Wednesday, September 23, 2015

BẠN MUỐN GIỐNG AI?

Mác (Mark) 6:17-25
Số là, Hê-rốt đã sai người bắt Giăng, và truyền xiềng lại cầm trong ngục, bởi cớ Hê-đô-đia, vợ Phi-líp em vua, vì vua đã cưới nàng, và Giăng có can vua rằng: Vua không nên lấy vợ em mình. Nhơn đó, Hê-rô-đia căm Giăng, muốn giết đi. Nhưng không thể giết, vì Hê-rốt sợ Giăng, biết là một người công bình và thánh. Vua vẫn gìn giữ người, khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà vua bằng lòng nghe. Nhưng, vừa gặp dịp tiện, là ngày sanh nhựt Hê-rốt, vua đãi tiệc các quan lớn trong triều, các quan võ, cùng các ngươi tôn trưởng trong xứ Ga-li-lê. Chính con gái Hê-rô-đia vào, nhảy múa, đẹp lòng Hê-rốt và các ngươi dự tiệc nữa. Vua nói cùng người con gái ấy rằng: Hãy xin ta điều chi ngươi muốn, ta sẽ cho. Vua lại thề cùng nàng rằng: Bất kỳ ngươi xin điều chi, ta cũng sẽ cho, dầu xin phân nửa nước ta cũng vậy. Nàng ra khỏi đó, nói với mẹ rằng: Tôi nên xin điều chi? Mẹ rằng: Cái đầu của Giăng Báp-tít. Tức thì nàng vội trở vào nơi vua mà xin rằng: Tôi muốn vua lập tức cho tôi cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm. Vua lấy làm buồn rầu lắm; nhưng vì cớ lời thề mình và khách dự yến, thì không muốn từ chối nàng. Vua liền sai một người lính thị vệ truyền đem đầu Giăng đến.

Suy gẫm:
Trong câu chuyện này đề cập đến hai nhân vật chính là vua Hê-rốt và Giăng Báp Tít. Hai con người hoàn toàn khác nhau nếu không nói là đối kháng. Vua Hê-rốt, con người có đầy quyền lực trong tay, đang làm bá chủ cả thế giới, muốn làm gì theo ý mình cũng được, và không ai có thể ngăn cản ông. Tuy nhiên, có hai điều Hê-rốt phải sợ và bị khuất phục: chính con người của ông và Giăng Báp Tít. Mặc dầu là vua nhưng Hê-rốt đang chịu khuất phục bởi chính lòng tham dục của mình. Ông muốn lấy vợ của Phi-líp là em mình. Chính lương tâm của ông biết rõ ràng rằng việc làm này là hoàn toàn sai trái với đạo đức con người. Nhưng vì không thể chống trả nổi lòng dục của mình nên đã đánh liều tìm cách bắt giam và giết Giăng Báp Tít. Đúng ra vua Hê-rốt là người đang sống ngục tù của chính mình chứ không phải là Giăng Báp Tít. Trông có vẻ vua Hê-rốt đắc thắng vì đã dùng quyền lực mình đàn áp và bách hại Giăng Báp Tít, nhưng kỳ thật ông đang tìm cách để trấn áp tiếng nói lương tâm của chính mình và đang dầu hàng chính con người của mình. Kết quả là cuộc đời của vua Hê-rốt kết thúc rất thê thảm. Có người nói rằng chẳng thà làm con heo trong nhà của vua Hê-rốt còn an toàn hơn làm con người sống trong gia đình của ông. Trước khi chết, vua Hê-rốt đã giết hết tất cả những người sống trong gia đình của ông. Sau khi chết, dầu ông là một người vị vua, nhưng Hê-rốt chẳng để lại ảnh hưởng gì trong lòng dân nhưng là nỗi sỉ nhục cho chính mình và dân tộc. “Thú chết để da. Người ta chết để tiếng.” Thật đúng như vậy.

