Thursday, December 24, 2015

MÃN NGUYỆN TRONG TÌNH YÊU CỦA NGÀI

Lu-ca (Luke) 2:25-35
 25Vả, trong thành Giê-ru-sa-lem có một người công bình đạo đức, tên là Si-mê-ôn, trông đợi sự yên ủi dân Y-sơ-ra-ên, và Đức Thánh Linh ngự trên người. 26Đức Thánh Linh đã bảo trước cho người biết mình sẽ không chết trước khi thấy Đấng Christ của Chúa. 27Vậy người cảm bởi Đức Thánh Linh vào đền thờ, lúc có cha mẹ đem con trẻ là Jêsus đến, để làm trọn cho Ngài các thường lệ mà luật pháp đã định, 28thì người bồng ẵm con trẻ, mà ngợi khen Đức Chúa Trời rằng:
 29Lạy Chúa, bây giờ xin Chúa cho tôi tớ Chúa được qua đời bình an, theo như lời Ngài;
 30Vì con mắt tôi đã thấy sự cứu vớt của Ngài,
 31Mà Ngài đã sắm sửa đặng làm ánh sáng trước mặt muôn dân,
 32Soi khắp thiên hạ,và làm vinh hiển cho dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài.
33Cha mẹ con trẻ lấy làm lạ về mấy lời người ta nói về con. 34Si-mê-ôn bèn chúc phước cho hai vợ chồng, nói với Ma-ri, mẹ con trẻ rằng: Đây, con trẻ nầy đã định làm một cớ cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc dấy lên, và định làm một dấu gây nên sự cãi trả; 35còn phần ngươi, có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng ngươi. Ấy vậy tư tưởng trong lòng nhiều người sẽ được bày tỏ.
Sau ba mươi ngày được quy định là tinh sạch (Lê-vi ký 12:1-8), Giô-sép và Ma-ri mang con trẻ Jesus lên đền thờ để dâng cho Chúa hầu làm trọn điều đòi hỏi của luật pháp (Lu-ca 2:22-24). Đây là bước khởi đầu của một cuộc đời được sanh ra để làm trọn luật pháp (Lu-ca 2:27, 39; Ma-thi-ơ 5:17) hầu có thể cứu những kẻ ở dưới luật pháp (Ga-la-ti 4:4-5). Sự làm trọn luật pháp này được cụ Si-mê-ôn, người sống tin kính theo luật pháp của Chúa và yêu mến sự hiện ra của Đấng Mê-sia (Lu-ca 2:25), xác nhận. Khi gặp được con trẻ Jesus, cụ Si-mê-ôn liền cất tiếng ca ngợi Chúa và mãn nguyện về cuộc đời của mình:
Lạy Chúa, bây giờ xin Chúa cho tôi tớ Chúa được qua đời bình an, theo như lời Ngài;Vì con mắt tôi đã thấy sự cứu vớt của Ngài mà Ngài đã sắm sửa đặng làm ánh sáng trước mặt muôn dân, soi khắp thiên hạ,và làm vinh hiển cho dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài.”
Cuộc đời của cụ Si-mê-ôn chỉ có một khát vọng duy nhất là gặp được “Đấng Christ của Chúa” vì cụ được đầy dẫy Đức Thánh Linh và sống theo sự hướng dẫn của Ngài (Lu-ca 2:25-27). Khi gặp được con trẻ Jesus, cụ Si-mê-ôn biết rằng đó là dấu hiệu cho thấy lời hứa về sự giải cứu của Chúa đối với dân sự của Ngài được hoàn nghiệm. Chính Giô-sép và Ma-ri kinh ngạc vì chưa thấu hiểu được điều đó. Cuộc đời của Si-mê-ôn để lại cho chúng ta hai bài học lớn: (a) người sống tin kính theo Lời Chúa có lòng khao khát về sự cứu rỗi và sự hiện đến của Con Ngài. Chính Lời Chúa tràn ngập cuộc đời của họ bởi lòng hướng đến tương lai vinh hiển và bị chi phối bởi khát vọng thiêng liêng đó; và (b) khi được gặp Chúa Jesus rồi thì chẳng còn ước mơ nào khát của trần gian này xâm chiếm cuộc đời của mình. Như Si-mê-ôn, chúng ta sẽ nói rằng: “Bây giờ xin Chúa cho tôi tớ Chúa được qua đời bình an.”
