Thursday, October 29, 2015

NGƯỜI NHU MÌ SẼ HƯỞNG ĐƯỢC ĐẤT!

Ma-thi-ơ (Matthew) 5:1-10
Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng:
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!
Phước cho những kẻ nhu mì vì sẽ hưởng được đất!

Suy gẫm:
Nhu mì là một đặc tính khác của những người thuộc về vương quốc của Đức Chúa Trời. Trong tư tưởng triết học và đạo đức Hy-lạp, người nhu mì có ba đặc điểm sau đây: (a) tính tình trung dung. Người đó không quá nóng nảy hay giận dữ nhưng cũng không quá yếu mềm hay nhu nhược. Người nhu mì là người biết phản ứng cách phải lẽ với mọi tình huống của đời sống; (b) biết tự chủ lấy chính mình. Đây là từ được dùng cho thú vật được thuần hóa để con người có thể sử dụng. Người nhu mì là người biết tự chủ, đặt mình dưới kỷ luật và vâng phục thẩm quyền; và (c) tâm tình khiêm nhường chịu học hỏi hay dạy dỗ. Người có tâm tình nhu mì là người mong muốn học nơi người khác. Như thế trong trường hợp này đức nhu mì đi chung với đức khiêm nhường. Chính đức khiêm nhường trang bị cho chúng ta đức nhu mì.
Trong Cựu Ước, từ “nhu mì” đôi khi cũng được dịch là “khiêm nhường” hay “nghèo nàn,” đi chung với “thiếu thốn” (Ê-sai 26:6; Sô-phô-ni 3:12). Đặc điểm của người nghèo nàn đó là lòng nương tựa nơi Chúa (Sô-phô-ni 3:12), được Chúa dẫn dắt (Thi-thiên 25:9), được Chúa giải cứu trong lúc nguy nan (Thi 76:9), được Chúa lắng nghe lời cầu nguyện (Gióp 36:15). Môi-se được kể là người nhu mì hay hiền hòa nhất trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên và cả thế gian (Dân-số ký 12:3). Trong Tân Ước, nhu mì chính là đặc tính của thiên đàng vì chính Chúa Jesus tuyên bố Ngài là Đấng “nhu mì” và “khiêm nhường” (Ma-thi-ơ 11:29; 21:5). Ngoài ra, nhu mì cũng được kể là đức tính quan trọng của người vợ Cơ đốc bởi đó có thể chinh phục chồng chưa tin Chúa của mình (1 Phi-e-rơ 3:4).
Chúng ta thường hay vẽ ra trong tâm trí mình hình ảnh của một người nhu mì là người ăn nói nhỏ nhẹ, cư xử nhẹ nhàng, đi đứng chậm rãi, và thậm chí dường như không bao giờ nổi giận. Không biết từ đâu tạo nên trong chúng ta suy nghĩ như vậy. Có lẽ vì ảnh hưởng của ngôn ngữ mang tính trừu tượng. Tuy nhiên, nếu suy nghĩ như vậy thì ngay cả những gì các sách Phúc Âm mô tả về con người của Chúa Jesus rất khó cho chúng ta đặt chính Ngài trong khuôn mẫu của một con người nhu mì phải không? Thế thì người “nhu mì” mà Chúa Jesus muốn nói đến ở đây là gì? Muốn hiểu được điều Chúa Jesus nói, chúng ta cần tìm hiểu bối cảnh lời kêu gọi mà Ngài đưa ra ở đây: “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta” (Ma-thi-ơ 11:29). Chúa Jesus đang lên án ách nặng nề của luật pháp do những nhà lãnh đạo Do-thái gáng trên con người, tạo nên sự mệt mỏi và sờn lòng (Ma-thi-ơ 11:1-19). Cố gắng vươn tới những gì luật pháp đòi hỏi, con người bị kẹt giữa sự xung đột của lòng kiêu căng và vô vọng. Con người chỉ muốn vật lộn với sự yếu đuối của chính mình và sự đòi hỏi nghiệt ngã của luật pháp. Càng vật lộn thì con người càng tuyệt vọng trong vũng bùn của bản ngã và sự lên án không thương xót của luật pháp. Đó là ách của luật pháp họ phải mang và chỉ dẫn họ đến chỗ hoàn toàn tuyệt vọng. Chúa Jesus xuất hiện và Ngài cung ứng cho con người giải pháp. Ách của Chúa chính là Tin Lành của ân sủng đối kháng lại với luật pháp. Sự đòi hỏi luật pháp là nặng nề. Tin Lành là sự ban cho của Chúa giải thoát con người ra khỏi ách luật pháp. Như thế, một người muốn đón nhận ân sủng của Chúa phải có lòng nhu mì muốn nương cậy nơi Đức Chúa Trời thay vì chính mình trong tất cả mọi. Người nhu mì là người tuyên bố cỡi bỏ ách tự mãn, nổ lực cá nhân, và giá trị đạo đức của chính mình để bước theo Chúa Jesus và chỉ nương tựa nơi ân sủng của Ngài để sống mỗi ngày. Giá trị của người đó không phải là chính họ mà là Chúa Jesus.
Phước cho những kẻ nhu mì vì sẽ hưởng được đất! Mối liên hệ giữa có lòng nhu mì và hưởng được đất ở đây là gì? Chúa Jesus trích từ trong Thi thiên 37:11 (bản LXX): “Song người hiền từ sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp, và được khoái lạc về bình yên dư dật.” Vì thế, muốn hiểu được điều Chúa Jesus nói, chúng ta cần quay trở lại với bối cảnh của Thi-thiên 37. Trong Thi-thiên này, tác giả muốn so sánh cuộc đời và số phận giữa người công bình và kẻ gian ác. Khi nói đến việc thừa hưởng đất, người Do-thái liên tưởng đến ít nhất ba điều:
  • Được dự phần vào trong lời hứa về đất của Chúa ban cho Áp-ra-ham, nghĩa là được dự phần trong giao ước Ngài ban cho Áp-ra-ham và dòng dõi người.
  • Được hiện hữu trên đất tức là sự trường thọ. Hình ảnh trái ngược nhau trong Thi-thiên 37:10-11 cho thấy kẻ ác thì bị diệt vọng song người hiền từ (nhu mì) thì được sống lâu trên đất.
  • Được hưởng đất trong tương lai đời đời, tức là được bước vào trong vương quốc một ngàn năm bình an của Chúa. Trong tất cả lời hứa của Chúa ban cho Áp-ra-ham và dòng dõi người đều được ứng nghiệm chỉ trừ lời hứa về đất là chưa được ứng nghiệm trọn vẹn. Vì thế, đây chính là sự ứng nghiệm liên quan đến lời hứa về vương quốc thiên hy niên, chủ yếu dành cho dân Y-sơ-ra-ên.
Như vậy, vương quốc của Đức Chúa Trời chỉ dành sẵn cho những con người có lòng nhu mì và khiêm nhường, bằng lòng tuyên bố phá sản tận gốc rễ những gì mình cho rằng có giá trị trong đời này để bước theo Chúa Jesus. Đức Chúa Trời không thẹn kể người đó là người thuộc trong giao ước thánh, những kẻ được cứu chuộc. Chính Chúa bảo đảm sự sống của họ trong những ngày trần trên đất này, dẫn đưa họ vào trong nước ngàn năm bình an và cả cõi đời đời. Về phương diện con người, những con người có lòng nhu mì xem có vẻ như yếu đuối và hèn hạ. Về phương diện Đức Chúa Trời, những con người đó được kể là có phước. Sự tôn tặng của con người chỉ là tạm thời. Nhưng sự chúc phước của Đức Chúa Trời là đời đời không cùng vậy. Amen!