Giăng Báp Tít so với vua Hê-rốt chỉ là một con người “tứ cố vô thân.” Ông không có quyền lực hay chức tước gì của trần gian ban cho, không có binh lính bảo vệ mình ngoài một mình Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, con người này có lương tâm ngay thẳng với Chúa và đời sống công chính của ông đã có ảnh hưởng lớn trên dân chúng đến nỗi khiến cho vua Hê-rốt phải sợ. Thật là điều mỉa mai khi một con người hùng hổ và ngang ngược như vua Hê-rốt lại phải đi sợ một con người chẳng có “một tất sắt trong tay” như Giăng Báp Tít! Vua Hê-rốt sợ Giăng Báp Tít chỉ là ảnh hưởng của Giăng quá lớn trên người khác. Cũng có thể vì lòng ganh tị không muốn ảnh hưởng mình bị lu mờ so với đời sống thánh thiện của Giăng Báp Tít, vua Hê-rốt tìm cách tàn hại và hủy diệt Giăng. Những âm mưu của vua Hê-rốt đối với Giăng Báp Tít đã được thành tựu và cuối cùng Giăng bị chém đầu. Giăng là người thánh của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ chịu khuất phục dưới quyền lực của một con người tầm thường và đáng gớm ghiếc như vua Hê-rốt. Sự thánh khiết và ngay thẳng của ông đã trả bằng một giá là chính chính mạng sống của ông. Nhưng điều đó chứng tỏ rằng Giăng mới là con người đáng sống! Câu hỏi chúng ta thường đặt ra: Tại sao Đức Chúa Trời lại cho phép những chuyện thế này xảy ra? Đức Chúa Trời ở đâu mà không ngăn cản kẻ ác làm điều ác đối với người công bình? Nhưng chúng ta nhớ, ngay trong những giờ phút ban đầu của chức vụ Chúa Jesus, Giăng đã từng tuyên bố: “Tôi phải hạ xuống, Chúa phải dấy lên” (Giăng 3:30). Giờ đây, đã đến lúc chức vụ của Giăng Báp Tít phải chấm dứt và nhường sự tập chú chỉ vào một mình Chúa Jesus mà thôi. Giăng là người dọn đường cho Chúa Jesus một cách đúng nghĩa. Mặc dầu ông ra đi nhưng “người chết vẫn còn nói” (Hê-bơ-rơ 11:4).

Chúng ta đang sống trong một thời kỳ đòi hỏi chúng ta là môn đồ của Chúa Jesus phải chọn cho mình một chỗ đứng trong niềm tin dứt khoát, rõ ràng. Đôi khi chính quan điểm và thái độ sống của chúng ta đòi hỏi trả một giá rất đắt, ngay cả chính mạnh sống của mình như Giăng Báp-Tít. Davis Kim đã bằng lòng trả giá cho niềm tin của Bà nơi Chúa mặc dầu Bà không phải là con người hoàn hảo. Ít ra Bà là người có niềm tin và bằng lòng trả giá cho niềm tin của chính mình. Bà từng tuyên bố rằng: "Chúa là Ông Chủ của tôi" (God is my Boss). Giống như Giăng Báp-Tít, Bà Davis Kim xem Chúa là trên hết tất cả mọi người trong trần gian này và sẵn sàng đầu phục thẩm quyền của Ngài. Bạn và tôi muốn giống ai? Giăng Báp Tít hay vua Hê-rốt?

Lạy Chúa, cảm ơn Ngài về đời sống của Giăng Báp Tít đã để lại trong con một nguồn cảm hứng và sức mạnh để sống cho Ngài. Xin cho con đừng bao giờ sống chìu theo tư dục thấp hèn như Hê-rốt nhưng sống cao trọng như Giăng Báp Tít, để xứng đáng là đầy tớ và con cái yêu dấu của Ngài giữa thế gian này. Amen!

Thursday, September 17, 2015

CÂY VÀ NGƯỜI

Ma-thi-ơ (Matthew) 7:15-23
Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu thì sanh trái xấu. Cây tốt chẳng sanh được trái xấu, mà cây xấu cũng chẳng sanh được trái tốt. Hễ cây nào chẳng sanh trái tốt, thì phải đốn mà chụm đi. Ấy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được. Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!

Suy gẫm:
Con người thường nhận định một người qua cung cách bên ngoài và lời nói. Nhưng Đức Chúa Trời nhìn và đánh giá về con người cách khác. Con người nhìn bề ngoài nhưng Đức Chúa Trời thấy trong lòng. Trong phân đoạn Kinh Thánh này, Chúa Jesus nêu ra một số nguyên tắc rất quan trọng liên quan đến đời sống thuộc linh chân thật của Cơ đốc nhân.