Đồng thời, cảm bởi Chúa Thánh Linh, cụ Si-mê-ôn cũng nói tiên tri về con trẻ Jesus với Giô-sép và Ma-ri như sau:
“Đây, con trẻ nầy đã định làm một cớ cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc dấy lên, và định làm một dấu gây nên sự cãi trả; 35còn phần ngươi, có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng ngươi. Ấy vậy tư tưởng trong lòng nhiều người sẽ được bày tỏ.”
Sự ra đời của Chúa Jesus, trên một phương diện, mang lại phước hạnh cho con người đang sống trong tăm tối để dẫn họ bước vào sự sáng và vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nhưng cuộc đời của Ngài, trên một phương diện khác, còn tạo sự phân rẽ hay “nan đề” cho những cuộc đời chống trả lại ánh sáng của Chúa chiếu rọi vào trong thế gian này. Cụ Si-mê-ôn không ngần ngại sử dụng những từ ngữ hình tượng rất mạnh mẽ như: “vấp ngã,” “dấy lên,” “cãi trả.” Đồng thời, con trẻ Jesus mà Ma-ri đã vui lòng đầu phục ý muốn của Chúa, sẵn sàng hy sinh niềm hạnh phúc cá nhân của mình để đón nhận vào trong cuộc đời của mình như là niềm hạnh phúc và hãnh diện lớn lao nhất của nhân loại, thì chính con trẻ đó sẽ là “thanh gươm đâm thấy qua lòng của mình.” Chỉ mới ba mươi ngày sau khi sanh con trẻ Jesus, Ma-ri cần phải đối diện và chấp nhận sự thật về quyết định của mình. Thật đúng như thế, từ khi đó cuộc đời của Ma-ri bắt đầu lao vào một hành trình đầy gian khổ và nước mắt cho đến khi chứng kiến con mình bị đâm và giết cách tàn nhẫn trên cây mộc hình. Theo Si-mê-ôn từ xa vẽ ra hình ảnh ngọn giáo của bọn lính La-mã đâm vào hông Chúa Jesus cũng chính là lưỡi gươm đâm xuyên thấu vào lòng của Ma-ri, mẹ Ngài.
Trong tất cả phước hạnh Chúa ban cho con người chẳng phước hạnh nào lớn hơn được cưu mang Con Trời và dự phần vào trong việc mang Ngài vào đời. Nhưng phước hạnh tuyệt vời đó không có nghĩa thiếu vắng sự đau khổ, nước mắt, buồn thảm mà đẹp ý Ngài cho phép được dự phần vào. Chúa Jesus đã vào đời mang tình yêu của Đức Chúa Trời đến với thế gian rách nát và đau khổ do tội lỗi gây ra. Món quà tình yêu của Chúa được gói bằng một lớp giấy hoa đầy nét chấm phá của nhiều màu sắc sáng và tối, hạnh phúc và đau khổ quện lẫn vào nhau. Càng chìm đắm cuộc đời chúng ta trong tình yêu của Chúa, có nghĩa rằng chúng ta sẽ nếm biết tính chất lưỡng cực của tình yêu của Ngài. Chính sự đối kháng mạnh liệt giữa hai lưỡng cực ấy sẽ nẩy sanh ra những dòng điện cực mạnh để đốt cháy cuộc đời chúng ta trở nên sự sáng của thế gian như chính Ngài là sự sáng. Bạn và tôi có sẵn sàng bước đi xa hơn với Chúa trong tình yêu của Ngài không?

