Thursday, November 19, 2015

THỜ PHƯỢNG VỚI LÒNG BIẾT ƠN VÀ TÔN KÍNH

Thi-Thiên (Psalm) 100
1 Hỡi cả trái đất, Hãy cất tiếng reo mừng cho Đức Giê-hô-va!
2 Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài.
3 Phải biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài; Chúng tôi là dân sự Ngài, là bầy chiên của đồng cỏ Ngài.
4 Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài, Hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài. Khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài.
5 Vì Đức Giê-hô-va là thiện; sự nhân từ Ngài hằng có mãi mãi, Và sự thành tín Ngài còn đến đời đời.
Suy gẫm:
Thi-Thiên 100 và 145 được gọi là “Thi-Thiên Tạ Ơn” (Psalm of Praise). Trong Thi-Thiên này tác giả ca ngợi Chúa vì Ngài là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Rỗi của dân sự Ngài. Tác giả kinh nghiệm được sự nhân từ và thành tín của Chúa trong đời sống cá nhân và dân sự của Ngài. Tác giả sử dụng một số động từ quan trọng để nói lên đặc điểm của người biết ơn Chúa như sau:
1/ “Cất tiếng reo mừng” (make a joyful noise) cho Đức Giê-hô-va (c. 1). Động từ “cất tiếng reo mừng” (ruwa’) được đề cập 37 lần trong toàn bộ kinh Cựu Ước, sử dụng để mô tả hành động la lớn tiếng (shout) hay tạo nên tiếng động rất ồn ào (loud noise). Ngày xưa, người ta la hét lớn tiếng trước đạo quân đối phương để làm cho kẻ thù khiếp sợ trốn chạy (Giô 6:10, 16, 20; I Sa 4:5; 17:20; II Sử 13:15). Đôi khi đây cũng là tiếng bật khóc của nỗi vui mừng đáp ứng lại với việc Chúa giải cứu dân sự của Ngài (Thi 47:1[2]; 95:1, 2; Ê-sai 44:23). Trong một số trường hợp khác, đây là tiếng reo mừng chiến thắng kẻ thù. Hay đôi lúc đó là lời hiệu triệu ra trận thường đi chung với tiếng kèn thổi (Dân 10:9; II Sử 13:12).
Tại đây, tác giả Thi Thiên muốn nói đến lòng biết ơn Chúa dâng trào từ trong lòng và tuôn tràn ra thành tiếng, thành lời vì kinh nghiệm tình yêu của Chúa đối với mình. Phải nói ra. Phải cất tiếng lên để ca ngợi Chúa. Sự vui mừng bên trong bộc lộ ra bên ngoài thành lời ca tiếng hát thật to! Nhìn vào cách chúng ta ca ngợi Chúa, người khác có thể biết lòng chúng ta đang vui mừng vì biết ơn Chúa hay sầu thảm vì thất vọng và chán chường.
2/ “Hầu việc” (serve) “hát xướng” (singing) đến trước mặt Chúa (c. 2). Động từ “hầu việc” (‘abad) có nghĩa là “làm việc” hay “phục vụ” cho một đội tượng hoặc là con người hoặc là Đức Chúa Trời. Khi sử dụng cho sự phục vụ Chúa thì được hiểu trong bối cảnh của sự thờ phượng trong đền thờ. Như trong trường hợp động từ này dùng nói đến công việc của A-đam và Ê-va trong vườn Ê-đen ngày xưa (Sáng 2:15).
Lối nói song hành của Thi-Thiên cho thấy hầu việc Chúa với sự vui mừng (gladness) có nghĩa là đến trước mặt Chúa bằng sự hát xướng. Khi hát ca ngợi Chúa là chúng ta hầu việc Ngài. Hầu việc Chúa đồng nghĩa với tôn cao danh của Ngài, không nhằm đề cao cá nhân hay phô trương tài năng cho con người thấy. Chỉ khi nào chúng ta hát với tinh thần tôn cao danh Chúa, khi đó Chúa mới xem là chúng ta đang hầu việc Ngài.
