Thursday, November 20, 2014

AI THẬT SỰ CẦN CHÚA?

Mác (Mark) 2:14-17
Ngài vừa đi qua thấy Lê-vi, con A-phê, đương ngồi tại sở thâu thuế, thì phán cùng người rằng: Hãy theo ta. Người đứng dậy theo Ngài. Ðức Chúa Jêsus đương ngồi ăn tại nhà Lê-vi, có nhiều kẻ thâu thuế và người có tội đồng bàn với Ngài và môn đồ Ngài; vì trong bọn đó có nhiều kẻ theo Ngài rồi. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si thấy Ngài ăn với người thâu thuế và kẻ phạm tội, thì nói với môn đồ Ngài rằng: Người cùng ăn với kẻ thâu thuế và người có tội sao! Ðức Chúa Jêsus nghe vậy, bèn phán cùng họ rằng: Chẳng phải kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; ta chẳng phải đến gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội.

Suy gẫm:
Khi bắt đầu thi hành chức vụ Chúa Jesus chọn một số người rồi huấn luyện để làm việc chung với mình. Ngài không chọn những con người tài giỏi hay đạo đức như giới thông giáo và Pha-ri-si, bèn là những con người tầm thường trong các nẻo đường của cuộc đời như: Giăng, Gia-cơ, Phi-e-rơ, Anh-rê; và thậm chí là ngay cả những người đang sống trong bóng đêm dài của tội lỗi như Ma-thi-ơ, kẻ thâu thuế được liệt kê chung với phường điếm đĩ trong xã hội thời bấy giờ. Nhưng tại sao việc làm của Chúa Jesus luôn luôn là mục tiêu tấn công và chỉ trích của giới thông giáo và Pha-ri-si? Có ít nhất là ba lý do:

Lòng kiêu ngạo đã khiến cho giới thông giáo và Pha-ri-si cảm thấy khó chịu và lên tiếng chỉ trích việc làm của Chúa Jesus. Tinh thần chỉ trích Chúa Jesus của họ đôi khi là biểu hiện của lòng kiêu ngạo ẩn tàng bên trong. Hay cũng có thể đó là sự bực tức bị dồn nén trong lòng nay bộc phát cách vô thức. Khi phê phán, lên án việc làm của Chúa Jesus, họ tự đặt họ trong một vị thế cao hơn Ngài. Ngược lại, cũng có thể khi tố cáo và phê phán Chúa Jesus ngụ ý rằng họ không có khả năng làm được việc như Ngài đã làm. Nói cách khác, khi cảm thấy bị mất mác, thua thiệt một cái gì đó đáng lý họ phải có, thì họ lại lên án hay chỉ trích việc người khác đang làm. Thông thường, những người phê phán việc làm của người khác là người ít khi nào làm nên được tích sự gì. Có thể nói, phê phán và chỉ trích người khác là loại “vũ khí” rẻ tiền nhất và hèn yếu nhất để tự bảo vệ thể diện hay sỉ diện của mình!

Sự ghen tức và lòng ganh tị trong con người là con đẻ của lòng kiêu ngạo, đã khiến cho giới thông giáo và Pha-ri-si lên án việc làm của Chúa Jesus. Họ tự hỏi, “Tại sao tôi tài giỏi và tốt như thế này mà không được Ngài chọn? Trong khi Ngài lại đi chọn những con người tội lỗi xấu xa như thế?” Vô tình lòng ghen tức và ganh tị với người khác là dấu hiệu cho thấy họ vô giá trị còn người khác lại giá trị hơn họ; hay ngược lại, thấy mình có giá trị hơn người khác! Vô tình hay cố ý, lòng ganh tị hay ghen tức phơi bày con người thật của chính mình và người mình ganh tị.

Sự hiểu Kinh Thánh lệch lạc và quan điểm thần học hẹp hòi, khô cứng đã giết chết đi lòng trắc ẩn của giới thông giáo và Pha-ri-si. Họ muốn bảo vệ cho “chân lý” nhưng lại là những người đi làm hại cội nguồn của “chân lý” của Đức Chúa Trời: lòng yêu thương của Ngài đối với tội nhân. Lòng kiêu ngạo đã biến họ từ tội nhân trở thành thánh nhân trong con mắt của chính họ! Vì thế, họ chẳng còn thấy mình là một người cần Chúa Jesus như những con người tội lỗi khác. Họ không hiểu rằng Chúa Jesus đến để tìm và cứu những kẻ có tội (Lu-ca 19:10). Chỉ những kẻ nhận biết mình có tội mới thật sự cần Chúa Jesus. Chính họ cần Chúa Jesus nên Ngài đã đến trần gian này cho chính họ. Sự nhận biết mình là tội nhân bao giờ cũng sanh sản ra lòng biết ơn. Mỗi năm Mùa Tạ Ơn và Giáng Sanh lại trở về để nhắc chúng ta nhớ lại rằng chúng ta là tội nhân và chúng ta cần Ngài là dường nào! Nguyện Chúa cho chúng ta có thể nói như sứ đồ Phao-lô: “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu” (1 Ti-mô-thê 1:15).