Thursday, December 17, 2015

VUI MỪNG TRONG CHÚA

Phi-líp (Philippians) 4:1-5
1 Vậy thì, hỡi anh em rất yêu rất thiết, là sự vui mừng và mão triều thiên cho tôi, kẻ rất yêu dấu ơi, hãy đứng vững trong Chúa. 2 Tôi khuyên Ê-yô-đi và khuyên Sin-ty-cơ phải hiệp một ý trong Chúa. 3 Hỡi kẻ đồng liêu trung tín, tôi cũng xin anh giúp hai người đàn bà ấy, nhân hai bà ấy cùng tôi đã vì đạo Tin Lành mà chiến đấu; Cơ-lê-măn và các bạn khác đồng làm việc với tôi cũng vậy, có tên những người đó biên vào sách sự sống rồi. 4 Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi. 5 Hãy cho mọi người đều biết nết nhu mì của anh em. Chúa đã gần rồi.
Suy gẫm:
Hội Thánh Phi-líp là một trong số ít hội thánh trong thời kỳ đầu tiên được xem là lành mạnh về thuộc linh (emotionally healthy church). Sứ đồ Phao-lô thường hay nhắc đến họ là hội thánh mang lại niềm vui mừng và khích lệ cho ông giữa những khó khăn của đời sống chức vụ. Phao-lô viết thư này cho họ đang khi ông ngồi tù chờ phán quyết số phận vì giảng Tin Lành. Thay vì sầu khổ cho số phận và tương lai mờ mịt, sứ đồ Phao-lô nghĩ đến những gì Chúa làm trong đời sống của tín hữu và hội thánh của Ngài, mang đến cho ông nguồn cảm hứng mạnh mẽ. Chính vì thế, Phao-lô xem họ là sự vui mừng và mão triều thiên vinh hiển cho ông. Đây là bằng chứng sống động về sự hiện diện của Chúa trong đời sống tín hữu, hội thánh, và cá nhân của sứ đồ Phao-lô. Sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trong đời sống của sứ đồ Phao-lô và tín hữu là niềm vui mừng của thiên đàng không tùy thuộc vào hoàn cảnh trần gian vây quanh họ.
Hội thánh tại thành phố Phi-líp được xem là hội thánh lành mạnh nhưng không có nghĩa là vắng bóng của sự xung đột nhằm cướp đi niềm vui trong chính họ và sứ đồ Phao-lô. Sự xung đột hiện diện trong hội thánh giữa hai phụ nữ mà sứ đồ Phao-lô không ngần ngại nêu danh tánh của họ là: Ê-yô-đi và Sin-ty-cơ. Trên một phương diện, việc nêu đích danh cách công khai là điều có thể gây tổn thương cho cá nhân. Trên phương diện khác, đó là cách mang lại sự chữa lành cho hội thánh của Chúa. Khi mọi sự được công khai hóa và đem ra trong ánh sáng thì quyền lực của sự tối tăm không còn chỗ hành động kín giấu trong tấm lòng con người và hội thánh của Ngài. Chúng ta thấy chỉ trong mấy câu kinh văn mà sứ đồ Phao-lô nhắc đến ít nhất ba (3) lần cụm từ “trong Chúa”: “đứng vững trong Chúa” (c. 1); “hiệp một ý trong Chúa” (c. 2); “vui mừng trong Chúa” (c. 4). Cách giải quyết vấn đề của sứ đồ Phao-lô theo một tiêu chuẩn duy nhất: “trong Chúa.” Có nghĩa là mỗi cá nhân phải có mối liên hệ với Chúa thật sự, để Chúa làm chủ đời sống của mình, và sống theo Lời của Chúa thì nhiên hậu đời sống tín hữu mới có thể đứng vững trong đức tin, sống hiệp ý với nhau, và tràn đầy vui mừng trong đời sống.
Chúng ta không rõ nguyên nhân tạo nên sự bất hòa giữa hai phụ nữ nêu trên. Có lẽ đâu đó họ đều có lòng muốn làm công việc Chúa nhưng không hầu việc Chúa mà hầu việc chính họ (bản ngã/cái tôi). Sự xung đột nẩy sinh trong hội thánh và gia đình luôn luôn bắt nguồn từ trong cá tính (personality) của mỗi người, thuộc lãnh vực xúc cảm (emotion) bộc phát trong lời nói và việc làm. Cá tính của một người được hình thành do: di truyền, giáo dục gia đình, môi trường sống chung quanh khi người đó lớn lên. Khi tin Chúa, mỗi cá nhân mang cả “con người” của mình vào trong hội thánh để sống với nhau và đem trong vào sự phục vụ trong hội thánh. Để có sự vui mừng trong đời sống theo Chúa và phục vụ Ngài, chúng ta cần phân biệt hai thái cực sau đây:
Làm việc Chúa phục vụ mình
Làm việc Chúa phục vụ Ngài
Nhấn mạnh đến khả năng > nhờ cậy mình.
Tự mãn khi thành công. Chán nãn hay bào chữa khi thất bại.
Mong muốn phục vụ hay làm việc trong HT vì thấy mình có khả năng.
Làm theo ý muốn và sở thích của mình (Ma-thê).
Bỏ cuộc nếu không theo ý của mình; không chịu đựng được sự chỉ trích của người khác; 
Làm cho người khác thấy; chán nãn khi không được người khác biết ơn hay quan tâm.
Nhấn mạnh đến tấm lòng > nhờ cậy Chúa.
Phục vụ Chúa là sự kêu gọi của Chúa trên đời sống của mình.
Xem sự phục vụ trong HT như một đặc ân và phục vụ với lòng biết ơn.
Phục vụ theo sự dạy dỗ của Lời Chúa (Ma-ri).
Vui mừng chịu khổ khi phục vụ như Chúa Jesus.
Không xem trọng việc người khác có biết ơn hay quan tâm đến mình. Làm như làm cho Chúa (Cô-lô-se 3:23)