3/ “Biết” (know) rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời (c. 3). Tác giả cho mọi người biết sự hiểu biết của ông về Đức Chúa Trời: Ngài là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc. Có hai phương diện của vấn đề: (a) Về phần của tác giả, vì sự sống này, cuộc đời này do Chúa ban cho và thuộc về Ngài nên phải thờ phượng Ngài và cảm tạ Ngài; (b) về phần của Chúa, vì Ngài là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc nên Ngài có trách nhiệm bảo vệ và dẫn dắt dân sự của Ngài.
Người cảm tạ Chúa là người phải biết Chúa là ai? Sự hiểu biết Chúa của chúng ta sẽ ảnh hưởng trên đời sống phục vụ và thờ phượng Ngài của chúng ta. Chính vì thế, điều kiện tiên quyết cho người muốn thờ phượng Chúa và hầu việc Chúa, đặc biệt trong lãnh vực thờ phượng trong Hội Thánh, cần phải học biết Chúa qua Lời của Ngài và qua kinh nghiệm sống với Lời của Chúa mỗi ngày. Chúng ta không thể mang người ngoại hay người chưa được tái sanh vào trong Hội Thánh để ca hát hay tham gia vào sự thờ phượng Chúa vì họ chỉ làm “việc thờ phượng” nhưng không phải là “người thờ phượng” chân thật. Họ chỉ là người có khả năng về âm nhạc nhưng không có sự hiện diện của Chúa Thánh Linh để có thể thờ phượng Chúa bằng “tâm thần và lẽ thật" như điều Chúa muốn (Giăng 4:24).
4/ “Cảm tạ”(thank) “ngợi khen” (praise) Chúa trong nhà của Ngài (c. 4-5). Qua việc tác giả sử dụng các từ “cửa” và “hành lang” của Ngài, câu 4 nói đến sự thờ phượng trong đền thờ ngày xưa. Mục đích duy nhất trong sự thờ phượng là “cảm tạ” và “chúc tụng danh của Chúa.” Chính Đức Chúa Trời, không phải con người, thiết lập sự thờ phượng. Ngài phải là đối tượng duy nhất trong sự thờ phượng. Chúng ta không được phép sử dụng sự thờ phượng để làm đẹp lòng con người và tạo ra cách thờ phượng để cho ai nấy cũng có phần hầu làm vui lòng mọi người. Ngày xưa sự thờ phượng trong đền thờ được hướng dẫn bởi các thầy tế lễ là thành phần Chúa chọn và biệt riêng ra cho chức vụ này; ngày nay sự thờ phượng trong hội thánh cũng được hướng dẫn bởi các mục sư, truyền đạo là thành phần Chúa chọn lựa và kêu gọi cho chức vụ cao trọng này. Tất cả những gì thực hiện trong sự thờ phượng không đến từ Đức Chúa Trời và theo sự quy định của Lời Chúa đều được xem là “dâng lửa lạ” cho Ngài. Sở dĩ con người tội lỗi, xấu xa như chúng ta được Chúa cho phép đến gần thờ phượng Ngài vì sự thiện hảo (His goodness) và sự nhân từ Ngài (His lovingkindness) hằng có mãi mãi, và sự thành tín Ngài (His faithfulness) còn đến đời đời. Đây là chỗ dựa duy nhất của chúng ta trong sự thờ phượng để đến gần Ngài. Hội Thánh là nơi duy nhất trong trần gian này con người khám phá và nhận biết Chúa là ai để có thể thờ phượng Ngài cách chân chính. Nguyện sự thương xót của Chúa tiếp tục theo đuổi mỗi chúng ta ngày hôm nay và trọn cả đời để thờ phượng và cảm tạ Ngài mãi mãi. Amen!