Thursday, November 13, 2014

THẨM QUYỀN CỦA LỜI CHÚA PHÁN

Mác (Mark) 2:7-12
Vả, có mấy thầy thông giáo ngồi đó, nghĩ thầm rằng: Sao người nầy nói như vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài mình Ðức Chúa Trời, còn có ai tha tội được chăng? Ðức Chúa Jêsus trong trí đã tự hiểu họ nghĩ như vậy, tức thì phán rằng: Sao các ngươi bàn luận trong lòng thể ấy? Nay bảo kẻ bại rằng: Tội ngươi đã được tha; hay là bảo người rằng: Hãy đứng dậy vác giường mà đi; hai điều ấy điều nào dễ hơn? Vả, để cho các ngươi biết rằng Con Người ở thế gian có quyền tha tội, thì Ngài phán cùng kẻ bại rằng: Ta biểu ngươi, hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà. Kẻ bại đứng dậy, tức thì vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy làm lạ, ngợi khen Ðức Chúa Trời, mà rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể nầy.

Suy gẫm:
Chúa Jesus thường hay tạo nên những điều dễ khiến cho con người có phản ứng mạnh, để rồi qua đó Ngài dẫn họ đến một sự hiểu biết mới mẻ về Ngài. Tại đây, Chúa Jesus dùng việc chữa lành người bại để bày tỏ một lẽ thật vô cùng quan trọng về chính Ngài: Con Người (Son of Man) ở thế gian có quyền tha tội. Điều này có nghĩa Con Người chính là Đức Chúa Trời. Chúa Jesus mang đến cho các thầy thông giáo một sự hiểu biết mới mẻ về Đức Chúa Trời mà từ trước tới nay họ chưa bao giờ suy nghĩ đến: Đức Chúa Trời trở thành người. Trong quan niệm người Do-thái, tội lỗi liên quan đến bịnh tật. Bị bịnh có nghĩa là có tội. Bịnh tật đuợc chữa lành là bằng chứng tội lỗi được tha thứ. Dẫu rằng quan niệm này không phải lúc nào cũng đúng cũng như được Chúa Jesus chấp nhận, nhưng Ngài đã dùng ngay điều họ suy nghĩ để bày tỏ về chính Ngài hầu thay đổi cả một quan niệm và tư tưởng sai lạc ẩn tàng trong họ. Trong phần trên của câu chuyện, vì Chúa Jesus “thấy” đức tin của những người mang người bại đến nên Ngài đã tuyên bố sự tha thứ và chữa lành cho người bại. Tại đây, Chúa Jesus “biết” những suy nghĩ của các thầy thông giáo mà tuyên bố Ngài chính là Đức Chúa Trời.

Lời nói hay tiếng phán của Chúa Jesus trong đó hàm chứa một thẩm quyền mang đến sự thay đổi tình trạng bất ổn của con người, điều chỉnh tư tưởng sai lầm, và mở ra một chân trời mới trong sự hiểu biết về Đức Chúa Trời. Thẩm quyền này không nằm trong ngôn ngữ nhưng nằm trong bản thể và yếu tính của Ngài. Nếu Chúa Jesus không phải là Đức Chúa Trời thì chắc chắn rằng những lời nói hay tuyên bố của Ngài chẳng tạo nên được bất cứ một sự thay đổi nào cho con người. Đến phiên các môn đồ của Chúa Jesus, khi công bố sự chữa lành cho người què tại cửa đẹp của đền thờ, thì họ phải “nhân danh Jesus ở Na-xa-rét” vì chính họ không phải là Đức Chúa Trời (Công vụ 3:6). Điều này cho thấy không phải lúc nào những nỗi bất hạnh của con người cũng là điều tuyệt vọng và không có lối thoát cho kẻ đặt niềm tin nơi Ngài.
Chỉ một mình Chúa Jesus có thể thay đổi mọi sự và đem con người đến một sự mặc khải mới mẻ về chính Ngài khi họ nghe được tiếng phán của Ngài. Tiếng phán hay lời Chúa Jesus nói có sức mạnh thay đổi tình huống và hiện trạng bất hạnh của con người, lấp đầy khoảng trống của sự thiếu hiểu biết về Ngài trong tâm trí con người mà đã một lần bị hư hoại và lầm lạc vì tội lỗi gây ra. Vấn đề là làm thế nào chúng ta có thể nghe được tiếng phán của Ngài trong những tình huống đen tối và nghiệt ngã hơn hết của đời sống? Nếu chúng ta không sống gần Chúa và chuyên tâm học hỏi Lời của Ngài thì khó có thể nghe được tiếng của Chúa trong những lúc có cần trong đời sống.