Thursday, October 22, 2015

THAN KHÓC ĐỂ ĐƯỢC AN ỦI

Ma-thi-ơ (Matthew) 5:1-10
Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng:
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!

Suy gẫm:
Một đặc điểm khác của cuộc đời những con người thuộc về vương quốc của Đức Chúa Trời là có lòng than khóc. Chúa Jesus phán: “Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được an ủi.”  Trong câu Kinh Thánh này, Chúa Jesus dùng động từ “than khóc” với một ý nghĩa rất mạnh mẽ và rõ ràng.  Từ này được dùng để chỉ về sự than khóc khi người thân yêu nhất của mình qua đời (Sáng 23:2; 37:34, 35; 50:3).  Đồng thời, nó cũng được dùng để diễn tả sự than khóc vì tội lỗi của chính mình hay của dân sự (Ma-thi-ơ 26:75; 2 Cô-rinh-tô 5:2; 12:21; Gia-cơ 4:9).  Trong đời sống con người, không có gì đau khổ và sầu thảm bằng xa lìa người thân yêu tạm thời hay vĩnh viễn. Sở dĩ chúng ta than khóc vì trên một phương nào, họ ra đi mà chẳng bao giờ trở lại.  Hơn thế nữa, những kỷ niệm của người đó để lại trong tâm trí và tấm lòng chúng ta những dấu vết chẳng bao giờ xóa nhòa theo thời gian. Than khóc nói lên sự bất lực và giới hạn của con người trước một hoàn cảnh nằm vượt ra khỏi vòng tay với và khả năng của chính mình.  Than khóc cũng nói lên sự tiếc nuối về một điều nào đó hay sự đổ vỡ thất bại do chúng ta gây ra mà chẳng bao giờ hàn gắn hay tìm lại được. Nói chung, than khóc là sự biểu lộ tính chất yếu đuối của con người. Nhưng than khóc cũng là món quà Chúa ban cho con người. Nó vừa là cách biểu lộ sự đau khổ và thất vọng nhưng vừa là cách làm vơi đi những nỗi đau khổ và tuyệt vọng của chính mình. Nó là một lối thoát của sự ức chế và dồn nén cực độ trong đời sống tâm lý của con người.
Nhìn qua lăng kính trần gian, người than khóc là người yếu hèn, không đủ can đảm và sức mạnh để chống chọi lại với những lượn sóng đau khổ đang ập đến cuộc đời mình.  Nhưng đó chính là sự biểu lộ của lòng tự mãn và kiêu căng trống rỗng của bản chất của con người sau sự sa ngã.  Chính vì thế, có người không muốn bày tỏ sự yếu mềm của mình và cố gắng phủ lên chính mình một lớp áo can đảm và cứng rắn.  Nhưng sâu xa trong tận tâm trí và tấm lòng của người đó là nỗi thất bại và cay đắng đang gậm nhấm chính mình. Cuối cùng hậu quả là người đó không dám sống thật với chính mình, tự lừa dối mình và lừa dối người khác.  Người không dám để cho tiếng khóc bật lên như là lối thoát của đời sống tình cảm mình, đó chính là người sẽ làm cạn khô giếng nước mắt của mình và rồi làm cho con tim của mình trở nên băng giá, lạnh lùng và hửng hờ đối với những nỗi đau khổ của người khác.
Nhưng nhìn theo phương diện vương quốc của Chúa, người than khóc là người hạnh phúc vì đã để cho chính mình tự diễn tả tình cảm thầm kín của mình và biết tạo cho mình một lối thoát của đời sống nội tâm. Hơn thế nữa, Chúa Jesus nói người biết than khóc sẽ được an ủi. Không biết khóc thì chẳng bao giờ nhận được sự an ủi. Khi than khóc, con người nhận biết sự bất lực và yếu đuối của chính mình. Điều này sẽ đẩy con người đến một trong hai thái cực: (a) tự tìm cho mình lối thoát giả tạo; hay (b) tìm cho mình một nơi nương tựa vững chắc và đầy hy vọng để có câu trả lời. Vì thế, Chúa Jesus cho thấy ngưỡng cửa đầu tiên của một người muốn bước vào vương quốc Đức Chúa Trời đó là tấm lòng biết than khóc. Người đó phải biết than khóc về tình trạng bất lực, yếu đuối, tội lỗi của chính mình. Đó là sự biểu lộ của tấm lòng ăn năn về tội lội mình đã phạm, sự thất bại về lầm lỡ mình phải mang, sự yếu đuối không thể vượt qua được mà mình phải chấp nhận. Ngay tại thời điểm này, người bước chân vào vương quốc của Đức Chúa Trời muốn ký thác đời sống của mình cho Đấng có thể làm cho mình điều mà chính mình không thể làm được. Khi đó, người ấy sẽ nhận được sự an ủi và vỗ về của chính Chúa là Vua của thiên đàng. Chúa Jesus xưng Ngài là Đấng An Ủi và gọi Chúa Thánh Linh là Đấng An Ủi khác (Giăng 14:16-17). Như thế, sự an ủi mà Chúa Jesus ban cho những kẻ thuộc về vương quốc của Ngài không phải là một sự vỗ về của Đấng An Ủi nhưng chính sự hiện của Ngài là thân vị an ủi thật sự cho đời sống chúng ta.
Điều đáng cho chúng ta chú ý là động từ “than khóc” được dùng trong thì hiện tại. Còn động từ “an ủi” được dùng trong thì tương lai chắc chắn và thể thụ động.  Như thế, điều Chúa Jesus muốn nói ở đây là: những con người thuộc về vương quốc của Ngài trong hiện tại không được miễn trừ những nỗi đau khổ khi sống trong một thế giới đau khổ do hậu quả của tội lỗi gây ra như: bệnh tật, sự thất bại của chính mình, và ngay cả sự ra đi của những người thân yêu. Nhưng tất cả những điều đó chỉ là tạm thời.  Người đó sẽ có một cái nhìn vào cuối con đường xuyên qua những nỗi đau khổ gây than khóc đó, nhìn thẳng vào cõi đời đời. Có một quang cảnh tuyệt vời của sự an ủi hiện ra trước mắt được Giăng mô tả như sau: “Nầy, đền tạm của Ðức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Ðức Chúa Trời sẽ ở với chúng. Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhứt đã qua rồi” (Khải huyền 21:3-4). Nhưng đang khi trông chờ đến ngày đó, Đức Chúa Trời dùng những thử thách, đau khổ, mất mác trong cuộc đời tạm đầy nước mắt này để thánh hóa và chuẩn bị chúng ta cho cõi đời đời của Ngài mà chỉ có những ai thuộc về vương quốc của Ngài mới thấu hiểu được tại sao những điều đó xảy đến với mình.  Chỉ có những con người thuộc vương quốc của Đức Chúa Trời mới hiểu được nguyên tắc này: khóc lóc trong hiện tại để mỉm cười trong tương lai đời đời. Còn những con người không thuộc về vương quốc của Ngài sẽ phải khóc trong hiện tại lẫn trong cả cõi đời đời (Ma-thi-ơ 24:51).