Thursday, November 12, 2015

ĐIỀU TRƯỚC TIÊN CẦN PHẢI LÀM

Ma-thi-ơ (Matthew) 5:21-26
21 Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ giết ai; và rằng: Hễ ai giết người thì đáng bị tòa án xử đoán.22 Song ta phán cho các ngươi: Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; ai mắng anh em mình rằng: Ra-ca, thì đáng bị tòa công luận xử đoán; ai mắng anh em mình là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục hành phạt. 23 Ấy vậy, nếu khi nào ngươi đem dâng của lễ nơi bàn thờ, mà nhớ lại anh em có điều gì nghịch cùng mình,24 thì hãy để của lễ trước bàn thờ, trở về giảng hòa với anh em trước đã; rồi hãy đến dâng của lễ.25 Khi ngươi đi đường với kẻ nghịch mình, phải lập tức hòa với họ, kẻo họ nộp ngươi cho quan án, quan án giao ngươi cho thầy đội, mà ngươi phải ở tù. 26 Quả thật, ta nói cùng ngươi, ngươi trả còn thiếu một đồng tiền, thì không ra khỏi tù được.
Giết người là một trong những tội vô cùng nghiêm trọng được nói đến trong 10 Điều Răn của Chúa ban cho dân sự của Ngài (Xuất Ai Cập Ký 20:13). Tội giết người có hình phạt xứng đáng của nó. Khi giết người, chúng ta không chỉ xúc phạm nghiêm trọng thẩm quyền của Chúa nhưng còn hủy hoại sự sống của Ngài ban cho con người. Giống như luật pháp Môi-se, tòa án con người chỉ có thể xét xử và kết tội giết người dựa trên hành vi bên ngoài nhưng không thể kết án tư tưởng và suy nghĩ giết người bên trong. Nhưng Chúa Jesus đến, Ngài phơi bày bản chất giết người bên trong con người và cho thấy giết người có ba mức độ từ thấp đến cao:
1/ Mức độ thứ nhất: giết người khi giận dữ anh em mình. Giận dữ (Hi-lạp: orge) mà Chúa Jesus nói đến ở đây là sự bộc phát của cảm xúc và bản tánh vô độ, không kiểm soát nhưng cháy dai dẳng, âm ỉ cả đời (the long-lived anger). Cơn giận bộc lộ qua lời nói và việc làm. Lòng căm giận mà không kiềm chế sẽ dẫn đến lòng căm thù đưa đến hành động giết người như Ca-in đối với A-bên (Sáng Thế Ký 4:3-8). Có hai hình thức giết người: bằng vũ khí và bằng lời nói. Giết người bằng vũ khí giết thể xác nhưng bằng lời nói hủy hoại tinh thần, danh dự, uy tín. Ngày nay trong xã hội văn minh tiên tiến, con người không những giết người bằng vũ khí hiện đại nhưng cũng bằng phương tiện truyền thông hiện đại. Do để cho ma quỷ và bản tánh xác thịt xúi giục, con người dùng: điện thoại, thư từ, email, trang mạng phát tán khắp nơi để thóa mạ, sỉ nhục, vu cáo người khác, phơi bày cho mọi người thấy lòng căm giận và bản chất thấp hèn của mình. Chúa Jesus nói khi chúng ta làm việc những việc như thế thì bị tòa án xử đoán; chính Đức Chúa Trời lẫn tòa án lương tâm con người lên án.
2/ Mức độ thứ nhì: giết người khi mắng anh em mình là “ra-ca.” “Ra-ca” là một cách phát âm của tiếng A-ram, mang tính chất nguyền rủa, thề thốt. Khi chúng ta sử dụng từ này để mắng người khác, có nghĩa rằng chúng ta muốn nói người đó là kẻ “ngốc chí tử” (brainless idiot/emty-headed blunderer), bày tỏ sự bực dọc cao độ và khinh bỉ (contempt) đối với người khác ra từ lòng kiêu ngạo và hãnh diện về giai cấp, học thức, giàu có v.v... Không có tội nào được xem là tội mang tính chất phi cơ đốc (unchristian) cho bằng tội khinh bỉ người khác. Chúa Jesus lên án tội này cách gay gắt và nói rằng tội này đáng bị Tòa Công Luận là tòa án tôn giáo Do-thái sẽ xử đoán. Sự xử đoán này được dựa trên Luật Pháp của Chúa (Mosaic Law), cao hơn luật của lương tâm con người vì nó xúc phạm đến chính hình ảnh của Đức Chúa Trời (Gia-cơ 3:7-12).
