Wednesday, April 29, 2015

NẾP SỐNG HƯỚNG THƯỢNG (1)

Kinh Thánh: Cô-lô-se (Colossians) 3:5-11
Vậy hãy làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới, tức là tà dâm, ô uế, tình dục, tham lam, tham lam chẳng khác gì thờ hình tượng: bởi những sự ấy cơn giận của Ðức Chúa Trời giáng trên các con không vâng phục; lúc trước anh em sống trong những nết xấu đó, và ăn ở như vậy. Nhưng bây giờ anh em nên trừ bỏ hết nói sự đó, tức là sự thạnh nộ, buồn giận và hung ác. Ðừng nói hành ai, chớ có một lời tục tỉu nào ra từ miệng anh em. Chớ nói dối nhau, vì đã lột bỏ người cũ cùng công việc nó, mà mặc lấy người mới là người đang đổi ra mới theo hình tượng Ðấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn. Tại đây không còn phân biệt người Gờ-réc hoặc người Giu-đa, người chịu cắt bì hoặc người không chịu cắt bì, người dã man hoặc người Sy-the, người tôi mọi hoặc người tự chủ; nhưng Ðấng Christ là mọi sự và trong mọi sự.

Suy gẫm:
Trong phân đoạn 3:1-4 sứ đồ nói đến bản chất của nếp sống hướng thượng của Cơ đốc nhân. Từ 3:5 trở đi, ông nói đến đặc điểm của nếp sống hướng thượng. Có thể tóm tắt hai đặc điểm chính của nếp sống hướng thượng trong phân đoạn trên là thánh khiết yêu thương. Trước hết, trong hai câu 5 và 6, sứ đồ Phao-lô nói đến đặc điểm của nếp sống hướng thượng là thánh khiết. Thời xưa, sự thờ lạy thần tượng đi kèm với sinh hoạt tính dục trong các đền thờ ngoại giáo đã phổ biến nhan nhãn khắp nơi và thẩm thấu vào trong đời sống con người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội. Vì lẽ đó, có một số tín hữu sau khi trở lại Cơ đốc giáo vẫn còn dính dấp vào những thứ tội lỗi về tình dục và coi đó là chuyện bình thường. Nhưng sứ đồ cảnh cáo rằng vì người tin Chúa Jesus đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Ngài nên đã chết đối với tội lỗi rồi. Cho nên, họ hãy ứng dụng chân lý này vào trong đời sống theo Chúa là “hãy làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới.” Trên phương diện thần học, Cơ đốc nhân đã đồng nhất chính mình với Chúa Jesus Christ khi Ngài chết trên thập tự, tiêu trừ tận sào huyệt bản chất tội lỗi (con người cũ) thừa hưởng từ tổ tông A-đam và Ê-va truyền lại. Nhưng trên phương diện thực nghiệm, Cơ đốc nhân phải thực hành điều này bởi đức tin, mà đức tin đó được dựa sự kiện con người cũ của mình đã chết trên thập tự giá với Ngài. Sứ đồ Phao-lô gọi “làm chết các chi thể của anh em nơi hạ giới” nghĩa là “kể” hay “coi” mình như chết về những thứ tội lỗi thuộc về xác thịt (Rô-ma 6:11). “Chi thể” là lối nói tiêu biểu cho hành động vì cơ thể con người là công cụ được sử dụng để thực hiện hành động tội lỗi. “Nơi hạ giới” là chỉ về phạm trù thế gian và xác thịt. Đời sống thánh khiết và hướng thượng của Cơ đốc nhân không phải chỉ lý thuyết bèn là thực nghiệm. Nếu không có sự thánh khiết trong đời sống, người theo Chúa chẳng khác gì người thế gian!

