Wednesday, July 30, 2014

THÁCH THỨC CHO CON NGƯỜI ĐỨC TIN

Sáng-thế ký (Genesis) 14:17-24

Sau khi Áp-ram đánh bại Kết-rô-Lao-me và các vua đồng minh, thắng trận trở về, thì vua Sô-đôm ra đón rước người tại trũng Sa-ve, tức là trũng Vua. Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, sai đem bánh và rượu ra. Vả, vua nầy là thầy tế lễ của Ðức Chúa Trời Chí cao, chúc phước cho Áp-ram và nói rằng: Nguyện Ðức Chúa Trời Chí cao, là Ðấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Áp-ram! Ðáng ngợi khen thay Ðức Chúa Trời Chí cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay ngươi! Ðoạn, Áp-ram lấy một phần mười về cả của giặc mà dâng cho vua đó. Vua Sô-đôm bèn nói cùng Áp-ram rằng: Hãy giao người cho ta, còn của cải, thì ngươi thâu lấy. Áp-ram đáp lại rằng: Tôi giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời Chí cao, Chúa Tể của trời và đất, mà thề rằng: Hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề lấy; e vua nói được rằng: Nhờ ta làm cho Áp-ram giàu có, chỉ món chi của những người trẻ đã ăn, và phần của các người cùng đi với tôi, là A-ne, Ếch-côn và Mam-rê; về phần họ, họ hãy lấy phần của họ đi.

Dưỡng linh:

Sau khi Áp-ram chiến thắng kẻ thù trở về được vua Sô-đôm và Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem ra tiếp đón. Cả hai vua này tiêu biểu cho hai thế giới đối kháng nhau ra đón tiếp Áp-ram. Vua Sô-đôm tiêu biểu cho thế giới tội ác và tăm tối. Còn vua Sa-lem đại diện cho thế giới sáng láng của Đức Chúa Trời.  Tác giả của sách Hê-bơ-rơ giải thích vua Sa-lem chính là Đấng Christ (Hê-bơ-rơ 7:1-10). Sự hiện diện của cả hai nhân vật này cho chúng ta thấy một bài học vô cùng quan trọng trong đời sống của con người đức tin như thế nào.

Sự chiến thắng của Đức Chúa Trời ban cho Áp-ram đã mang ông đến một chỗ phải đối diện với cả sự cám dỗ của sự sa ngã lẫn sự chúc phước. Từ nơi trận mạc trở về, Áp-ram được vua Sa-lem là Mên-chi-xê-đéc ra đón tiếp rất đặc biệt. Kinh Thánh chép như sau: “Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, sai đem bánh và rượu ra.” Bánh và rượu hai thứ thức ăn rất phổ thông và căn bản trong đời sống thường nhật của người Do-thái. Nhưng bánh và rượu cũng tiêu biểu cho hai yếu tố của thánh lễ Tiệc Thánh mà Chúa Jesus thiết lập sau này. Tại đây vua Sa-lem dùng hai thứ thức ăn này để cảm tạ Chúa vì Ngài đã ban ơn cho Áp-ram giải cứu khỏi tay kẻ thù tiêu biểu cho thế giới tối tăm, tội lỗi. Kèm theo sự vui mừng hoan hỉ này là lời chúc phước từ nơi Đức Chúa Trời, Đấng dựng nên trời và đất. Đây là dấu ấn xác chứng về lời hứa phước hạnh mà Đức Chúa Trời ban cho Áp-ram: Ông trở thành nguồn phước cho mọi người. Để đáp ứng lại sự ban cho và chúc phước này, Áp-ram đã dâng 1/10 về tất cả chiến lợi phẩm bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Chúa Trời. Đó là phản ứng của tấm lòng và cuộc đời được Đức Chúa Trời chạm đến, ban phước và sử dụng để làm công việc của Ngài.

Tuy nhiên, sự chiến thắng không chỉ mang lại phước hạnh cho Áp-ram mà còn mang lại sự thách thức hay cám dỗ. Đồng một lúc với sự xuất hiện của vua Sa-lem, có vua của thành phố Sô-đôm là nơi đô hội tội ác thời bấy giờ, cũng ra mắt Áp-ram để dâng của lễ cho ông. Vua Sô-đôm đưa ra lời đề nghị với Áp-ram là đưa người cho ông, còn ông sẽ để cho Áp-ram tất cả các của cải đã tóm thâu từ tay kẻ thù. Nhưng Áp-ram rất nhạy bén về điều này nên trả lời rằng: “Tôi giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời Chí cao, Chúa Tể của trời và đất, mà thề rằng: Hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề lấy; e vua nói được rằng: Nhờ ta làm cho Áp-ram giàu có…” Vì đã học bài học về lòng ham mê vật chất trước đây, nay Áp-ram đã có thể chống chọi lại với sự cám dỗ và đắc thắng. Trên hết, lý do Áp-ram từ khước vật dâng hiến của vua Sô-đôm là ông không muốn vị vua ngoại bang hiểu lầm về Chúa của ông. Áp-ram muốn bày tỏ đức tin tuyệt đối nơi Đức Chúa Trời và không muốn cho danh của Ngài bị người ngoại nhạo báng. Đây là đặc điểm của con người đức tin: không để cho thế gian lừa dối hay sống dung hòa với thế gian, nhưng bằng lòng dâng tất cả vinh hiển cho Đức Chúa Trời.