1/ Con người được ví sánh giống như một cái cây. Trong mỗi người có một nguyên lý sự sống hoạt động ẩn tàng từ đó sanh sản ra bông trái. Cây được vun trồng và chăm sóc thể nào, mỗi người được vun trồng và nuôi dưỡng trong môi trường gia đình, xã hội và hoàn cảnh sống khác nhau thì sẽ sanh ra bông trái thể ấy. Bông trái của con người chính là hành động biểu lộ của bản chất bên trong đã được vun xới qua bao năm tháng của cuộc đời. Những yếu tố hình thành nên cá tánh và nhân cách con người bao gồm: di truyền, giáo dục gia đình, giáo dục học đường, và bối cảnh sống trong xã hội… Chúa Jesus nói: “Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu thì sanh trái xấu. Cây tốt chẳng sanh được trái xấu, mà cây xấu cũng chẳng sanh được trái tốt.” Tuỳ theo loại cây, muốn có trái thì chúng ta phải chờ đợi một thời gian đủ cho loại cây đó đơm bông kết quả. Tuỳ theo nguyên lý sự sống trong mỗi cây mà thời gian đơm bông kết quả sẽ khác nhau. Đời sống con người cũng giống như vậy. Có người chỉ cần một thời gian ngắn là biết được bản chất qua bông trái của họ. Có người thì khi trở về già mới ra trái đã được vun trồng từ lúc còn nhỏ. Bông trái của con người được bày tỏ qua ngôn từ người đó sử dụng, hành động người đó thực hiện. Có người giỏi che đậy bản chất gian ác và dối giả của mình bằng những lời lẽ nhẹ nhàng, êm dịu. Nhưng khi hữu sự thì sẽ tuôn ra những ngôn từ và văn tự mà chúng phơi bày tận gốc rễ bản chất xấu xa, độc ác, được tái sanh hay chưa của người đó. Nói chung, thời gian là cần thiết cho mọi bản chất được phơi bày.

2/ Chúa có thời gian định cho mỗi người khi Ngài nói: “Hễ cây nào chẳng sanh trái tốt, thì phải đốn mà chụm đi. Ấy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được.”  Khi bản chất bị phơi bày ra thì Chúa sẽ hành động công việc của Ngài: tiếp tục duy trì hay đốn ngã. Đó là công việc của Chúa chứ không phải của con người. Chỉ một mình Chúa có khả năng nhìn xuyên qua lớp vỏ hành động bên ngoài của con người thấu vào bên trong bản chất con người (I Sa-mu-ên 16:7). Con người chỉ nhìn thấy hành động bên ngoài và dễ bị đánh lừa và đánh giá cách nông nổi, cạn cợt hay nhầm lẫn. Vì thế, sự tồn tại của đời sống con người hoàn toàn nằm trong tay Đức Chúa Trời.

3/ Chúa Jesus nói tiếp: “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?” Chúa đánh giá con người trên bản chất không phải trên công việc làm. Có một điều vô cùng ngạc nhiên cho những ai chỉ theo đuổi sự phụng sự Chúa mà bỏ quên chính con người của mình. Quan điểm của Đức Chúa Trời trong vấn đề này rất rõ ràng. Con người chú trọng đến công việc và ân tứ nhưng Đức Chúa Trời chú trọng đến mối quan hệ giữa người phục vụ với chính Ngài. Điều quan trọng không phải là chúng ta làm được bao nhiêu việc cho Chúa mà là chúng ta có vâng lời Chúa hay không? Chức vụ và công việc hầu việc Chúa của chúng ta chỉ có giá trị đối với Đức Chúa Trời khi nào chúng xuất phát từ tấm lòng vâng phục và làm theo ý muốn của Ngài. Chúng ta đã chứng kiến có người từng làm công việc của Ngài mà không xuất phát từ sự vâng phục Lời của Ngài thì họ cũng có thể làm được rất nhiều việc cho Chúa nhưng rồi chính họ cũng gây ra đỗ vỡ không ít. Sự hầu việc Chúa của chúng ta không thể nào lớn hơn con người của chúng ta. Từ nơi con người chúng ta sẽ ra sự phục vụ Chúa của chúng ta. Chúa chỉ quan tâm đến con người phục vụ chứ không quan tâm đến công việc làm của chúng ta. Chúa Jesus phán: “Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!” Từ “gian ác” ở đây có nghĩa là “vô luật pháp” (lawlessness). Người làm công việc Chúa mà không theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì Ngài chẳng bao giờ biết họ là ai, vì họ không có mối quan hệ với chính Ngài.

Lời cầu nguyện của chúng ta qua bài học này là: “Lạy Chúa, xin giúp con chú trọng đến mối quan hệ giữa con với chính Ngài thay vì công việc và chức vụ của con. Xin cho lời nói của con và sự suy gẫm của lòng con được đẹp ý Ngài. Xin ban cho con tấm lòng tìm biết ý muốn của Chúa và khao khát làm theo ý muốn của Ngài trong đời sống của con mỗi ngày hầu con có thể kết quả xứng đáng cho Ngài. Amen!”