Những thứ tội lỗi được xem là tiêu biểu cho việc làm thuộc hạ giới là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn xấu xa, tham lam. Tà dâm hay gian dâm (sexual immorality) là từ dùng để chỉ về tất cả những sinh hoạt tình dục ngoài hôn nhân, bao gồm hai người ăn với nhau mà không tiến đến hôn nhân, gọi là “sống thử.” Trong thư tín của Phao-lô, khi nói đến ô uế (impurity) ông thường hay gán chung với gian dâm và luông tuồng (2 Cô 12:21; Gal 5:19). Tình dục đúng ra dịch là “ham muốn tình dục” (sexual perversion/erotic passion). Ham muốn xấu xa (evil desire) tức là những ham muốn ra từ bản tánh xác thịt. Tham lam (covetousness) chính là lòng tham muốn bên trong bày tỏ ra bằng hành động muốn chiếm hữu điều không thuộc về mình, trong đó bao gồm cả của cải, vợ hay chồng của người khác (Xuất 20:17). Khi con người để lòng tham lam điều khiển và nung đốt mình, khi đó họ sẽ sẵn sàng làm tất cả những gì có thể làm được để chiếm hữu điều mình muốn. Lúc ấy, lòng tham lam đối với Chúa được kể là đồng nghĩa với sự thờ lạy thần tượng, vì nó bị điều khiển  bởi một quyền lực khác ngoài lòng yêu mến Đức Chúa Trời. Ban đầu người có lòng tham lam không có ý định lìa bỏ Đức Chúa Trời. Nhưng khi lao mình vào con đường đó thì họ bị “linh của sự thờ lạy thần tượng” (spirit of idolatry) xui khiến chống nghịch Đức Chúa Trời. Đúng ra, một loạt tội kể trên là nằm trong cả một tiến trình lìa bỏ Đức Chúa Trời, được nhen nhúm bằng tư tưởng dâm tà. Kết quả là cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nổi lên chống nghịch những kẻ sống trong sự bất khiết. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là sự bộc lộ bản tánh thánh khiết và phản ứng của Ngài đối với tội lỗi bất khiết, xấu xa. Đây là điều tự nhiên trong bản tánh của Ngài. Ai trong chúng ta có thể chịu nổi cơn thạnh nộ của Ngài? Như tác giả sách Hê-bơ-rơ nói: “Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình. Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!” (Hê-bơ-rơ 10:30-31).

Thursday, April 23, 2015

SỐNG HƯỚNG THƯỢNG

Cô-lô-se (Colossians) 3:1-4
Vậy nếu anh em được sống lại với Ðấng Christ, hãy tìm các sự ở trên trời, là nơi Ðấng Christ ngồi bên hữu Ðức Chúa Trời. Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất; vì anh em đã chết, sự sống mình đã giấu với Ðấng Christ trong Ðức Chúa Trời. Khi nào Ðấng Christ, là sự sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển

Suy gẫm:
Đời sống Cơ đốc nhân là đời sống hướng thượng, có nghĩa là “tìm các sự ở trên trời” và “ham mến các sự ở trên trời.” Tìm các sự ở trên trời là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời – Các sự ở trên trời là nơi Chúa Jesus ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Thành ngữ “ngồi bên hữu Đức Chúa Trời” chỉ về sự đắc thắng của Chúa Jesus trên tội lỗi và quyền chủ trị của Ngài trên muôn loài vạn vật (Thi-thiên 110). Động từ “tìm kiếm” diễn tả hành động tìm kiếm, lục lạo tìm cho bằng được những gì mình biết là quý báu. Như thế, người có nếp sống xứng đáng với Chúa là người tìm kiếm cho được những điều mang tính chất vĩnh cửu, bảo đảm đời đời, không có gì có thể lấy mất đi được vì nhận thức được giá trị của những điều thuộc về thiên đàng vĩnh cửu khác với những điều thuộc về thế gian tạm bợ, mau qua chóng tàn. Chúa Jesus nói đến giá trị vĩnh cữu của những điều thuộc về trời trong Ma-thi-ơ 6:19-21.

Ham mến các sự ở trên trời, không ham mến các sự ở dưới đất – Động từ “ham mến” đồng nghĩa với “xu hướng tâm trí”, “lo tưởng đến” hay “chăm” về điều gì đó. Những điều thuộc về đất là tạm thời, còn những điều ở trên trời thì còn lại đời đời. Hai điều này hoàn toàn đối kháng nhau. Một người không thể vừa tìm kiếm đời này mà vừa tìm kiếm thiên đàng, vừa tìm kiếm đẹp lòng Đức Chúa Trời mà lại tìm kiếm đẹp lòng con người, vừa muốn được đời mà vừa muốn được đạo! Chẳng bao giờ có được điều đó trong vương quốc Đức Chúa Trời. Có những người tìm những điều của đời này qua “đạo” nhưng Đức Chúa Trời không kể đó là thuộc về trời! Những gì xuất phát từ sự chết và sống lại của Chúa Jesus Christ mới là điều thuộc về trời.