Thursday, October 15, 2015

KHỞI ĐẦU HÀNH TRÌNH THUỘC LINH

Ma-thi-ơ (Matthew) 5:1-3
Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng:
Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
Suy gẫm:
Ma-thi-ơ giới thiệu Chúa Jesus là Vua ra từ dòng dõi của vua Đa-vít. Ngài là Vua dân Giu-đa, Đấng Mê-sia của người Do-thái. Sau phần miêu tả chức vụ toàn diện (wholistic ministry) của Chúa Jesus, trong đó Ngài cung ứng sự chữa lành đầy trọn cho con người trong ba phương diện: tâm thần, linh hồn, và thân thể (4:23-25), Ma-thi-ơ trình bày Bài giảng Trên Núi (the Sermon on the Mount) của Ngài (Ma-thi-ơ đoạn 5 đến 7). Tác giả sách Phúc Âm Lu-ca ghi lại bài giảng này của Chúa Jesus ngay sau biến cố quan trọng Ngài chọn 12 sứ đồ để bắt đầu chức vụ trên đất, mở mang Nước Trời (Lu-ca 6:12-49). Như thế, theo nghĩa rộng, Bài Giảng Trên Núi được xem là “Hiến Chương” (Constitutions) của Nước Trời cho tất cả tín nhân sống trong Nước Trời. Trong nghĩa hẹp, Bài giảng Trên núi cũng là “Kim Chỉ Nam” (Guidelines) cho đời sống và chức vụ của các sứ đồ ngày xưa và cho môn đồ của Chúa Jesus trải qua các thời đại.