3/ Mức độ thứ ba: giết người khi mắng anh em mình là “đồ điên.” Từ “đồ điên” (Hi-lạp: moros) là sự diễn tả mạnh mẽ nhất của lòng căm giận. Khi chúng ta mắng anh em cùng niềm tin là “đồ điên” tức chúng ta muốn nói rằng người đó không có Chúa (Thi Thiên 14:1). Chính Môi-se đã sử dụng từ này cho dân Y-sơ-ra-ên trong lúc ông giận dữ về sự cứng cỏi của họ. Thay vì nói với hòn đá, Môi-se đã dùng cây gậy đập hòn đá cho nước phun ra (Dân Số Ký 20:10). Chính Chúa cũng không dùng từ này để nói về dân sự của Ngài. Có lẽ vì đó mà Chúa đã hình phạt Môi-se không được vào đất hứa. Chúa Jesus nói khi chúng ta mắng anh em mình là “đồ điên” thì bị lửa địa ngục hình phạt; có nghĩa, chúng ta bị hư mất đời đời trong hỏa ngục.  Đây là sự kết án nặng nề và khủng khiếp nhất của Chúa đối với người theo Ngài.
Chúng ta làm gì khi phạm những việc như thế? Chúa Jesus đưa ra giải pháp cho vấn đề: “Ấy vậy, nếu khi nào ngươi đem dâng của lễ nơi bàn thờ, mà nhớ lại anh em có điều gì nghịch cùng mình, thì hãy để của lễ trước bàn thờ, trở về giảng hòa với anh em trước đã; rồi hãy đến dâng của lễ.”Tại đây, chúng ta thấy Chúa Jesus đưa ra nguyên tắc rất rõ ràng: cầu xin sự tha thứ của người mà chúng ta gây ra những việc như vậy. Bằng không, tội lỗi của chúng ta đối với Chúa và đối với người khác vẫn còn đó và chẳng bao giờ chúng ta được Ngài nhậm của lễ. Có lẽ Chúa muốn nói đến của lễ chuộc tội và lễ quán là những đòi hỏi của Chúa để được tha thứ. Sự tha thứ của Chúa tùy thuộc vào tấm lòng ăn năn chân thành của chúng ta. Bất cứ tội lỗi không được giải quyết theo cách của Chúa đòi hỏi thì chẳng bao giờ được Chúa tha thứ, thanh tẩy, và đổi mới đời sống dẫu cho đã phạm tội ấy bao nhiêu năm trước đây. Những tội lỗi đã phạm và gây vấp phạm công khai thì phải ăn năn công khai và giải quyết cách công khai.
Sự đòi hỏi của Chúa có quá khắt khe không? Chúa Jesus phán: “Khi ngươi đi đường với kẻ nghịch mình, phải lập tức hòa với họ, kẻo họ nộp ngươi cho quan án, quan án giao ngươi cho thầy đội, mà ngươi phải ở tù. Quả thật, ta nói cùng ngươi, ngươi trả còn thiếu một đồng tiền, thì không ra khỏi tù được.” Về phương diện thể xác lẫn tâm linh, sự tự do bao giờ cũng có một giá của nó. Không thể có sự nhân nhượng để được sự tự do trong mối quan hệ với Chúa để ban phước vì Ngài là quan án công bình. Chúng ta nài xin Chúa ban cho chúng ta tấm lòng khao khát được tự do sống cho Chúa và sự can đảm sẵn sàng trả giá để bứt đứt mọi dây trói buộc trong tâm linh. Bằng không, chúng ta có thể vẫn còn bị giam hãm trong cay đắng, hận thù, ghen ghét, căm giận…

Thursday, November 5, 2015

ĐỪNG QUÊN ƠN CHÚA!