Nguyên nhân khiến một người tìm kiếm những sự ở trên trời là vì người đó kinh nghiệm sự sống phục sanh của Chúa Jesus Christ. Nghĩa là người đó đang có một nguyên lý sống mới xu hướng về Đức Chúa Trời và thế giới thần thượng của Ngài. Đây không phải là sự cố gắng bèn là sự sống tự nhiên trong người đó vì đã được liên hiệp với Chúa Jesus trong sự sống lại với Ngài (Rô-ma 6:4-5). Điều khiến cho Cơ đốc nhân không còn ham mến các sự ở dưới đất nữa là vì Cơ đốc nhân đã liên hiệp với Chúa Jesus Christ trong sự chết của Ngài. Cơ đốc nhân là người đã chịu phép báp tem trong sự chết với Chúa Jesus về con người cũ nên những tham muốn các sự ở dưới đất không còn chi phối người đó nữa (Rô-ma 6:7). Một người chưa thật sự liên hiệp với Chúa Jesus trong sự chết con người cũ và sống lại con người mới với Chúa thì sẽ không có khao khát muốn tìm những sự thuộc về trời được, vì điều đó hoàn toàn đi ngược lại sự sống đang hành động trong người đó. Có người cố gắng bắt chước người khác để sống hướng thượng nhưng chỉ được một thời gian vì bên trong chưa có sự sống thật của Chúa Jesus. Cây nào thì sanh trái đó. Cây cam phải ra trái cam. Cây chanh phải ra trái chanh. Nếu chưa có sự đồng chết và đồng sống lại với Chúa Jesus thì không thể nào chúng ta tự tạo nên lòng tìm kiếm và khao khát những điều thuộc về trời được. Khi đó chúng ta sẽ còn lặn hụp và lăn lộn trong vũng bùn danh, lợi, quyền của đời này mà chẳng bao giờ biết chán ngán.

Sứ đồ Phao-lô vẽ ra trước mắt độc giả của ông một tương lai rạng rỡ đầy vinh hiển khi Chúa Jesus hiện ra nếu họ bằng lòng sống trong mối liên hiệp sâu xa với Ngài trong hiện tại. Nếu họ buông bỏ con đường Chúa muốn họ đi trong hiện tại để tìm kiếm những vinh hiển giả tạo của trần gian thì sẽ họ chẳng có phần gì với Chúa khi Ngài hiện ra trong tương lai. Sự từ bỏ những ham muốn thuộc về hạ giới trong hiện tại để tìm kiếm những điều thuộc về thượng giới sẽ được ban thưởng bằng sự hiện ra với Chúa Jesus Christ trong sự vinh hiển trong tương lai. “… Những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta” (Rô 8:18). Tương lai vinh hiển đang chờ Bạn và tôi đó. Ngay hôm nay, hãy chọn cho mình một lối sống để rồi chẳng bao giờ chúng ta phải luyến tiếc, ân hận trong cả cõi đời đời!

Thursday, April 16, 2015

CHẲNG HỀ NHƯ VẬY!

Rô-ma (Romans) 6:1-9
Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta phải cứ ở trong tội lỗi, hầu cho ân điển được dư dật chăng? Chẳng hề như vậy! Chúng ta đã chết về tội lỗi, lẽ nào còn sống trong tội lỗi nữa? Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp tem trong Ðức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp tem trong sự chết Ngài sao? Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp tem trong sự chết Ngài, hầu cho Ðấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy. Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau: vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa. Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi. Vả, nếu chúng ta đã cùng chết với Ðấng Christ, thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ sống lại với Ngài, bởi biết rằng Ðấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì chẳng chết nữa; sự chết không còn cai trị trên Ngài.