Câu 1 của đoạn 5 tác giả Phúc Âm Ma-thi-ơ bắt đầu: “Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. Ngài bèn mở miệngtruyền dạy rằng…” Sau khi dành thì giờ cho đám dân đông, Chúa Jesus cùng các môn đồ núi để chuẩn bị họ cho sứ vụ trước mắt. Việc Chúa Jesus lên núi ở riêng với các môn đồ khiến chúng ta nhớ lại biến cố Môi-se được Chúa gọi lên núi Si-nai để nhận hai bảng luật pháp (10 điều răn) Ngài ban cho dân sự Y-sơ-ra-ên sau khi ra khỏi Ai-cập. Chỉ có một sự khác biệt giữa Chúa Jesus và Môi-se là Ngài là Đấng ban luật pháp còn Môi-se là người nhận luật pháp. Chúa Jesus ngồi trong khi dạy dỗ môn đồ mình. Các Thầy Ra-bi Do thái lúc thuyết giảng thì đứng nhưng Chúa Jesus khi dạy dỗ thì ngồi như một vị giáo sư. Chúa Jesus được trình bày trong sách Ma-thi-ơ là giáo sư như Môi-se trong Cựu Ước.  Ngoài ra, Chúa Jesus ngồi trong tư cách là một vị vua ban hành luật pháp cho dân sự trong Nước Trời. Ma-thi-ơ dùng hai động từ “mở miệng” (opening His mouth) và “truyền dạy” (teaching) để miêu tả việc Chúa Jesus ban hành giới mạng. Với động từ “mở miệng” tác giả sách Phúc Âm muốn nhấn mạnh điều Chúa Jesus chuẩn bị nói ra đây chứa đựng tính chất quan trọng (solemn) và mạc khải (revelatory) như là lời sấm truyền (oracles) đến từ Đức Chúa Trời. Hơn thế nữa, những điều Chúa Jesus truyền dạy là sự đổ ra của tấm lòng của Ngài, mong ước các môn đồ đón nhận như một món quà thiêng liêng mà họ phải biết trân trọng. Còn động từ “truyền dạy” ngụ ý sự dạy dỗ không với mục đích truyền đạt mớ kiến thức nhưng nhằm khuấy động lòng thính giả và đòi hỏi họ phải đáp ứng với điều mình nghe. Cả hai động từ này được dùng trong thể quá khứ diễn tiến (imperfect) cho thấy việc làm của Chúa Jesus như một thói quen. Như thế, đối với Chúa Jesus, con đường giáo dục là huyết mạch của cuộc cách mạng đời sống tâm linh con người và khiến họ trở nên thích hợp với tánh chất cao trọng của cõi thiên thượng của vương quốc Đức Chúa Trời.
Giới mạng của Nước Trời bắt đầu bằng tám phước lành. Mỗi phước lành bắt đầu bằng từ “Phước” (Blessed). Từ ngữ này đóng vai trò như một lời mời gọi vào trong ân sủng Đức Chúa Trời dành cho những ai thuộc về vương quốc của Ngài. Trong mỗi lời mời gọi kèm theo một điều kiện rõ ràng. Trong nguyên văn Hi-lạp, từ “phước” (makarios) thường được dùng cho các thần, nói đến niềm hạnh phúc hay niềm vui tự tại, sâu kín trong tâm hồn con người trào dâng ra ngoài mà không bị bất cứ một quyền lực hay ảnh hưởng nào bên ngoài có thể dập tắt được. Niềm hạnh phúc hay niềm vui này hoàn toàn độc lập với mọi tình huống dẫu là hanh thông hay bất hạnh đang xảy ra bên ngoài, đang mang đến sự thay đổi tư duy và lối sống của con người. Đây không phải là sản phẩm của lối suy nghĩ hay là sự nhào nặn của con người bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời khi con người bằng lòng chấp nhận và tôn trọng quyền chủ trị (lordship) của Ngài trong đời sống của mình. Điều kiện tiên quyết của người bước vào trong vương quốc của Đức Chúa Trời là phải biết đặt ý muốn và đời sống của mình dưới quyền cai trị của Ngài. Không thể có sự chọn lựa nào khác nếu người đó muốn nếm biết phước hạnh và niềm vui miên viễn của thiên đàng.
Bài giảng của Chúa Jesus bắt đầu bằng: “Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!” Người được phước là người có “lòng khó khăn” (poor in the spirit). Có hai cách hiểu quan niệm nghèo khó trong phước lành thứ nhất này: /1/ Trong nguyên văn Hi-lạp, từ “nghèo” (ptōchos) ở đây được hiều là nghèo xơ xát, không có gì để sở hữu trong cuộc đời này; /2// Trong nguyên văn Hi-bá-lai, từ “nghèo” (‘ani hay ebiōn) được dùng để mô tả một người khiêm nhường và bất lực, đặt hoàn toàn niềm tin của mình nơi Chúa. Như tác giả của Thi-thiên 34:6 nói: “Kẻ khốn cùng nầy có kêu cầu, Ðức Giê-hô-va bèn nhậm lời người, giải cứu người khỏi các điều gian truân.” Kết hợp cả hai phương diện, chúng ta có thể nói người được phước là người nhận biết được tình trạng trống rỗng, thiếu