Dâng 1/10 cho Chúa không những là bổn phận nhưng còn là một đặc ân Chúa ban cho. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta đầy đủ mọi sự nhưng chúng ta chỉ phải dâng lại 1/10 những gì Chúa ban cho mà thôi. Vì thế, việc dâng 1/10 là hành động bày tỏ đức tin và lòng biết ơn của chúng ta đối với Ngài. Người được Đức Chúa Trời ban phước thì sẽ sẵn lòng dâng 1/10 hay hơn nữa cho Chúa giống như Áp-ram. Khi lòng chúng ta yêu mến Chúa nồng nàn thì việc dâng 1/10 không phải là khó khăn cho lắm. Nhưng khi chúng ta sa sút và yếu đuối thì việc dâng 1/10 trở nên khó khăn cho chúng ta.  Có thể nói, việc dâng 1/10 cho Chúa là “hàn thử biểu” nhiệt độ đời sống thuộc linh của Cơ-đốc nhân. Chẳng khác gì người trai trẻ giàu có ngày xưa (Mác 10:21-22), đôi khi chúng ta sẵn sàng làm nhiều điều cho Chúa nhưng không muốn dâng hiến cho Ngài và cho công việc Chúa vì nó đụng đến chỗ “nhạy cảm” nhất của lòng ham mê tiền bạc và của cải đời này! Khi chúng ta không dâng hiến 1/10 theo điều Chúa dạy là chúng ta đã phạm tội ăn trộm của Chúa vì đó là phần của Ngài (Ma-la-chi 3:8).

Có một số người đưa ra lập luận cho rằng dâng 1/10 là luật của Cựu Ước, chúng ta ngày nay sống trong thời Tân Ước thì không cần phải dâng 1/10. Có vài điểm chúng ta cần suy nghĩ thêm ở đây: (a) ý niệm dâng 1/10 có trước thời kỳ luật pháp của dân sự Đức Chúa Trời; (b) Chúa Jesus đến để làm trọn luật pháp (Ma-thi-ơ 5:17); và (c) người tin Chúa Jesus bị đòi hỏi sống trổi hơn những người sống trong thời luật pháp Cựu Ước (Ma-thi-ơ 5:20). Giới Pha-ra-si và thầy thông giáo ngày xưa xem việc dâng 1/10 là điều hệ trọng (Lu-ca 18:12) thì ngày nay Cơ-đốc nhân ngày nay phải có đời sống công bình “trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si” (Ma-thi-ơ 5:20). Ngoài ra, sứ đồ Phao-lô khuyên tín hữu Cô-rinh-tô phải dâng hiến “tùy theo lòng mình đã định” (2 Cô-rinh-tô 9:7b). Điều này không có nghĩa là sự dâng hiến của Cơ-đốc nhân không có quy định theo nguyên tắc của Đức Chúa Trời đưa ra vì “chính Đức Chúa Trời cảm động anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt của Ngài” (Phi-líp 2:13). Và Đức Chúa Trời chẳng bao giờ cảm động lòng con cái Chúa làm điều ngược lại với sự dạy dỗ của Ngài cả. Chỉ có tư dục trong chúng ta xui khiến chúng ta làm điều trái ý Ngài và cho rằng đó là ý Chúa mà thôi! Sứ đồ Phao-lô luôn khích lệ con cái Chúa dâng hiến vì Ngài là Đấng giàu có, sự ban cho của Ngài phỉ phu để đủ cho nhu cầu chúng ta và còn dư thừa để phục vụ Chúa và anh em (1 Cô-rinh-tô 9:8).

Khi chúng ta đắc thắng trong đời sống thuộc linh, đó là lúc chúng ta dễ dàng bị rơi vào thách thức và sự cám dỗ vô cùng mãnh liệt để có thể phạm tội với Chúa. Sứ đồ Phi-e-rơ nói rằng ma quỷ như “sư tử rống” luôn luôn theo dõi và chực sẵn để cám dỗ Cơ-đốc nhân phạm tội với Chúa. Vì thế, con người đức tin là người phải có tư tưởng sống tuyệt đối cho Đức Chúa Trời và chống trả ma quỷ trong mọi hình thức. Chúng ta đang sống trong thế giới đầy dẫy sự cám dỗ về vật chất, rất dễ cho chúng ta bị thế gian xâm nhập đời sống tâm linh và dần dà xa Chúa, muốn sống dung hòa với tiêu chuẩn thế gian và nương dựa nơi quyền lực của thế gian để phục vụ Chúa và theo Ngài.