Suy gẫm:
Một trong những vấn nạn của đời sống Cơ đốc nhân là làm thế nào để sống đắc thắng tội lỗi khi còn sống trong xác thịt? Giống như chúng ta ngày nay, ngày xưa tín hữu tại Hội Thánh Rô-ma cũng vật lộn với vấn đề này trong đời sống thuộc linh của họ. Tuy nhiên, để lý giải cho sự thất bại của đời sống Cơ đốc nhân, tín hữu tại Rô-ma cho rằng người tin Chúa muốn biết được chiều sâu của ân sủng Đức Chúa Trời thì cần phải chìm ngập trong nếp sống tội lỗi. Họ lý luận rằng ân sủng tỷ lệ thuận với tội lỗi, nên nơi nào tội lỗi gia tăng thì ân sủng cũng sẽ gia tăng! Muốn đo được chiều sâu của ân sủng Đức Chúa Trời thì con người phải biết được chiều sâu của tội lỗi, vì khi con người càng chìm đắm trong tội lỗi bao nhiêu thì con người càng dò thấu được chiều sâu của lòng nhân và ân sủng trong ơn cứu độ của Chúa Jesus Christ bấy nhiêu. Mới nghe qua, chúng ta thấy điều này có vẻ hữu lý vô cùng. Tuy nhiên, sứ đồ Phao-lô nói rằng: “Chẳng hề như vậy.” Trong nguyên văn Hi-lạp, cụm từ này có nghĩa là “Đức Chúa Trời hoàn toàn cấm đoán!” Điều sứ đồ Phao-lô muốn nói là quan niệm này vô cùng sai lầm vì không thấu hiểu được ý nghĩa của sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Jesus. Vì chỉ tin Chúa Jesus mà không biết được ý nghĩa của việc Cơ đốc nhân đồng nhất chính mình trong chết và sống lại của Chúa Cứu Thế Jesus, Cơ đốc nhân đã sống cuộc đời theo Chúa vẫn làm nô lệ cho xác thịt, đầy dẫy thất bại và đắng cay. Để giải quyết tình trạng thuộc linh này, sứ đồ Phao-lô đưa ra cho tín hữu tại Hội Thánh Rô-ma hai giáo lý vô cùng quan trọng sau đây:

1.      Cơ đốc nhân phải biết rõ rằng người cũ của mình đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Chúa Jesus khi Ngài chết. Tại sao Chúa Jesus phải chịu chết cho con người? Chẳng những Ngài chết để trở thành của lễ chuộc tội cho nhân loại nhưng Ngài còn chịu chết để hủy phá “xào huyệt” của tội lỗi trong con người. Đó chính là bản chất xác thịt của con người đã bán mình cho tội lỗi. Khi một người chết thì được thoát khỏi quyền lực của tội lỗi đang hoành hành trong xác thịt của người đó. Tội lỗi còn đó nhưng người đó đã chết với tội lỗi. Tội lỗi không còn ảnh hưởng gì đến người đó. Cho nên, vì đã chết đối với tội lỗi, Cơ đốc nhân không thể nào tiếp tục sống trong tội lỗi nữa.

2.      Cơ đốc nhân phải biết rõ rằng mình cũng đồng sống lại với Chúa Jesus khi Ngài từ kẻ chết sống lại, để có thể sống đời mới theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Khi Chúa Jesus sống lại từ cõi chết thì Ngài đã phá hủy hay bứt đứt dây trói của sự chết. Cái nọc của sự chết chính là tội lỗi (I Cô-rinh-tô 15:56). Như thế, Chúa Jesus là Đấng duy nhất đắc thắng tội lỗi vì Ngài đã đắc thắng sự chết. Do đó, đời sống người theo Chúa Jesus không gì khác hơn là chính Chúa Jesus Christ đã chết và sống lại đang sống động trong người đó, chuyển tải những kinh nghiệm của chính Ngài cho người đó hầu người đó có thể sống cuộc đời đắc thắng tội lỗi giống như Ngài đã sống. Sứ đồ Giăng nói quả quyết về đời sống Cơ đốc nhân như sau: “Ấy là Chúa thể nào thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian này” (I Giăng 4:17b). Chúa Jesus đã sống lại để chúng ta là người tin Ngài có thể sống đời đắc thắng và làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Ha-lê-lu-gia! Thật vô cùng tạ ơn Chúa!