Thursday, November 6, 2014

ĐỨC TIN CHÂN THẬT

Mác (Mark) 2:1-5
Khỏi một vài ngày, Ðức Chúa Jêsus trở lại thành Ca-bê-na-um, và chúng nghe nói Ngài ở trong nhà. Họ họp lại tại đó đông lắm, đến nỗi trước cửa cũng không còn chỗ trống; Ngài giảng đạo cho họ nghe. Bấy giờ có mấy kẻ đem tới cho Ngài một người đau bại, có bốn người khiêng. Nhưng, vì đông người, không lại gần Ngài được, nên dở mái nhà ngay chỗ Ngài ngồi, rồi do lỗ đó dòng giường người bại xuống. Ðức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán với kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha.

Suy gẫm:
Sau khi Chúa Jesus thi hành chức vụ trong cõi Ga-li-lê, Ngài quay trở lại thành Ca-bê-na-um là trung tâm quan trọng cho chức vụ của Ngài trong vùng. Tại đó, Chúa Jesus đối diện với một tình huống mới của chức vụ. Câu chuyện Chúa chữa người bại được thánh Mác ghi lại nhằm mục đích cho thấy nơi nào có đức tin chân chính thì nơi đó có phép lạ xảy ra. Tuy nhiên, để có thể thấy được quyền phép của Đức Chúa Trời tỏ ra qua chức vụ của Chúa Jesus khi đối diện với những con người có đức tin, đức tin này phải chứa đựng một số đặc tính vô cùng quan trọng sau đây:

1.      Đức tin thật phải xuất phát từ tình yêu và biểu hiện bằng hành động. Điều đầu tiên mà chúng ta có thể nhận ra rất rõ ràng là bốn người mang người bại đến với Chúa Jesus là những người có đức tin nơi Chúa Jesus và có tình yêu đối với người bạn bị bại của mình. Tất cả mọi sự xuất phát từ khởi điểm quan trọng này. Không có tình yêu thì chẳng bao giờ bốn người bạn của người bại sẵn sàng trả tất cả mọi giá để mang người bại đến với Chúa Jesus. Đức tin thật bao giờ cũng xuất phát từ tình yêu và bày tỏ bằng hành động cụ thể.

2.      Đức tin thật nẩy sanh sáng kiến bày tỏ sự phong phú của đức tin. Bốn người bạn của người bại đã tìm đủ mọi cách để dòng người bại xuống ngay trước mặt Chúa Jesus để được Ngài chữa lành. Đám đông không phải là trở lực to lớn đối với họ. Mái nhà cũng không phải là điều có thể ngăn cản quyết tâm của họ. Hoàn cảnh con người chung quanh, khó khăn mang tính cách khách quan không phải là những trở lực đáng kể cho những ai có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời. Khi đó, chính Thần của Chúa sẽ ban cho họ sự khôn ngoan và sự sáng tạo cùng với tinh thần “can đảm thuộc linh” để có chạm được quyền năng của Ngài.

3.      Đức tin thật đòi hỏi sự hiệp một. Tinh thần hiệp một của bốn người bạn của người bại mang lại kết quả vô cùng tốt đẹp. Nhưng chắc chắn rằng trong bốn người khiêng người bại có một người điều khiển và những người khác đi theo sự hướng dẫn của người đó thì công việc mới tốt đẹp. Đây chính là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc làm của những người mang người bại đến với Chúa Jesus. Có tấm lòng yêu thương và có sáng kiến cũng chưa đủ, cần phải có sự hiệp nhất trong những sáng kiến để đạt được mục đích. Có tình thương, có sáng kiến, có lòng nhiệt thành mà không đặt mình dưới sự lãnh đạo của người khác thì cũng không có sự hiệp nhất và công việc được hoàn tất cách tốt đẹp và vinh hiển danh Chúa.

Kết quả của đức tin chân chính của họ là gì? Kinh Thánh chép: “Ðức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán với kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha.” Đức tin nằm ẩn tàng bên trong nhưng được biểu hiện ra bằng hành động bên ngoài, gọi là đức tin sống. Chúa Jesus nhìn thấy loại đức tin đó cả bên trong bản chất lẫn hành động biểu lộ bên ngoài của nó, và Ngài bao gồm cả đức tin của người bại chung với các bạn của ông. Vì thế, Ngài đã phán về sự tha thứ và chữa lành cho người bại.