thốn, và tuyệt vọng của chính mình, bằng lòng chạy đến núp mình trong Chúa để tìm kiếm sự che chở, bênh vực, và tiếp trợ. Người đó sẽ kinh nghiệm sự giải thoát của Chúa khỏi thế giới đầy quyến rũ chung quanh mình và bước vào mối thông công gắn bó với chính Ngài. Người có lòng khó nghèo không hẳn phải là người bị tước đoạt hết tất cả những gì mình có trên phương diện vật chất. Có thể người đó vẫn có đầy đủ mọi sự chung quanh mình nhưng không nương tựa và xem những điều mình có là niềm hạnh phúc, hy vọng, và sức mạnh của mình. Người đó nhận biết rằng những gì mình có là vô nghĩa và tạm thời, chỉ một mình Chúa là mọi sự trong mọi sự. Thay vì được thế gian tạm bợ là quê hương và chốn nương thân của mình thì Đức Chúa Trời ban cho họ nước thiên đàng vững bền đời đời. Đó là phần thưởng của Chúa dành sẵn cho họ trong đời này và đời hầu đến (Hê-bơ-rơ 11:13-16). Thế giới của Đức Chúa Trời và vương quốc của Ngài chẳng bao giờ bị lay chuyển hay bị rúng động thể nào, thì người có lòng nghèo khó sẽ chẳng bao giờ bị nao núng hay bối rối vì sự hưng thịnh hay suy sụp của thế giới vật chất và vẻ phồn hoa náo nhiệt của trần gian này thể ấy. Họ được Chúa giấu kín trong bóng cánh toàn năng của Ngài trong những ngày đen tối nhất của cuộc đời (Thi-thiên 91:1-16).
Không có gì bảo đảm rằng người thuộc về Nước Trời có lúc sẽ không bị đặt vào trong những tình huống nghiệt ngã, khó khăn, thiếu thốn, bịnh tật, đau buồn, mất mát của cuộc đời. Nhưng Đức Chúa Trời có thể sử dụng những điều đó để dồn đẩy người ấy vào trong tình trạng khó nghèo của linh hồn hầu họ có thể khám phá phước hạnh tiềm ẩn và niềm hạnh phúc chẳng gì có thể cướp đi được của vương quốc Đức Chúa Trời. Như sứ đồ Phi-e-rơ mô tả phước hạnh của sự cứu rỗi:
Ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống, là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho anh em, là kẻ bởi đức tin nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt! (I Phi-e-rơ 1:3-5)
Nhưng Phi-e-rơ cũng nói đến sự khó khăn và đau khổ nối kết hiện tại và tương lai:
Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra. Ngài là Đấng anh em không thấy mà yêu mến; dầu bây giờ anh em không thấy Ngài, nhưng tin Ngài, và vui mừng lắm một cách không xiết kể và vinh hiển: nhận được phần thưởng về đức tin anh em, là sự cứu rỗi linh hồn mình (I Phi-e-rơ 1:6-9)
Trong quan niệm của trần gian, không ai muốn bắt đầu cuộc đời của mình bằng những ngày khó khăn và gian khổ. Không ai muốn tìm kiếm cho mình một cuộc đời chan chứa bởi những khó khăn và đau khổ. Nhưng đó là sự khởi đầu mà Chúa muốn chúng ta sống làm môn đồ của Chúa Jesus trong trần gian này. Môn đồ của Chúa Jesus ngay từ ngày đầu của hành trình theo Chúa phải chuẩn bị cho chính mình một tinh thần để chịu khó khăn và đau khổ. Nhưng cây cầu bắt nối kết hiện tại với cõi đời đời được lót bằng sự khó khăn và đau khổ. Bạn và tôi có sẵn sàng để bước đi với Chúa trong hành trình từ đất về trời chưa?

Wednesday, October 7, 2015

CHIÊN NGOAN ĐẠO HAY MÔN ĐỒ CHÚA JESUS?

Phi-líp (Philippians) 3:4-11 
4 Ấy chẳng phải tôi không có thể cậy mình trong xác thịt đâu. Ví bằng kẻ khác tưởng rằng có thể cậy mình trong xác thịt, thì tôi lại có thể bội phần nữa,5 tôi chịu phép cắt bì ngày thứ tám, về dòng Y-sơ-ra-ên, chi phái Bên-gia-min, người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ; về luật pháp, thì thuộc phe Pha-ri-si;6 về lòng sốt sắng, thì là kẻ bắt bớ hội thánh; còn như về sự công bình của luật pháp, thì không chỗ trách được.7 Nhưng vì cớ Đấng Christ, tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy.8 Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ 9 và được ở trong Ngài, được sự công bình, không phải công bình của tôi bởi luật pháp mà đến, bèn là bởi tin đến Đấng Christ mà được, tức là công bình đến bởi Đức Chúa Trời và đã lập lên trên đức tin;10 cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài,11 mong cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết.