Thursday, April 9, 2015

ĐIỀU TỐT RA TỪ ĐIỀU XẤU

I Phi-e-rơ (Peter) 2:4-10
Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Ðức Chúa Trời, và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Ðức Chúa Jêsus Christ mà đẹp ý Ðức Chúa Trời. Vì trong Kinh Thánh có chép rằng:
Nầy, ta đặt tại Si-ôn hòn đá góc nhà đã chọn lựa và quí báu; Ai tin đến đá ấy sẽ không bị xấu hổ. Vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí; nhưng cho những kẻ không tin, thì Hòn đá mà bị thợ xây nhà loại ra, bèn trở nên đá góc nhà, là Ðá gây cho vấp váp, là đá lớn làm cho sa ngã; họ bị vấp đá đó, vì không vâng phục Ðạo, và điều ấy đã định sẵn cho họ rồi. Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Ðức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Ðấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài; anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Ðức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót.

Suy gẫm:
Sứ đồ Phi-e-rơ viết những lời này cho các Cơ đốc nhân phần lớn là người ngoại bang, sống trong vùng Tiểu Á Châu lúc bấy giờ, đang trải qua cơn bách hại bởi đồng hương mình. Họ là những con người bị xã hội ruồng bỏ, khinh miệt, và nằm bên lề xã hội chỉ vì niềm tin nơi Chúa Cứu Thế Jesus. Sau khi tin Chúa, từ bỏ nếp sống cũ, độc giả của Phi-e-rơ đã vẽ ra một lằn ranh rõ rệt giữa thế giới sự sáng và thế giới sự tối tăm (I Phi-e-rơ 4:3-4). Cho nên, sứ đồ Phi-e-rơ mang đến cho họ một sứ điệp đầy hy vọng và khích lệ. Ông nói họ cũng giống như Chúa Cứu Thế Jesus, Đấng đã bị con người (các nhà lãnh đạo Do-thái giáo) tìm cách loại trừ chỉ vì lòng ganh tị và ghen ghét nhưng được Đức Chúa Trời trân quý và dùng Ngài để thiết lập nên Hội Thánh của Tân Ước, trong đó Chúa Jesus là Đá góc nhà (the cornerstone) còn họ là những viên đá sống (living stones) trong căn nhà mới đó. Bởi sự khước từ của con người đối với Chúa Jesus mà độc giả của ông được chọn và quý trước mặt Chúa để trở nên đền thờ thiêng liêng, được biệt riêng ra thánh để dâng của tế lễ thiêng liêng cho Đức Chúa Trời theo ý muốn Ngài. Do đó, Phi-e-rơ mời gọi độc giả của ông hãy đến gần Chúa Jesus vì Ngài ngọt ngào (2:2). Chúa Cứu Thế Jesus trở thành nơi trú ẩn và dung thân cho những kẻ bị xã hội loài người ruồng bỏ. Chắc chắn rằng họ sẽ tìm thấy trong Ngài sự ngọt ngào thay thế cho những bạc đãi và cay đắng của cuộc đời. Ông nói: “Vậy anh em đã từ bỏ mọi điều độc ác, mọi điều gian dảo, mọi thứ giả trá, lòng ghen ghét và sự nói hành, thì hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn, nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào” (2:1-3). “Sữa thiêng liêng của Đạo” không gì khác hơn là chính Chúa Jesus. Từ “thiêng liêng” ở đây trong nguyên văn Hi-lạp không mang ý nghĩa đối kháng với “xác thịt” nhưng có mối liên hệ với “đạo” hay “ngôi lời” (logos), là từ được dùng chỉ về Chúa Jesus. Tính chất thiêng liêng lưu xuất từ Chúa Jesus chứa đựng lý lẽ của trí tuệ và sự hiểu biết để phân biện giữa điều thiện và điều ác, giữa sự cay đắng và ngọt ngào.