Thursday, July 24, 2014

LÒNG CAO THƯỢNG CỦA CON NGƯỜI ĐỨC TIN

Sáng-thế ký (Genesis) 14:1-16

Có một người thoát được chạy đến báo điều đó cùng Áp-ram, là người Hê-bơ-rơ. Áp-ram ở tại lùm cây dẻ bộp của Mam-rê, là người A-mô-rít, anh của Ếch-côn và A-ne; ba người nầy đã có kết-ước cùng Áp-ram. Khi Áp-ram hay được cháu mình bị quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình, mà đuổi theo các vua đó đến đất Ðan. Ðoạn Áp-ram chia bọn đầy tớ mình ra, thừa ban đêm xông hãm quân nghịch, đánh đuổi theo đến đất Hô-ba ở về phía tả Ða-mách. Người thâu về đủ hết các tài vật mà quân giặc đã cướp lấy; lại cũng dẫn cháu mình, là Lót cùng gia tài người, đờn bà và dân chúng trở về (14:13-16 BPT)

Dưỡng linh:

Sau khi rời bác là Áp-ram, Lót tự tạo nên cuộc đời của mình trong chốn Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Trước mắt, dường như Lót là một người thành công so với bác. Lót đã “ăn nên làm ra.” Đó là tóm tắt cuộc đời xa lìa đất hứa của Lót. Tuy nhiên, cuộc đời không luôn luôn đối xử tốt với Lót giống ông tưởng! Thình lình chiến tranh xảy đến vì các vua chư hầu trong vùng phản loạn với vua Kết-rô-Lao-me. Tình thế cuộc sống Lót theo đó cũng bị thay đổi. Cuộc sống trở nên bấp bênh và hiểm họa đang chờ đón ông và gia đình. Cuối cùng Lót bị giặc bắt đem đi cùng với hết thảy gia tài người. Kinh Thánh ghi lại những chi tiết này cho chúng ta thấy việc chọn lựa của Lót không phải là theo ý muốn của Chúa mà là ý riêng của ông. Vì thế, chỉ trong chốc lát Lót đã bị mất tất cả những gì mình có! Đó là điều Lót chẳng bao giờ suy nghĩ đến khi chọn rời Áp-ram để sống tại Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Trong khi đó, cuộc sống Áp-ram vẫn trôi qua trong bình dị nhưng rất an bình và chắc chắn vì chính Chúa đã chọn cho ông sản nghiệp này.

Người ta chạy báo tin cho Áp-ram là bác ruột của Lót. Khi nghe tin ấy, Áp-ram đã làm gì? Kinh Thánh ghi lại như sau: “Khi Áp-ram hay được cháu mình bị quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình, mà đuổi theo các vua đó đến đất Ðan.” Tất cả những gì tập luyện lâu nay, Áp-ram bắt đầu đem ra sử dụng để giải cứu Lót là cháu mình. Mặc dầu Lót đã bỏ bác ra đi, giành lấy phần tốt hơn trong đời này cho mình, nhưng không vì đó mà Áp-ram trở nên cay đắng và sanh lòng ghen ghét. Ngược lại, khi nghe tin cháu bị nạn, Áp-ram sẵn sàng mang quân đi ra đánh giặc để giải cứu cháu. Biết đâu chừng, qua hành động này của mình, Áp-ram hy vọng Lót sẽ có cơ hội quay trở lại con đường chánh đáng. Đối với Áp-ram, vật chất không quan trọng bằng tình nghĩa bác-cháu và Lót còn sống là quý hơn tất cả mọi sự. Thật là một gương vô cùng cao đẹp. Tại sao Áp-ram làm được điều này?
1.      Áp-ram tin Đức Chúa Trời cách chân thật. Ông tin rằng Chúa đã ban cho ông điều tốt nhất nên ông không cần phải ganh tị và ghen ghét người khác vì sự chọn lựa của họ có phần hơn mình. Vì thế, khi Lót bị hoạn nạn, Áp-ram không quan tâm gì khác hơn việc làm thế nào để bày tỏ tình thương và trách nhiệm của mình đối với cháu. Không biết từ ngày Lót ra đi, chúng ta không rõ lòng của Lót thấy thương nhớ và biết ơn bác như thế nào? Nhưng đối với Áp-ram, hình ảnh của Lót chẳng bao giờ phai nhòa trong tâm trí và tấm lòng của ông. Cho nên, bằng mọi giá, khi nghe tin Lót cùng với gia đình bị giặc bắt, Áp-ram muốn ra tay cứu độ ngay lập tức. Áp-ram đã đi một bước trước, đưa cho Lót một “cành olive” để mang Lót trở lại. Ông hành động vì tình thương và tình thương che đậy vô số tội lỗi!

2.      Áp-ram sẵn lòng tha thứ sự ngu dại của cháu mà đem cháu trở lại. Nếu Áp-ram không còn tình thương gì đối với cháu, chắc rằng ông chỉ có thể bày tỏ qua loa, sơ sài đối với cháu chứ không hết lòng yêu thương giải cứu cháu như đã làm. Ông sẽ bỏ mặc hầu cho Lót học biết điều sai trái do mình gây ra. Nhưng Áp-ram là con người đức tin đã không hành xử tầm thường như thế. Chính hành động cao thượng này của Áp-ram chắc hẳn sẽ chinh phục được lòng của Lót và mở cho cháu một con đường quay trở lại với bác. Hơn thế nữa, Áp-ram là người được Chúa chọn để trở nên nguồn phước cho mọi người. Lời hứa này được bày tỏ qua hành động này của Áp-ram. Đó là điều tác giả sách Sáng-thế ký muốn nhấn mạnh đến. Đức Chúa Trời đã giang tay ra chúc phước cho cuộc đời của Áp-ram. Nay, Ngài dùng ông để chúc phước cho người khác. Để có thể trở thành ống dẫn ơn phước của Chúa. Muốn như thế, chính Áp-ram phải chiến thắng kẻ thù vĩ đại đó là chính con người của mình, không phải là các vua!