Suy gẫm:
Phao-lô có một bề dày năm tháng của ngườii theo đạo. Nếu nói theo ngôn từ tôn giáo, Phao-lô là một con chiên ngoan đạo; thậm chí, ông còn dư tiêu chuẩn để làm một môn đồ thượng hạng của Chúa Jesus. Phao-lô kể lại: “tôi chịu phép cắt bì ngày thứ tám, về dòng Y-sơ-ra-ên, chi phái Bên-gia-min, người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ; về luật pháp, thì thuộc phe Pha-ri-si; về lòng sốt sắng, thì là kẻ bắt bớ hội thánh; còn như về sự công bình của luật pháp, thì không chỗ trách được.Vì hãnh diện về niềm tin và nếp sống đạo của mình, Phao-lô đã hết mực bảo vệ tôn giáo mình đang theo, sẵn sàng ra tay tàn diệt bất cứ ai đi ngược lại với niềm tin của mình cách cuồng nhiệt. Kết quả là ông đã lao đầu vào một chuyến đi từ kinh đô Giê-ru-sa-lem đến thành Đa-mách, nắm trong tay một trát tòa hòng phen này ra tay tàn diệt những kẻ theo nhân vật Jesus ở Na-xa-rét, tức các Cơ đốc nhân chân chính đang sống tại thành Đa-mách (Công vụ 9:1-2). Nhưng ai có ngờ rằng chính trong ngày đó, Phao-lô đã chạm trán với một nhân vật mà ông từng ra sức chống trả quyết liệt cách mù quáng: Jesus ở Na-xa-rét – Chúa Phục Sanh (Công vụ 9:3-5). Trong cuộc đối đầu này, Phao-lô mới khám phá ra được mối liên hệ giữa nhân vật Jesus ở Na-xa-rét và Chúa Phục Sanh: “Ta là Jesus mà ngươi đương bắt bớ” (Công vụ 9:5b). Dẫu cho là một học giả Do-thái thượng hạng, Phao-lô chưa bao giờ có thể kết nối hai ý niệm hay nhân vật này lại với nhau thành một. Chỉ bởi sự mạc khải từ trời giúp tâm trí ông được mở ra và ánh sáng chân lý chiếu rọi vào bên trong con người bé nhỏ này. Sau này, Phao-lô thuật lại: “… Đức Chúa Trời, là Đấng đã để riêng tôi ra từ lúc còn trong lòng mẹ, và lấy ân điển gọi tôi, vui lòng bày tỏ Con của Ngài ra trong tôi…” (Ga-la-ti 1:15-16a). Đó là hành động của ân sủng. Chúa Jesus đã từ kẻ chết sống lại để rồi bởi đó Phao-lô được giải cứu ra khỏi ngục tù tăm tối và ngu muội của một con chiên ngoan đạo, biến ông trở thành một Cơ đốc nhân chân chính, sẵn sàng chết cho “Đấng đã chết và sống lại cho mình” (2 Cô-rinh-tô 5:14). Nếu không có cuộc gặp gỡ chẳng hẹn trước trong ngày hôm đó, chắc chắn rằng Phao-lô mãi mãi chỉ là một con chiên ngoan đạo không hơn không kém, xa cách cửa thiên đàng vạn dặm và chẳng bao giờ hy vọng bước vào đó!
Ngày nay người ta nói nhiều về tôn giáo hay tín ngưỡng hơn là nói đến niềm tin chân chính nơi Chúa Cứu Thế Jesus. Sống trong một xã hội mà niềm tin Cơ đốc đã trở thành văn hóa thì con người rất khó phân biệt giữa Cơ đốc giáo và Chúa Cứu Thế Jesus. Lắm khi tưởng chừng rằng mình đã là Cơ đốc nhân bởi những hành động và sinh hoạt tôn giáo của một con chiên ngoan đạo. Nhưng đó không phải là sự bảo đảm của sự cứu rỗi và bằng chứng của sự thay hướng đổi chiều của đời sống tâm linh. Chẳng ai từng gặp gỡ và chạm trán với Chúa Phục Sanh mà còn có thể sống cuộc đời của một con chiên ngoan đạo hay ngay cả làm một tín hữu có đời sống đạo hạnh tốt. Cơ đốc nhân không phải là người có nếp sống đạo đức tốt mà là người gặp được Chúa Phục Sanh. Kẻ thù của đời sống Cơ đốc nhân không chỉ là ma quỷ như chúng ta thường nói, mà còn là sự mù lòa tâm linh, sống đời con chiên ngoan đạo mà tưởng mình đã gặp Chúa Phục Sanh. Chẳng thà làm kẻ ngoại đạo và chống trả Chúa Phục Sanh còn dễ dàng cho chúng ta tin Ngài hơn là con chiên ngoan đạo mà chẳng bao giờ gặp gỡ Chúa Phục Sanh. Con chiên ngoan đạo lấy điều mình làm theo tiêu chuẩn của Lời Chúa và niềm tin tôn giáo làm điều tự hào cho chính mình. Cơ đốc nhân chân chính sẽ nhìn lại những gì mình thành đạt trong nếp sống đạo và nói như Phao-lô: “Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác [đồ dơ nhớp đáng kinh tởm].” Con chiên ngoan đạo đang làm công việc Chúa nhưng Cơ đốc nhân chân chính đang hầu việc chính Ngài. Con chiên ngoan đạo tìm sự thăng tiến trong đời sống tôn giáo nhưng Cơ đốc nhân chân chính sẽ khao khát như Phao-lô: “cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài, mong cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết.” Đó là khát vọng của sự thay đổi tận gốc rễ của bản chất tội lỗi mà chỉ có thể tìm thấy trong sự chết và sống lại của Chúa Cứu Thế Jesus (Rô-ma 6:2-10). Con chiên ngoan đạo tìm cách bước đến gần cổng thiên đàng và sống với niềm hy vọng mong manh may ra mình sẽ được Chúa thương và cứu vớt. Nhưng Cơ đốc nhân chân chính buông chính cuộc đời mình vào trong vòng tay yêu thương cứu chuộc của Ngài và chính Ngài đặt người vào trong thiên đàng vinh hiển. Thế thì, sự khác biệt giữa con chiên ngoan đạo và Cơ đốc nhân là gì? Chính là sự gặp gỡ thật sự và đấy ý nghĩa giữa ta và Chúa Phục Sanh.
Bạn và tôi đang sống bằng niềm tin tôn giáo hay bằng sự sống phục sanh của Chúa Jesus? Bạn và tôi đang cố gắng làm con chiên ngoan đạo trong nhà Chúa hay sống thật sự là môn đồ thật của Chúa Jesus? Bạn và tôi đang nổ lực làm công việc Chúa hay thật sự hầu việc chính Ngài?