Chẳng có cuộc đời nào trên trần gian này bị con người ngược đãi, ruồng bỏ, sỉ nhục, khạc nhổ và chà đạp hơn Chúa Jesus. Cuối cùng bị giết theo cách tàn nhẫn hơn hết. Nói ra cho cùng, Chúa Jesus chẳng có gì để phải gánh chịu những điều vô cùng bất công của con người đối xử với Ngài. Tuy nhiên, tất cả những điều đó không làm cho Chúa Jesus trở thành con người cay đắng. Trái lại đó là cơ hội để Ngài tiết ra sự ngọt ngào và hương thơm của thiêng đàng. Chúa Jesus chẳng màng đến việc con người đối xử với mình cách nào, vì Ngài biết rất rõ ràng rằng con người chỉ có thể làm cho Ngài chết nhưng duy Đức Chúa Trời mới làm cho Ngài sống lại từ cõi chết. Người ta chỉ có thể loại bỏ Ngài bằng sự chết và tưởng chừng cuộc đời Ngài kết thúc tại đó nhưng chỉ có Đức Chúa Trời mới thấy Chúa Jesus là quý báu và dùng Ngài thiết lập nên Hội Thánh của Ngài trên đất. Chính Hội Thánh này mà Chúa Jesus đã nói: “Các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Ma-thi-ơ 16:). Hội Thánh của Đức Chúa Trời được xây dựng bằng những cuộc đời bị con người ruồng bỏ, từng sống lầm than trong nếp sống gian ác và chìm ngập trong những nỗi cay đắng nhưng được Chúa biến đổi trở nên ngọt ngào. Vì thế, Kinh Thánh nói rất rõ ràng lòng cay đắng và gian ác sẽ không thể đặc tính của đời sống người theo Chúa vì nó thuộc về nếp sống cũ, chưa được đổi mới bởi Chúa Thánh Linh (Công vụ 8:22; Rô-ma 1:29; 1 Cô-rinh-tô 5:8; Ê-phê-sô 4:31; Cô-lô-se 3:8; Tít 3:3; Gia-cơ 1:21). Điều quan trọng không phải là con người nhìn và đối xử với những kẻ thuộc về Chúa ra sao bèn là Đức Chúa Trời nhìn và đối xử với từng cuộc đời kẻ thuộc về Ngài như thế nào. Cái nhìn và cách đối xử của Đức Chúa Trời đối với kẻ thuộc về Ngài là điều quan trọng hơn hết vì Ngài có chương trình tốt đẹp nhất cho họ để dùng họ cho sự vinh hiển cao cả đời đời của Ngài. Chính vì thế, mỗi chúng ta mới có thể thực hiện sứ mạng của mình: “hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Ðấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài.”

Thursday, April 2, 2015

CHÚA JESUS VÀ TÔI

Kinh thánh: Cô-lô-se (Colossians) 1:21-23
Còn anh em ngày trước vốn xa cách Ðức Chúa Trời, và là thù nghịch cùng Ngài bởi ý tưởng và việc ác mình, nhưng bây giờ Ðức Chúa Trời đã nhờ sự chết của Con Ngài chịu lấy trong thân thể của xác thịt mà khiến anh em hòa thuận, đặng làm cho anh em đứng trước mặt Ngài cách thánh sạch không vết, không chỗ trách được; miễn là anh em tin Chúa cách vững vàng không núng, chẳng hề dời khỏi sự trông cậy đã truyền ra bởi đạo Tin Lành mà anh em đã nghe, là đạo được giảng ra giữa mọi vật dựng nên ở dưới trời, và chính tôi, Phao-lô, là kẻ giúp việc của đạo ấy.