Áp-ram đã dạy chúng ta những gì qua câu chuyện này? Việc chúng ta chọn lựa những gì trong đời sống này chắc chắn có một ngày chúng ta sẽ gặt lấy kết quả những gì chúng ta gieo ra, giống như trong trường hợp của Lót và của Áp-ram. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian. Nếu chúng ta theo Chúa mà chỉ chăm về lợi đời này thì có lúc chúng ta sẽ thất vọng hoàn toàn. Đức Chúa Trời sẽ cho phép những điều bất như ý xảy đến để bởi đó khiến chúng ta phải quay lại với Ngài và với anh em mình.

“Ăn miếng trả miếng” là nguyên tắc sống của người thế gian, vì họ không có đức tin nơi Đức Chúa Trời và cũng không tin có đời sau. Nhưng Cơ-đốc nhân sống theo một nguyên tắc và hành xử mọi sự hoàn toàn khác. Đời sống Cơ-đốc nhân bị chi phối hoàn toàn bởi đức tin đặt nơi Đức Chúa Trời hằng sống. Chính vì đức tin này, Cơ-đốc nhân không cần phải ganh đua với ai, ghen ghét ai, trả thù ai cả. Họ biết rằng Chúa biết tất cả mọi sự và Ngài báo trả mỗi người tùy theo công việc mỗi người đã làm. Sứ đồ Phao-lô khuyên dạy tín hữu Rô-ma như sau: “Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng. Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người. Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác” (Rô-ma 12:19-21).

Rất dễ cho chúng ta cảm thấy sung sướng và vui mừng khi thấy kẻ thù hay người làm hại chúng ta bị rơi vào cảnh hoạn nạn, bịnh tật… Nhưng người có đức tin và sống với đức tin nơi Đức Chúa Trời sẽ có một đời sống cao thượng, sẵn sàng tha thứ và yêu thương người đã làm hại mình. Mặc dầu người khác làm hại mình, nhưng khi kẻ thù lâm vào cảnh cùng khốn, hoạn nạn thì chúng ta phải bày tỏ mình là một người tin cậy Đức Chúa Trời, ra tay cứu giúp họ. Chính thái độ và lối hành xử này sẽ đem kẻ thù chúng ta trở lại với chúng ta và với Chúa. Chắc chắn rằng Đức Chúa Trời phù hộ và ban ơn cho những kẻ có lòng ngay thẳng và bao dung đối với mọi người vì chính mình cũng là một tội nhân như họ nhưng được Chúa mở mắt và thương xót. Đức Chúa Trời chọn và ban phước trên cuộc đời chúng ta để chính chúng ta trở thành ống dẫn ơn phước của Đức Chúa Trời cho người khác. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể được Chúa dùng khi chúng ta nhờ ơn Chúa đắc thắng chính con người tầm thường và hèn hạ của mình.

Thursday, July 17, 2014

SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA CON NGƯỜI ĐỨC TIN

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 13:1-18

Áp-ram ở Ê-díp-tô dẫn vợ cùng các tài vật mình và Lót đồng trở lên Nam phương. Vả, Áp-ram rất giàu có súc vật, vàng và bạc. người vừa đi vừa đóng trại, từ Nam phương trở về Bê-tên và A-hi, là nơi đã lập một bàn thờ lúc trước. Ở đó Áp-ram cầu khẩn danh Ðức Giê-hô-va. Vả, Lót cùng đi với Áp-ram, cũng có chiên, bò, và trại. Xứ đó không đủ chỗ cho hai người ở chung, vì tài vật rất nhiều cho đến đỗi không ở chung nhau được. Trong khi dân Ca-na-an và dân Phê-rê-sít ở trong xứ, xảy có chuyện tranh giành của bọn chăn chiên Áp-ram cùng bọn chăn chiên Lót (13:1-7)

Dưỡng linh:

Con người của đức tin (man of faith) không hẳn là không bao giờ sai lầm. Nhưng Đức Chúa Trời dủ lòng thương xót bảo vệ và giải cứu ra khỏi nguy cơ của sự sụp đổ hoàn toàn. Rời Ai-cập, Áp-ram cùng gia đình trở lên hướng Nam Phương. Ra đi mà lòng Áp-ram ôm theo một nỗi sầu thảm vì thất bại ê chề, không sống đến mức mà Đức Chúa Trời mong đợi nơi mình. Tuy nhiên, đây là một kinh nghiệm vô cùng quý báu cho Áp-ram để ông hiểu mình nhiều hơn và hiểu Chúa rõ hơn. Trước khi đi xuống Ai-cập và ngay cả trong những tháng ngày sống tại Ai-cập, Áp-ram chẳng hề thiết lập bàn thờ để cầu khẩn Đức Chúa Trời của mình. Đó chính là nguyên do của sự thất bại của con người đức tin này. Nay, khi quay trở lại Nam Phương, và khi đi đến vào giữa khoảng Bê-tên và A-hi, Áp-ram thiết lập lại sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Vì thiếu sự thờ phượng Chúa nên chỉ gây ra sự đổ vỡ và thất bại cho đời sống tâm linh và gia đình Áp-ram. Cũng chính nhờ sự gặp gỡ Chúa trong sự thờ phượng này đã giữ lòng và ý tưởng Áp-ram trong đường lối của Chúa và giao ước mà Ngài thiết lập với ông.