Thi-Thiên (Psalm) 103:1-2
 1Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va!
Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài!
 2Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va,
Chớ quên các ân huệ của Ngài.
Suy gẫm:
Thi-Thiên 103 thuộc trong số các Thi Thiên tạ ơn do vua Đa-vít sáng tác. Tác giả nhắc nhở chính mình: “Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va!” Linh hồn chính là sự sống của Đức Chúa Trời phú cho con người để bởi đó con người có thể nhận thức về sự hiện hữu của chính mình (Sáng thế ký 2:7). “Linh hồn ta” có nghĩa là “Mọi điều gì ở trong ta.” Khi nói như thế, vua Đa-vít nhận thức rằng chẳng có điều nào trong đời sống của ông không do Chúa ban cho; trong đó bao gồm những nỗi vui lẫn nỗi buồn, thành công lẫn thất bại, đau khổ lẫn hạnh phúc, sung túc lẫn khánh tận v.v… Khi ôn lại tất cả thì tác giả chỉ biết ngợi khen và ca tụng danh của Ngài. Khi nói đến danh Chúa tức là nói đến chính Ngài. Tác giả Thi Thiên 103 dùng lối nói song hành để làm sáng tỏ ý tưởng của mình như sau:

Hỡi linh hồn ta
Khá ngợi khen
Đức Giê-hô-va
Mọi điều gì ở trong ta
Hãy ca tụng
Danh thánh của Ngài

Đa-vít tự nhủ với chính mình: “Chớ quên các ân huệ Ngài” vì bản tánh con người thường hay quên và vô ơn. “Ân huệ của Ngài" là ơn lành Chúa ban cho con người không xứng đáng nhận. Lắm khi vì lòng kiêu ngạo, chúng ta lại mau quên ơn lành của Chúa ban cho như vua Ê-xê-chia bị đau gần chết, cầu nguyện và được Ngài chữa lành. “Nhưng Ê-xê-chia chẳng báo đáp lại ơn Chúa mà người đã lãnh, vì lòng người tự cao; bèn có cơn thạnh nộ của Chúa nổi lên cùng người, cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem” (2 Sử ký 32:25). Xin Chúa cứu cứu chúng ta khỏi bản tánh kiêu ngạo và tự mãn. Xin Chúa Thánh Linh nhắc nhở mỗi chúng ta luôn sống với lòng biết ơn Chúa, đừng quên ơn lành Ngài ban.

Tác giả Thi-Thiên nêu ra các ân huệ của Chúa gồm những lãnh vực sau đây:

1/ Kinh nghiệm sự nhơn từ của Chúa: sự tha thứ tội lỗi và chữa lành thể xác lẫn tâm linh (c. 3-5);
2/ Kinh nghiệm đức công chính của Chúa và sự bênh vực của Ngài (c. 6-10);
3/ Kinh nghiệm lòng thương xót của Chúa như Đấng Tạo hóa đối với tạo vật nhỏ bé mong manh (c. 11-14);
4/ Kinh nghiệm tình yêu và ân sủng của Chúa đối với người yêu mến Ngài (c. 15-18);
5/ Kinh nghiệm quyền tể trị của Chúa trên đời sống cá nhân và cả cõi hoàn vũ (c. 19-22).

Trong Mùa Tạ Ơn, mỗi chúng ta dành thì giờ ôn lại những ơn lành Chúa ban cho trong suốt năm qua và cả những năm tháng trong cuộc đời chúng ta; hãy suy gẫm về tình yêu, sự thương xót, và lòng nhơn từ của Ngài hầu thêm lên lòng yêu mến Chúa và phục vụ Ngài ngày càng hơn. Xin Chúa cho mỗi chúng ta có thể nói như vua Đa-vít rằng:

 1Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va!
Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài!
 2Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va,
Chớ quên các ân huệ của Ngài.