người khác. Đó chính là đặc tính của Đức Chúa Trời. Động từ “làm ơn” trong nguyên văn Hi-bá-lai (khesed) là “bày tỏ lòng trunh thành” hay “bày tỏ lòng trung tín” với người khác. Đây là động từ thường được dùng để diễn tả sự kết ước của Đức Chúa Trời đối với dân sự của Ngài, nhưng cũng nói đến sự tận hiến và trung thành giữa hai người với nhau. Vì Đức Chúa Trời giữ giao ước của Ngài với Đa-vít, cho nên ông cũng giữa giao ước hay kết ước của mình đối với người khác và dòng dõi người đó. Đây là một đức tính vô cùng cao đẹp của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời. Chẳng những Đa-vít giữ giao ước với Mê-phi-bô-sết vì cớ Giô-na-than (2 Sa-mu-ên 9:1, 3), nhưng ông còn giữ giao ước với Na-hách, vua dân Am-môn. Trong Kinh Thánh không ghi lại chi tiết cụ thể việc Na-hách kết ước với Đa-vít. Trong thời của vua Sau-lơ, Na-hách và dân Am-môn là kẻ thù không đội trời chung của dân Y-sơ-ra-ên. Vua Sau-lơ đã từng đem quân tiêu diệt dân Am-môn. Nhưng Na-hách lại là người ủng hộ Đa-vít trong thời gian trốn chạy sự săn đuổi của vua Sau-lơ và trong thời Ích-bi-bô-sết trị vì tại Giê-ru-sa-lem (2 Sa-mu-ên 2:8-4:12). Động từ mà Kinh Thánh sử dụng (khesed) cho thấy có thể Đa-vít và Na-hách đã kết ước bảo vệ nhau trong những năm tháng Đa-vít lưu lạc rày đây mai đó. Vì thế, nay lên ngôi làm vua, Đa-vít muốn bày tỏ lòng biết ơn về sự giúp đỡ và tình bạn Na-hách dành cho mình.
Nhưng hành động tốt lành và thiện hảo của Đa-vít đã không được vua Ha-nun là con Na-hách đón nhận cách đúng nghĩa. Có lẽ vì những thành kiến ra từ sự tàn ác và xung đột của thời Sau-lơ đã để lại trong tâm trí đầy tớ (đúng ra là hoàng tử) của Ha-nun khiến cho họ giải nghĩa một cách hoàn toàn ngược lại với thiện ý của Đa-vít dành cho Ha-nun. Đáng lý ra Ha-nun và các đầy tớ của ông nên xem xét cẩn thận sự việc và mối liên hệ giữa Na-hách và Đa-vít như thế nào trước khi hành động. Rõ ràng rằng họ đã để cho thành kiến và ấn tượng xấu của quá khứ phủ che đi hành động xuất phát từ tấm lòng tốt và chân thành của vua Đa-vít. Nhưng sự việc không dừng tại đó. Ha-nun đã liên kết để lôi kéo các đồng minh của mình trong vùng lân cận để chống lại Đa-vít và dân sự của Đức Chúa Trời. Đó là một hành động vô cùng nông nổi và điên cuồng, đưa cả đất nước và vùng lân cận vào trong một cuộc chiến tương tàn. Bao nhiêu sanh mạng vô tội đã trả giá cho một quyết định xuất phát từ thành kiến và định kiến sai lầm! Thay vì dùng công sức và tài nguyên của đất nước vào công việc xây dựng thì dùng vào chiến tranh tương tàn và đẫm máu cách phi lý. Thay vì đối thoại thì Ha-nun dùng dùng chiến tranh để giải quyết vấn đề xung đột giữa hai quốc gia và toàn vùng bấy giờ. Chiến tranh chẳng bao giờ là giải pháp tốt nhất cho mọi xung đột và nghi kỵ. Hậu quả là chiến tranh xảy ra, biết bao mạng sống vô tội đã phải trả giá cho sự hiểu lầm và lời bàn “quái ác” của bọn đầy tớ của Ha-nun. Ước chi, Ha-nun bình tâm, tĩnh trí suy nghĩ cho cẩn thận về hành động của Đa-vít thì chẳng bao giờ có cảnh tương tàn như chúng ta thấy lịch sử ghi lại.
Không phải lúc nào lòng tốt của chúng ta đối với người khác đều được người ta nhận ra hay chấp nhận cách dễ dàng. Ma-quỷ luôn luôn xúi giục lòng người nghi kỵ lẫn nhau và hiểu lệch lạc về hành động của người khác. Thành kiến và định kiến góp phần không ít trong việc hình thành nên suy nghĩ và đưa đến hành động của chúng ta. Từ trong gia đình, vào trong Hội Thánh và ra đến bên ngoài xã hội, những sự việc như thế này vẫn tiếp diễn và gây ra không ít điều thiệt hại vô cớ cho gia đình, công việc Chúa của Hội Thánh, và gây nên sự bất ổn trong xã hội loài người. Khuynh hướng tự nhiên của con người là dễ nghĩ xấu hay nghi ngờ về hành động hay việc tốt của người khác đối với mình. Làm thế nào để chúng ta có thể không bị rơi vào những tình huống như Ha-nun đối với Đa-vít? Thiết tưởng rằng đây là một vài điều chúng ta cần nên có:
  • Đừng vội vàng đánh giá người khác bởi hành động của họ, nhưng hãy tìm hiểu bản chất của hành động hơn là chính hành động;
  • Đừng để thành kiến và hay định kiến về người khác chi phối suy nghĩ và hành động của chúng ta, khiến chúng ta phản ứng cách nông nỗi và dại dột;
  • Đừng luôn luôn nghĩ xấu về người khác; hãy nghĩ tốt về người khác cho đến khi chúng ta có bằng chứng rõ ràng họ xấu;
  • Dẫu cho người khác đối xử không tốt với chúng ta đi chăng nữa, hãy tìm cách lấy ơn báo oán như điều Chúa dạy (Rô-ma 12:17-21).
Dấu hiệu của người có nhân cách trưởng thành thuộc linh là bình tĩnh trong suy nghĩ và cân nhắc trong lời nói lẫn hành động, nhận biết quyền tể trị của Đức Chúa Trời và tin cậy Ngài về mọi việc xảy ra trong đời sống. Nếu chúng ta sống với lòng biết ơn Chúa và nghĩ đến điều tốt lành người khác làm cho mình, chắc hẳn chúng ta sẽ tìm cách bày tỏ lòng biết ơn đối với người làm ơn cho mình và cứu chúng ta khỏi tinh thần nghi kỵ người khác. Đôi khi vì bị chi phối bởi lòng ghen ghét và ganh tỵ, chúng ta dễ dàng bị cuốn hút vào vòng xoáy của những hành động điên cuồng và ngu dại, gây ra biết bao tai hại cho chính mình và người khác. Chính vì thế, sứ đồ Gia-cơ khuyên: Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận; vì cơn giận của người ta không làm nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (Gia-cơ 1:19-20).

Cầu nguyện:
Cầu xin ban cho con tấm lòng yêu thương và khiêm nhường để nhận biết được những điều tốt lành nơi người khác. Xin Thần Linh Chúa giúp con thoát khỏi những định kiến hay thành kiến sai lầm về người khác có thể khiến con hành động cách ngu dại và nông nổi, gây tổn hại cho chính mình, cho Hội Thánh, và trên hết cho danh vinh hiển của Ngài. Xin cho con ngày càng trưởng thành trong nhận thức và nhân cách để có thể bày tỏ vẻ đẹp của Chúa trong đời sống mỗi ngày. Amen!