Sứ đồ Phao-lô khuyên: “Hãy cho mọi người đều biết nết nhu mì của anh em. Chúa đã gần rồi.” Đức nhu mì sứ đồ nói đến ở đây là sự nhịn nhục và chịu đựng. Lòng vui mừng liên quan đến xúc cảm con người thể nào, sự chán nãn cũng liên quan đến xúc cảm con người thể ấy. Tính tình nông nổi và để cho xúc cảm giận dữ bộc phát không biết kìm chế như nước vỡ bờ chỉ hủy hoại niềm vui trong đời sống người theo Chúa. Chính vì thế, đức nhu mì sẽ giúp chúng ta sống với những yếu đuối của chính mình và yếu đuối của người khác. Hãy để cho Chúa Jesus làm chủ tâm hồn và đời sống chúng ta thì chính Ngài là sự nhu mì và vui mừng của chúng ta: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng” (Ma-thi-ơ 11:28-29). Đó chính là điều mà sứ đồ Phao-lô đã nói: “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi.” Nguyện Chúa cho mỗi chúng ta trong Mùa Vọng (Advent) và Giáng Sanh này tìm thấy sự vui mừng thật trong Chúa Jesus vì Ngài là sự vui mừng lớn cho muôn dân (Lu-ca 2:10) và Ngài đã gần rồi. Amen!

Thursday, December 10, 2015

NGƯỜI ĐƯỢC CHÚA ĐOÁI ĐẾN

Lu-ca (Luke) 1:26-31
Đến tháng thứ sáu, Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa- rét, xứ Ga-li-lê, tới cùng một người nữ đồng trinh tên là Ma-ri, đã hứa gả cho một người nam tên là Giô-sép, về dòng vua Đa-vít. Thiên sứ vào chỗ người nữ ở, nói rằng: Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi. Ma-ri nghe nói thì bối rối, tự hỏi rằng lời chào ấy có nghĩa gì. Thiên-sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus.