Nhờ vụ việc của Sa-rai mà gia đình của Áp-ram, trong đó bao gồm cả Lót đã trở nên giàu có hẳn ra: “Vì cớ người [Sa-rai], nên Pha-ra-ôn hậu đãi Áp-ram, và Áp-ram được nhiều chiên, bò, lừa đực, lừa cái, lạc đà, tôi trai và tớ gái” (12:16). Nhưng cái giàu này chẳng lấy gì làm thích thú. Chính nó đã đóng góp trong việc gây ra sự đổ vỡ trong mối quan hệ bác cháu. Sau khi ông nội qua đời tại Cha-ran, sống với bác Áp-ram, Lót chứng kiến hết các tình tiết của vụ việc xảy ra tại Ai-cập. Chắc hẳn để lại trong tâm trí đứa cháu này một hình ảnh không mấy gì đẹp đẽ về đời sống đức tin của ông bác! Vì thế, khi sự xung đột giữa bác cháu xảy ra, Lót cũng chẳng còn bao nhiêu kính trọng để hành động xem ra là phải biết “kính trên nhường dưới” của một đứa cháu đối với bác. Tất cả mọi sự xảy ra đều có nguyên nhân sâu xa của nó: thiếu lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời của Áp-ram. Lúc ban đầu Áp-ram chưa thấy được hậu quả của hành động mình gây ra. Nhưng rồi thời gian đem mọi sự ra trong ánh sáng và phơi bày tất cả. Áp-ram muốn hay không muốn đều phải đối diện với hậu quả của việc mình đã làm. Thật vô cùng đáng tiếc phải không?

Xung đột là điều tất yếu phải có trong mọi cuộc đời và mọi nơi chốn, nhất là trong vòng những người thuộc cùng giao ước của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, điều quan trọng là phương cách giải quyết xung đột như thế nào mới là điều đáng phải học. Chúng ta thấy khi việc không vui xảy ra giữa hai bác cháu, Áp-ram đã có một lối hành xử bày tỏ sự ăn năn sâu xa trong sự việc đã xảy ra tại Ai-cập. Nay ông muốn chuộc lại mọi lỗi lầm. Điều đó được bày tỏ qua những điểm sau đây:

1.      Áp-ram quan tâm đến danh Chúa và tình cảm con người với nhau hơn là ai đúng ai sai. Chúng ta hãy nghe Áp-ram nói với Lót: “Chúng ta là cốt nhục, xin ngươi cùng ta chẳng nên cãi lẫy nhau và bọn chăn chiên ta cùng bọn chăn chiên ngươi cũng đừng tranh giành nhau nữa” (13:9). Nguyên do Áp-ram hành xử như thế vì: “Trong khi dân Ca-na-an và dân Phê-rê-sít ở trong xứ, xảy có chuyện tranh giành của bọn chăn chiên Áp-ram cùng bọn chăn chiên Lót” (13:8). Áp-ram nói rằng chẳng có gì đẹp đẽ khi có sự xung đột và làm cho lớn chuyện trước sự chứng kiến của những giống dân không thuộc về giao ước của Đức Chúa Trời! Áp-ram bằng lòng gác bỏ tự ái, quyền lợi, và ngay cả lý lẽ nữa để giữ cho danh Chúa được cả sáng và tình cảm đừng sứt mẻ. Áp-ram không ngồi đó để kể công với Lót mình là người đã cưu mang, lo cho Lót từ lúc còn nhỏ v.v… Áp-ram có trăm ngàn lý lẽ để nói rằng mình đúng, mình phải chứ. Nhưng vì Áp-ram xem trọng danh Chúa hơn danh mình, ông bằng lòng gác qua mọi tự ái để giải quyết vấn đề cho êm đẹp. Tại Ai-cập, Áp-ram đã kinh nghiệm chuyện danh Chúa bị tổn thương ra làm sao đối với một ông vua dân ngoại bang, và sự sỉ nhục mình phải gánh lấy vì hành động ngu dại của mình gây ra. Nay Áp-ram muốn chuộc lại lỗi lầm và bày tỏ sự ăn năn chân thật. Đây là dấu hiệu trưởng thành của con người đức tin Áp-ram.