Thursday, October 1, 2015

CHÚA JESUS LÀ SỰ SÁNG CỦA THẾ GIAN

Giăng (John) 8:3-12
Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ri-si dẫn lại cho Ngài một người đàn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người giữa đám đông, mà nói cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm. Vả, trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; còn thầy, thì nghĩ sao? Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi nữa, thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người. Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất. Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước; Đức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đàn bà, người vẫn đang đứng chính giữa đó. Đức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đàn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao? Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội người; hãy đi, đừng phạm tội nữa.] Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.

Suy gẫm:
Lời tuyên bố của Chúa Jesus về chính mính “Ta là Sự Sáng của thế gian, kẻ nào tin ta chẳng đi trong nơi tối tăm nhưng có ánh sáng của sự sống” thường hay được trích như một câu tuyên bố chung chung của Chúa Jesus. Kỳ thật nó được thốt lên trong một bối cảnh rất cụ thể. Nó là câu Chúa Jesus kết luận cho câu chuyện những thầy thông giáo và Pha-ri-si mang một người đàn bà phạm tội tà dâm để giữa mọi người hầu tìm cách kết án Chúa Jesus. Mục đích chính của họ là xem thử Chúa Jesus sẽ phản ứng ra sao giữa việc tuân theo luật pháp của Môi-se và tình yêu của Đức Chúa Trời. Nếu Chúa Jesus đồng thuận tuyên án tử hình người đàn bà phạm tội tà dâm theo luật pháp của Môi-se thì họ sẽ cho rằng Chúa Jesus không có tình yêu thương. Ngược lại, nếu Chúa tha thứ cho người đàn bà này thì họ sẽ kết án Chúa Jesus không vâng giữ luật pháp của Môi-se. Theo họ nghĩ, đàng nào Chúa Jesus cũng “kẹt” không cách nào để chạy thoát khỏi âm mưu thâm độc của họ. Nhưng chúng ta thấy Chúa Jesus vô cùng khôn ngoan và đầy tình yêu. Thay vì họ khiến cho Chúa Jesus là trọng tâm của mọi vấn đề; Chúa Jesus biến họ trở nhân vật chính của cuộc đấu tố rất tàn nhẫn của họ. Chúa Jesus dùng cơ hội này để phơi bày tận gốc rễ bản chất thâm độc và gian ác của họ là giới lãnh đạo tôn giáo chỉ có hình thức bên ngoài mà bên trong là “xương cốt hôi thúi và mục rữa.”
Trước hết, chúng ta nói đến người đàn bà phạm tội tà dâm. Chắc hẳn đây không phải là lần thứ nhất bà đã phạm tội trọng này. Nhưng có thể “đi đêm có ngày gặp ma” là như thế. Đây là một cuộc đời sống trong sự tối tăm, theo đuổi những mối tình vụng trộm chỉ để thoả mãn nhục dục trong đời sống hay có thể vì miếng cơm manh áo chăng? Chúng ta chẳng hiểu lý do tại sao đã đưa đẩy cuộc đời của người đàn bà này vào trong bóng đêm của cuộc đời thật kinh tởm và bi thương. Tội lỗi đã lấy mất đi sự trinh khiết, tốt đẹp, và quý báu của món quà tính dục Đức Chúa Trời đã ban cho con người nói chung, và cho bà nói riêng. Khi đắm mình trong nhục dục thì linh hồn của bà bị tàn diệt; tấm lòng của bà trở nên cứng cõi; và thể xác của bà trở thành một món đồ chơi cho nhục dục và xác thịt. Cuộc sống của bà bổng dững trở thành bóng đêm, sống lén lút, vụng trộm, và sợ hãi trước sự dòm ngó của người khác. Bà không thể sống chân thật với chính mình nhưng phải sống hai mặt. Chúng ta chẳng biết bà có gia đình chưa hay là gái mãi dâm? Dẫu cho thế