Thursday, September 10, 2015

NHỮNG ĐIỀU ĐÁNG LƯU Ý

Ma-thi-ơ (Matthew) 24:6-14
Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu. Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất. Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại. Bấy giờ, người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi; các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh ta. Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau, và ghen ghét nhau. Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ. Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần. Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu. Tin Lành nầy về nước Ðức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.

Suy gẫm:
Tình hình thế giới hiện nay có những điều xảy ra khiến cho chúng ta là những Cơ đốc nhân phải lưu ý. Nhiều thiên tai xảy ra khắp nơi: động đất ở cấp độ cao tại Haiti, Chile, Taiwan, Turkey, Nepal dẫn đến sự thiệt hại về nhân mạng và tài sản lên đến hàng tỉ Mỹ kim; ngập lụt lan tràn tại Pháp... Tình trạng căng thẳng giữa các nước trên thế giới ngày càng gia tăng đến mức báo động, đặc biệt sự đối đầu giữa Tây phương và các nước Hồi giáo cực đoan. Nồi nước sôi tại vùng Trung Đông giữa Do thái và khối Ả rập vẫn sôi sục và nguy cơ chiến tranh đang đe dọa khu vực này vì Iran quyết tâm theo đuổi vũ khí hạt nhân.
Về phương diện đạo đức, lòng hận thù và ghen ghét đã đẩy con người đến những hành động điên rồ, làm hại nhau là điều rất hiển nhiên. Khi để cho lòng ghen ghét và căm thù lên ngôi thì con người sẵn sàng săn đuổi nhau và giết hại lẫn nhau bằng nhiều cách. Điều này xảy ra bên trong lẫn bên ngoài tôn giáo. Tình trạng tội ác ngày càng gia tăng trong xã hội, nạn bắn súng giết người xảy ra nhan nhãn khắp nơi, ngay cả trong hí viện, nhà thờ... Tình trạng thuộc linh trong hội thánh ngày càng xuống cấp đáng quan ngại, “bề ngoài giữ điều nhơn đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhơn đức đó” (2 Ti-mô-thê 3:5). Nồng độ tin kính Chúa trong đời sống Cơ đốc nhân ngày càng xuống thấp, lòng yêu mến Chúa nguội dần để lộ chân tướng của bản chất hành đạo theo hình thức tôn giáo thay vì được điều khiển bởi lòng yêu mến Đức Chúa Trời. Tiên tri giả cũng là một trong những dấu hiệu báo động cho chúng ta biết rằng ngày cuối cùng gần kề. Từ xưa đã có những tiên tri giả. Ngày nay tiên tri giả lại càng không ít.
Tất cả những điều trên khiến cho chúng ta nhớ điều Chúa Jesus nói đến những dấu hiệu của ngày sau cùng trước khi Ngài từ trời trở lại trong Ma-thi-ơ 24:6-14. Thế giới đang đi đến thời kỳ chung cuộc của nó. Đức Chúa Trời vừa là Đấng tể trị trên dòng lịch sử của con người và Ngài cũng là sử gia đang viết những dòng cuối cùng của lịch sử này. Những trang sử cuối cùng đang được viết và Đức Chúa Trời chuẩn bị sang trang. Những gì xảy ra trong thế giới của con người ngày nay chẳng khác gì một dòng thác đang đổ ào xuống và như chuyến xe lửa tốc hành đang lao vào vực thẳm mà không sao có thể cầm giữ lại được. Con người không thể thay đổi lịch sử và vận mệnh của chính mình. Điều con người có thể làm là chuẩn bị chính mình như thế nào để đối diện với ngày chung kết thế giới này mà chính Đức Chúa Trời là Đấng phán xét.

Thế thì ai là người sẽ được cứu trong ngày sau cùng khi Chúa Jesus từ trời trở lại? Chỉ có những người “bền chí cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu” (c. 12). “Bền chí” ở đây có nghĩa là đứng vững trong niềm tin, không bị lay chuyển bởi những điều xảy ra chung quanh mình. “Bền chí” cũng hàm ý rằng không để bị lôi cuốn vào trong những sự cám dỗ mà phạm tội với Chúa, hành động giống như những người gian ác không biết Chúa. Và “bền chí” cũng có nghĩa là tỉnh táo, khôn ngoan nhận biết tiên tri giả, không nộp mình vào sự phản nghịch nhau và ghen ghét nhau. Người “bền chí cho đến cuối cùng” sống vượt lên trên tất cả những lượn sóng tội lỗi và xấu xa đời này, giữ đời sống mình thanh sạch, bày tỏ tình yêu chân thật, và rao truyền “Tin Lành về nước Đức Chúa Trời” để làm chứng cho mọi người. Đó chính là người mà Đức Chúa Trời muốn thấy trong hội thánh của Ngài ngày nay.