2.      Áp-ram dùng đức tin để giải quyết vấn đề xung đột. Áp-ram có quyền để chọn trước nhưng ông nhường quyền đó cho Lót. Tại sao? Vì ông học bài học vô cùng thấm thía của việc xuống Ai-cập vì quá lo cho cuộc sống vật chất của mình rồi chẳng được chi. Chỉ tổ mang lại sự đau khổ và sỉ nhục! Nay, ông muốn để Chúa chọn cho mình thì quý hơn hết vì Ngài là “kỷ phần” và “gia sản” của ông. Trước đây, Áp-ram dùng sự khôn ngoan riêng để toan tính cho mình. Bây giờ, ông xin để cho Chúa tính cho ông thì tốt hơn nhiều. Thật đúng như thế! Phần của Lót chọn trước mắt thấy là tốt đẹp và đầy hứa hẹn cho tương lai. Nhưng về sau mọi vinh hoa phú quý đời này tiêu tan ra mây khói (13:10-13). Còn phần Đức Chúa Trời chọn cho Áp-ram, trước mắt thấy dường như chẳng có gì. Nhưng sau còn lại mãi mãi (13:14-17). Đây là dấu hiệu khôn ngoan của con người đức tin Áp-ram.

Động cơ thúc đẩy mọi hành vi và quyết định của Cơ-đốc nhân chính là đức tin nơi Đức Chúa Trời Hằng Sống. Khi chúng ta xa rời niềm tin này như là cái neo của linh hồn, dong ruổi trong con đường của ý muốn riêng mình, chúng ta sẽ nếm trải bao nhiêu nỗi đắng cay của cuộc đời và tạo ra biết bao xung đột trong đời sống, từ cá nhân, gia đình, và cho đến trong hội thánh của Đức Chúa Trời. Của cải vật chất là sự ban cho của Chúa. Tuy nhiên, nếu do hành động bất chính mà có được của cải, tài sản thì của đó gọi là “của hoạnh tài” và “của phi nghĩa” không do mồ hôi nước mắt mình làm ra. Trước sau gì nó cũng có cánh mà bay. Đức Chúa Trời có cách để thổi bay tung tóe khắp nơi. Cuối cùng chúng ta cũng chẳng còn được gì. Người có đức tin nơi Đức Chúa Trời chẳng bao giờ kể công với người khác, chẳng bao giờ đòi hỏi hay chứng minh rằng mình đã từng làm ơn cho kẻ này người kia điều này điều nọ. Người đó sẽ để cho Đức Chúa Trời hành xử mọi sự và chỉ làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời hầu danh Ngài được vinh hiển. Khi chúng ta rơi vào sự khủng hoảng của đời sống đức tin và còn non trẻ trong đức tin, mặc dầu tuổi đời có nhiều, chức vụ có cao đi chăng nữa, thì chúng ta cũng vẫn hành xử cách ngu dại và nông nổi, gây ra đổ vỡ, bất hòa, và gây sỉ nhục cho danh Chúa. Khôn và dại không nằm trong tuổi đời và kinh nghiệm sống nhưng tuỳ thuộc vào sự hiểu biết Chúa lòng kính sợ Ngài hay không. Bài học của Áp-ram tuy cũ nhưng vẫn mới luôn luôn cho tất cả những ai muốn sống đời nhơn đức và tin cậy Đức Chúa Trời Hằng Hữu.

Thursday, July 10, 2014

HIỂM HOẠ TRONG HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN

Kinh thánh: Sáng thế ký (Genesis) 12:10-20

Bấy giờ, trong xứ bị cơn đói kém; sự đói kém ấy lớn, nên Áp-ram xuống xứ Ê-díp-tô mà kiều ngụ. Khi hầu vào đất Ê-díp-tô, Áp-ram bèn nói cùng Sa-rai, vợ mình, rằng: Nầy, ta biết ngươi là một người đờn bà đẹp. Gặp khi nào dân Ê-díp-tô thấy ngươi, họ sẽ nói rằng: Ấy là vợ hắn đó; họ sẽ giết ta, nhưng để cho ngươi sống. Ta xin hãy xưng ngươi là em gái ta, hầu cho sẽ vì ngươi mà ta được trọng đãi và giữ toàn mạng ta. Áp-ram vừa đến xứ Ê-díp-tô, dân Ê-díp-tô nhìn thấy người đờn bà đó đẹp lắm. Các triều thần của Pha-ra-ôn cùng thấy người và trằm-trồ trước mặt vua; đoạn người đờn bà bị dẫn vào cung Pha-ra-ôn. Vì cớ người, nên Pha-ra-ôn hậu đãi Áp-ram, và Áp-ram được nhiều chiên, bò, lừa đực, lừa cái, lạc đà, tôi trai và tớ gái. Song vì Sa-rai, vợ Áp-ram, nên Ðức Giê-hô-va hành phạt Pha-ra-ôn cùng nhà người bị tai họa lớn. Pha-ra-ôn bèn đòi Áp-ram hỏi rằng: Ngươi đã làm chi cho ta vậy? Sao không tâu với ta rằng là vợ ngươi? Sao đã nói rằng: người đó là em gái tôi? nên nỗi ta đã lấy nàng làm vợ. Bây giờ, vợ ngươi đây; hãy nhận lấy và đi đi. Ðoạn, Pha-ra-ôn hạ lịnh cho quan quân đưa vợ chồng Áp-ram cùng hết thảy tài vật của người đi.