nào đi chăng nữa thì tội lỗi và lòng dâm dục đã biến cuộc sống của bà thành địa ngục không hơn không kém. Cuộc đời này khi đối diện với Chúa Jesus thì được tha thứ và giải cứu. Chúa Jesus không nói bà vô tội. Nhưng Ngài nói “hãy đi đừng phạm tội nữa.” Khi đối diện với Chúa Jesus thì ánh sáng của sự tha thứ và công nghĩa chiếu rọi vào trong cuộc đời và giải thoát cuộc đời của bà ra khỏi ngục tù của sự tăm tối. Để từ nay, bà không còn bước đi trong sự tối tăm nữa nhưng có ánh sáng của sự sống. Đây là một cuộc đời tăm tối cần Chúa Jesus là sự sáng của thế gian!
Ngoài cuộc đời tăm tối của người đàn bà phạm tội tà dâm bị bắt quả tang rất dễ cho chúng ta nhận ra, trong câu chuyện này còn chỉ ra cho chúng ta thấy một nhóm người khác đang sống trong tăm tối mà chính họ không nhận ra. Đó là những thầy thông giáo và Pha-ri-si. Bề ngoài xem dường như họ là những con người của sự sáng nhưng trong tâm địa họ rất tăm tối:
a)     Lòng độc ác của họ thể hiện qua việc họ phơi trần tội lỗi của người khác nhằm mục đích gài bẫy Chúa Jesus. Đây là hành động quá ư gian ác và khốn nạn. Lòng gian ác và giả trá của họ được gói bằng lớp giấy hoa tôn giáo thánh thiện. Nghe tưởng chừng là họ làm theo luật pháp và sống theo luật pháp của Chúa nhưng kỳ thật họ dùng nó nhưng một phương tiện để làm việc đại ác, thoả mãn lòng hận thù cá nhân. Họ “bắn một viên đạn nhưng giết hai con chim” là Chúa Jesus và người đàn bà tà dâm. Họ sử dụng người đàn bà tà dâm như một loại vũ khí tôn giáo để đánh trận với Chúa Jesus.
b)     Lòng kiêu ngạo về đạo đức. Họ tưởng rằng mình là những con người đạo đức hơn người đàn bà phạm tội nhưng kỳ thật lòng họ chất chứa bao nhiêu thứ kiêu căng, tự phụ, và xoi mói tội lỗi của người khác. Họ thấy tội của người đàn bà mà không thấy sự giả hình và kiêu căng của mình qua việc lên án tội lỗi người khác. Chúa Jesus muốn dùng câu chuyện đầy kịch tính của người đàn bà tà dâm để lên án hành động và bản chất độc ác của họ. Chính Chúa Jesus để cho họ tự lên án chính mình.
Tất cả ai đến với Chúa Jesus sẽ tìm thấy một trong hai điều này: (a) nhận được ân sủng và sự tha thứ của Ngài bao phủ; hay (b) bị lên án cách nghiệt ngã về bản chất gian ác và giả trá của mình. Chính Chúa Jesus là sự sáng của thế gian. Không một cuộc đời nào có thể thoát khỏi ánh mắt phán xét hay yêu thương của Ngài tùy thuộc vào thái độ và sự nhân chân ra mình là ai? Nguyện Chúa là sự sáng chiếu rọi vào trong cuộc đời của chúng ta là môn đồ thật của Chúa Jesus mỗi ngày qua Lời Chúa và sự hiện diện của Chúa Thánh Linh đang cư trú trong đời sống chúng ta. Xin Chúa mang chúng ta đến chỗ nhận mình cần được tha thứ tội lỗi, quyền năng biến đổi và tái tạo của Ngài để giải thoát chúng ta ra khỏi bản chất gian ác, xấu xa, và kiêu ngạo thăm căn cố đế thừa hưởng từ nơi tổ phụ mình. Như điều sứ đồ Phi-e-rơ khuyên:
Hãy nên thánh, vì ta là thánh. Nếu anh em xưng Đấng không tây vị ai, xét đoán từng người theo việc họ làm, bằng Cha, thì hãy lấy lòng kính sợ mà ăn ở trong thời kỳ ở trọ đời nầy, vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít, đã định sẵn trước buổi sáng thế, và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em, là kẻ nhân Đức Chúa Jêsus tin đến Đức Chúa Trời, tức là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, và ban sự vinh hiển cho Ngài đến nỗi đức tin và sự trông cậy anh em được nương nhờ Đức Chúa Trời (I Phi-e-rơ 1:16-21)