Suy gẫm:
Sau khi trình bày giáo lý tính chất siêu việt (supremacy) của Chúa Jesus Christ và mối liên hệ của Ngài với Hội Thánh của Đức Chúa Trời, sứ đồ Phao-lô liên hệ chính Ngài với các tín hữu tại Cô-lô-se. Ông cho họ thấy những gì Đức Chúa Trời làm cho họ trong chương trình cứu rỗi của Ngài. Phao-lô vẽ ra trước mặt độc giả cuộc đời của họ trước đây chưa có Chúa Jesus chạm đến và cứu vớt như thế nào: “Anh em ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời và là thù nghịch cùng Ngài bởi ý tưởng và việc ác mình.” Đây là một câu nhận định đầy kịch tính, phơi bày tận gốc rễ bản chất sự hư mất của con người trước mặt Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao-lô sử dụng từ “xa cách” với cả ý nghĩa thần học lẫn chính trị và xã hội. Trước hết, “xa cách Đức Chúa Trời” có nghĩa là bị đẩy xa ra khỏi sự hiện diện của Ngài. Đây là cách mô tả sự kiện trong Sáng thế ký 3: 23-24. Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội, họ bị “đuổi” (động từ này được nhắc lại hai lần) ra khỏi vườn địa đàng và thế giới chung quanh về phương diện thể xác nhưng xa cách Đức Chúa Trời về phương diện tâm linh. Họ bị cắt đứt mối liên hệ với Ngài và bị các thần chê-ru-bin cầm gươm chói lòa canh giữ trong tình trạng xa cách đó. Kế đến, trên phương diện xã hội và chính trị thời xưa, từ ngữ “xa cách” được dùng mô tả một người sống trong tình trạng bị đối xử như kẻ ngoại bang, không được hưởng bất cứ quyền lợi nào trong xã hội. Ngoài ra, từ này còn được dùng để mô tả một người không hề có một mối liên hệ gì với người khác. Chính bản chất tội lỗi trong con người đã khiến họ xa cách Đức Chúa Trời và trở thành kẻ thù của Ngài được bày tỏ qua hành động, lời nói, và sự suy nghĩ.

Nhưng Đức Chúa Trời sai Chúa Jesus đến thế gian, qua sự chết chính Ngài chịu lấy trong thân thể của xác thịt mà đem con người tội lỗi trở nên thuận hòa với Đức Chúa Trời. Có một sự thay thế tuyệt vời ở đây: Chúa Jesus đã dâng chính mình cho Đức Chúa Trời như một của tế lễ để chuộc tội cho con người ngõ hầu con người có thể được hòa thuận với Đức Chúa Trời và chính Ngài dâng hay trình diện con người trước mặt Đức Chúa Trời như một của lễ thánh sạch, không vết, không chỗ trách được cho Đức Chúa Trời. Điều này vượt quá trí tưởng tượng của con người tội lỗi, xấu xa, và gian ác. Chỉ qua công lao cứu chuộc của Chúa Jesus Christ, con người mới có thể được tha thứ và biến đổi từ một kẻ tội lỗi có khuynh hướng sống buông thả trở thành một con người có nếp sống thánh thiện, công chính, và đẹp lòng Đức Chúa Trời. Nếp sống này không phải là nổ lực của con người bèn là nhờ vào quyền năng biến đổi và tái tạo của Chúa Thánh Linh, Đấng đang cư trú trong đời sống của họ.

Tuy nhiên, sứ đồ nêu ra cho các tín hữu Cô-lô-se biết một điều kiện vô cùng quan trọng: “… Miễn là anh em tin Chúa cách vững vàng không núng, chẳng hề dời khỏi sự trông cậy đã truyền ra bởi đạo Tin Lành mà anh em đã nghe . . .” Điều này có nghĩa rằng những con người được cứu bởi sự chết của Chúa Jesus phải sống cách cẩn trọng và không dời đổi khỏi sự trông cậy được ban cho trong Tin Lành cứu rỗi của Chúa Jesus Christ. Nếu một người đã tin Chúa Jesus Christ chết thay cho mình và được hòa thuận với Đức Chúa Trời nhưng vì những hoàn cảnh chung hay tội lỗi khiến mình buông bỏ niềm tin và sự trông cậy nơi ân sủng cứu rỗi, người đó sẽ bị mất địa vị trước mặt Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi của Chúa ban cho con người là bảo đảm tuyệt đối về phần của Ngài nhưng mỗi người sẽ chịu trách nhiệm về sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời ban cho mình trong Chúa Jesus Christ. Sứ đồ Phao-lô đã bước đi vững vàng trong đức tin và niềm hy vọng nơi Chúa nên ông đã rao truyền sứ điệp cứu rỗi của Ngài cho “mọi vật dựng nên dưới trời.” Chúa cũng sẽ dùng Bạn và tôi nếu chúng ta cứ đứng vững trong đức tin và niềm hy vọng nơi Ngài như Phao-lô.