Dưỡng linh:

Trong phân đoạn trên (Sáng 12:1-9), Áp-ram hiện ra trước mắt chúng ta như một anh hùng đức tin. Ông đã rủ bỏ tất cả những mối liên hệ trong đời sống, trừ mối quan hệ với vợ, chấp nhận chương trình của Đức Chúa Trời cho mình và dòng dõi mình để ra đi “mà không biết mình đi đâu” (Hê 11: 8). Khi đọc lại những điều này, có lẽ chúng ta thấy việc làm của Áp-ram quá dễ dàng cho đến khi chúng ta đặt chính mình trong hoàn cảnh của ông. Trong hành trình của đức tin, Áp-ram đã bày tỏ mối quan hệ gắn bó với Đức Chúa Trời qua việc lập bàn thờ để thờ phượng Ngài trong những chỗ tạo nên khúc quanh quan trọng của đời sống (Sáng 12:7, 8). Dường như chúng ta thấy rất khó cho Áp-ram có thể xoay hướng khỏi Đức Chúa Trời để bước đi theo ý riêng một khi đã nghe được tiếng phán của Chúa cách rõ ràng, mạnh mẽ và dứt khoát. Nhưng trên thực tế không hẳn như vậy.

Qua phân đoạn kinh văn này, chúng ta thấy Áp-ram, anh hùng đức tin, đã một bước xa rời khỏi ý muốn của Đức Chúa Trời vì toan tính theo ý riêng. Nguyên nhân đã tạo nên tình huống này là Đức Chúa Trời đã cho cơn đói kém xảy ra để thử nghiệm đức tin của Áp-ram, người đã một lần dường như rất mạnh mẽ và bày tỏ qua mối quan hệ vô cùng keo sơn với Ngài. Đức tin luôn luôn phải có sự thử nghiệm để biết bản chất thật của nó và làm cho nó vững mạnh hơn. Không có gì bảo đảm rằng Áp-ram là người đã từng được Chúa ban cho lời hứa và ký thác vào trong đời sống của ông cả một chương trình tuyệt vời của Ngài, ông được miễn nhiễm khỏi tất cả hiểm họa của sự sa ngã. Rõ ràng rằng tại đây, Áp-ram đã bị rơi vào sự hụt hẩng của đức tin tạo nên bởi cơn xoáy của sự khủng hoảng lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Áp-ram đã một lần dám bỏ mọi sự để bước theo tiếng phán của Chúa. Nhưng tại đây ông đã ngã quỵ dưới sức cám dỗ của lòng lo lắng về đời sống vật chất. Thật mâu thuẫn và nghịch lý phải không? Nhưng đó là nguyên lý vận hành trong bản tánh xác thịt của con người thuộc dòng dõi sa ngã của A-đam.

Mất lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời không bao giờ chịu ngừng lại tại một điểm nào đó trong cuộc sống của Áp-ram. Nó dẫn Áp-ram đi xa hơn điều ông có thể tưởng tượng ra được và kéo theo bao nhiêu điều phiền toái khác trong đời sống hôn nhân và gia đình. Từ chỗ mất lòng tin cậy Chúa trong lãnh vực vật chất, Áp-ram muốn cứu lấy bản thân mình và đành đoạn để vợ mình cho người khác “sử dụng” mà không hề cảm thấy áy náy chút nào! Dường như tình yêu và lòng chung thủy của Áp-ram đối với Sa-rai đã bị nỗi lo lắng về đời này giết chết. Chẳng ai có tưởng tượng ra nổi một anh hùng đức tin vừa chiến thắng trên đỉnh núi mà nay lại suy bại đến mức tận cùng của nó! Sự sa bại này có thể không bộc phát mãnh liệt ra bên ngoài cho người ta xem thấy nhưng trước đó đã gậm nhấm và ăn ruồng bên trong con người của Áp-ram. Đó là điều khó nhận ra manh nha của nó và đó là điều đáng cho chúng ta ghê sợ.  

Đối với vợ, Áp-ram sẵn sàng đem Sa-rai ra để đánh đổi lấy mạng sống của mình. Còn đối với vua thế gian, Áp-ram đem niềm tin ra để đánh đổi. Áp-ram thấy uy quyền của Pha-ra-ôn lớn hơn Đức Chúa Trời mà ông đã từng một lần đặt trọn niềm tin của mình nơi Ngài. Chính vì thế, Áp-ram sẵn sàng nói dối Sa-rai chỉ là em gái để cứu lấy mạng sống của mình. Tình thật đây là sự thật nửa vời. Có lẽ Áp-ram muốn đưa ra lập luận theo lý lẽ bình thường của con người thì cũng chiếm phần thắng phần nào trong đó. Nhưng đối với lương tâm thì ông hoàn toàn đầu hàng vô điều kiện, chưa kể là đối với Chúa nữa là khác. Để đổi lấy lại việc bằng lòng đem “bán vợ” và “bán lương tâm,” Áp-ram đã nhận được nhiều của cải của đời này: “Vì cớ người [Sa-rai], nên Pha-ra-ôn hậu đãi Áp-ram, và Áp-ram được nhiều chiên, bò, lừa đực, lừa cái, lạc đà, tôi trai và tớ gái.” Nhưng rồi những thứ trần gian ban cho cũng là nguyên nhân gây ra sự phân rẽ giữa Áp-ram và Lót sau này (Sáng 13:1-7). Hơn nữa, vì Áp-ram mà Đức Chúa Trời đã hình phạt vua Pha-ra-ôn cùng nhà người. Lời hứa mà Đức Chúa Trời ban cho Áp-ram trở thành nguồn phước nay đã hoàn toàn ngược lại khi Áp-ram đi ra khỏi ý muốn và chương trình tốt lành của Ngài dành cho ông. Đức tin của Áp-ram chắc chắn phải trải qua nhiều nỗi gian truân để luyện lọc và làm cho quân bình hơn. Dầu vậy, rõ ràng rằng cái giá mà Áp-ram phải trả thì quá đắt so với những gì ông nhận được trong đời này!