Thursday, September 3, 2015

HỌC BIẾT CHÚA TỪ TẠO VẬT CỦA NGÀI

Châm ngôn (Proverbs) 6:6-11
Hỡi kẻ biếng nhác, hãy đi đến loài kiến; khá xem xét cách ăn ở nó mà học khôn ngoan. Tuy nó không có hoặc quan tướng, hoặc quan cai đốc, hay là quan trấn, thì nó cũng biết sắm sửa lương phạn mình trong lúc mùa hè, và thâu trữ vật thực nó trong khi mùa gặt. Hỡi kẻ biếng nhác, ngươi sẽ nằm cho đến chừng nào? Bao giờ ngươi sẽ ngủ thức dậy? Ngủ một chút, chợp mắt một chút, khoanh tay nằm một chút, 11 thì sự nghèo khổ của ngươi sẽ đến như kẻ đi rảo, và sự thiếu thốn của ngươi tới như người cầm binh khí.

Suy gẫm:
Loài kiến là một trong những tạo vật rất nhỏ bé nhưng được Đức Chúa Trời ban cho chúng một sự khôn ngoan đến nỗi chúng có thể trở thành một gương mẫu về tính cần mẫn cho con người là vật thọ tạo nên theo hình ảnh của Ngài! Thông thường, chúng ta chỉ muốn học nơi những người khôn ngoan, tri thức, giỏi giang hơn mình. Không ai muốn học hỏi nơi người thấp thỏi, nhỏ bé, kém khôn ngoan hay tri thức hơn mình.
Tất cả tạo vật do Đức Chúa Trời dựng nên đều có một giá trị nhất định vì đó là thành quả của trí tuệ và năng lực của chính Ngài. Vì thế, trong mỗi tạo vật đều hàm chứa và phản ánh sự khôn ngoan của chính Ngài cách tiềm ẩn mà đôi khi vì sự kiêu ngạo mà chúng ta không nhận ra. Người khôn ngoan sẽ học được từ nơi bất cứ loại vật nào do chính Đức Chúa Trời dựng nên, ngay cả những tạo vật nhỏ bé như con kiến. Trong đó, Đức Chúa Trời đã thiết lập nguyên tắc của lối sống khôn ngoan, siêng năng. Có lẽ chúng không có sự nhận thức để hiểu biết sự khôn ngoan mà chúng được ban cho. Nhưng không có nghĩa là chúng không có được lối sống khôn ngoan do chính Đấng tạo nên chúng đã ký thác vào trong chúng.

Vấn đề nằm ở chỗ là chúng ta có đủ sự khiêm nhường để học từ nơi những tạo vật thấp thỏi và nhỏ bé hơn chúng ta không? Chúng ta có được Chúa ban cho sự khôn ngoan và mắt mở ra để nhận biết được bàn tay kỳ diệu của Ngài đã nắn nên mọi sự và trong mỗi vật Ngài dựng nên điều phản ánh sự khôn ngoan của chính Ngài trong đó hay không? Khi con người phạm tội, sự sa ngã đã mang con người từ tạo vật cao quý nhất của Đức Chúa Trời trở thành tạo vật thấp thỏi nhất để phải đi học những bài học quý báu mà Ngài đặt để trong những tạo vật thấp thỏi và nhỏ bé hơn chính mình. Tội lỗi đã phá hủy tất cả và đem sự mù lòa thuộc linh vào trong tâm trí con người để rồi con người phải khiêm nhường học hỏi những gì Đức Chúa Trời đã ký thác trong tất cả tạo vật mà Ngài dựng nên, ngay cả một con kiến là loài nhỏ bé và tầm thường nhất. Tóm lại, người khôn ngoan sẽ thấy và học biết về Đức Chúa Trời trong tất cả mọi sự chung quanh mình mỗi ngày. Xin Chúa ban cho chúng ta cặp mắt thuộc linh để nhìn thấy sự hiện diện của Chúa, sự hành động và tình yêu của Ngài trong công trình sáng tạo mà con người chúng ta là tạo vật cao quý nhất của Ngài.