Bước qua tháng thứ sáu sau Ê-li-sa-bét mang thai Giăng (Lu-ca 1:5-25), Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên (cũng là thiên sứ báo tin cho Ê-li-za-bét) đến báo tin cho Ma-ri về việc nàng được Chúa chọn để mang thai hài nhi Jesus. Đối với một thôn nữ Bết-lê-hem như Ma-ri mà được Chúa đoái đến là điều nằm ngoài sự tưởng tượng của con người. Kinh Thánh không cho chúng ta biết nhiều về tông tích và gia thế của nàng, ngoài chi tiết nàng là người đã hứa gả cho Giô-sép thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Đây là chỗ duy nhất liên kết Ma-ri vào trong sự cố này và sự ứng nghiệm lời hứa của Chúa về Đấng Mê-sia ra từ dòng dõi vua Đa-vít được hoàn nghiệm (Sáng thế ký 49:9-10). Điều ấy cho thấy sự thành tín của Chúa chẳng những đối với dân sự của Ngài qua việc Ê-li-za-bét mang thai nhưng cũng trong việc Ma-ri sẽ mang thai Chúa Jesus.
Ma-ri được đặc ân mang thai Chúa Jesus là vì nàng người “được ơn” trước mặt Chúa (you have found favor with God). Từ “được ơn” (charitoō) chỉ được sử dụng hai lần trong toàn bộ Tân-Ước; còn được dịch là “được ban cho nhưng không” (Ê-phê-sô 1:3). Việc Ma-ri mang thai Chúa Cứu Thế là sự chọn lựa và là ý muốn tuyệt đối của Chúa trên đời sống của Ma-ri, không tùy thuộc vào bất cứ điều kiện nào từ đời sống cá nhân của nàng. Ma-ri được Chúa chọn và sử dụng cho công việc lớn của Ngài là điều không thể giải thích được bằng ngôn từ và suy nghĩ của con người. Đó là đặc ân cao quý Chúa ban cho ai tùy ý Ngài muốn. Chính điều này khiến cho Ma-ri phải có thái độ khiêm nhường và vâng phục: Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền!” (Lu-ca 1:38).
Ma-ri mang thai Chúa Cứu Thế Jesus là sự việc vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của nhân loại. Vì thế, đòi hỏi Ma-ri có một đức tin vượt trổi hơn sự phán đoán và phân tích thuộc phạm trù lý trí hữu hạn của con người, nhắc bổng tâm trí nàng vào trong thế giới thần thượng của Đức Chúa Trời để có thể nắm bắt kịp sự chuyển động của chương trình cứu rỗi của Ngài cho con người. Chất xúc tác góp phần thúc đẩy cho đức tin này chính là điều Đức Chúa Trời đã làm cho người bà con của Ma-ri là Ê-li-sa-bét: Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con ngươi, cũng đã chịu thai một trai trong lúc già nua; người ấy vốn có tiếng là son, mà nay cưu mang được sáu tháng rồi” (Lu-ca 1:36). Chuyện cụ Ê-li-sa-bét son sẻ cả làng đều biết! Nay Chúa đã khoác lên cuộc đời cụ bà một chiếc áo vinh hiển chẳng những mang lại niềm vui khôn tả cho gia đình của hai cụ Xa-cha-ri và Ê-li-sa-bét tưởng chừng như chôn mình trong cảnh neo đơn và tủi nhục suốt đời nhưng còn tác động sâu xa đến cây đức tin đang đâm chồi nứt lộc vươn tới cõi thiên đàng trong con người của Ma-ri. Ma-ri đã học được bài học vô tín của Xa-cha-ri để rồi sẵn sàng cho Chúa tự do hành động trong chính cuộc đời nhỏ bé và tầm thường của mình (Lu-ca 1:18-20). Khi chấp nhận và đầu phục ý muốn và chương trình của Chúa, cuộc đời của Ma-ri được ban thưởng trong cả hai phương diện: vinh hiển và đau khổ (Lu-ca 2:29-35).
Đức tin, đức khiêm nhường, và đức vâng phục điều không thể thiếu được cho những cuộc đời chấp nhận theo Chúa và để cho Ngài sử dụng cuộc đời của mình. Vinh hiển và sự đau khổ là kết quả tất yếu mà những ai sẵn sàng để cho Chúa làm chủ cuộc đời của mình và sống cuộc đời kết ước của một môn đồ thật của Chúa Cứu Thế Jesus trên trần gian này. Trong Mùa Giáng Sanh này, xin Chúa cho chúng ta bước đi xa hơn với Ngài trong con đường đức tin, khiêm nhường, và vâng phục như Ma-ri. Chúa đang tìm những con người ấy giữa vòng chúng ta.