Những lúc chúng ta đắc thắng và mạnh mẽ trong đức tin là lúc chúng ta dễ bị rơi vào trong hiểm họa của sự sa bại trong cùng một thể loại của sự sa ngã. Trong bản chất sa ngã thừa hưởng từ nơi A-đam và Ê-va, có những lúc con người chúng ta hành động xu hướng về một phía; rồi lại có lúc hành động ngược lại hoàn toàn, giống như quả lắc của chiếc đồng hồ treo tường. Trong bản tánh yếu đuối này, có lúc con người chúng ta cực lực lên án hành động mà chính mình lại làm hành động đó. Con người của đức tin cần có thời gian bước đi với Đức Chúa Trời trong đời sống tin cậy và chịu rèn tập, có một ngày đời sống tâm linh sẽ đạt đến mức quân bình thuộc linh. Sự quân bình thuộc linh này sẽ là kết quả chung của kinh nghiệm sống của cuộc đời và sự nhận biết quy luật hành động Đức Chúa Trời trong cuộc sống con người.

Thursday, July 3, 2014

SỰ ĐÁP ỨNG CỦA ĐỨC TIN

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 12:1-9

Vả, Ðức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước. Rồi Áp-ram đi, theo như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dạy; Lót đồng đi với người. Khi Áp-ram ra khỏi Cha-ran, tuổi người được bảy mươi lăm. Áp-ram dẫn Sa-rai, vợ mình, Lót, cháu mình, cả gia tài đã thâu góp, và các đầy tớ đã được tại Cha-ran, từ đó ra, để đi đến xứ Ca-na-an; rồi, chúng đều đến xứ Ca-na-an. Áp-ram trải qua xứ nầy, đến cây dẻ bộp của Mô-rê, tại Si-chem. Vả, lúc đó, dân Ca-na-an ở tại xứ. Ðức Giê-hô-va hiện ra cùng Áp-ram mà phán rằng: Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất nầy! Rồi tại đó Áp-ram lập một bàn thờ cho Ðức Giê-hô-va, là Ðấng đã hiện đến cùng người. Từ đó, người đi qua núi ở về phía đông Bê-tên, rồi đóng trại; phía tây có Bê-tên, phía đông có A-hi. Ðoạn, người lập tại đó một bàn thờ cho Ðức Giê-hô-va và cầu khẩn danh Ngài. Kế sau, Áp-ram vừa đi vừa đóng trại lần lần đến Nam phương.

Dưỡng linh:

Sau khi Tha-rê qua đời, cuộc sống của Áp-ram có nhiều thay đổi. Sống tại Cha-ran một thời gian, Áp-ram nghe tiếng Chúa phán bảo đi xuống xứ Ca-na-an. Chúng ta không hiểu Đức Chúa Trời phán với Áp-ram cách nào? Nhưng chắc chắn rằng tiếng phán của Chúa phải rất rõ ràng, mạnh mẽ và đầy sức thuyết phục, đã làm chuyển động cả một cuộc đời ở cái tuổi 75! Tiếng phán đó mang theo trong nó cả một kế hoạch của Đức Chúa Trời cho một cuộc đời, đưa đến sự thay đổi; và rồi qua con người đó, Đức Chúa Trời tạo dựng nên cả một dân tộc cho mục đích cứu chuộc đời đời của Ngài. Để có thể thực hiện được chương trình của Đức Chúa Trời cho Áp-ram và dòng dõi của người, Ngài đòi hỏi Áp-ram phải có sự phân rẽ lớn lao nhất trong đời sống của ông và gia đình. Sự phân rẽ này được bắt đầu bằng một động từ vô cùng quan trọng: “hãy ra khỏi” (“go forth from”). Theo sau động từ này là một loạt biến động liên quan đến những yếu tố gắn bó các mối quan hệ và hình thành nên cuộc đời của Áp-ram trong suốt 75 năm: quê hương, bà con, cha mẹ. Tại đây Đức Chúa Trời bảo Áp-ram phải rủ bỏ tất cả những mối quan hệ này. Điều này tạo nên khúc quanh trong cuộc đời Áp-ram và chẳng bao giờ quay trở lại như xưa. Đây cũng là điều Chúa Jesus nhắc lại trong lời mời gọi những ai muốn theo Ngài: “Nếu có ai đến theo ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình, và chính sự sống mình nữa, thì không được làm môn đồ ta… Như vậy, nếu ai trong các ngươi không bỏ mọi sự mình có, thì không được làm môn đồ ta” (Lu-ca 14:26, 33).

Khi Áp-ram đáp ứng tại tiếng gọi của Chúa thì có sự phân rẽ ngay lập tức với những mối quan hệ của đời sống cá nhân. Con người chỉ cảm thấy cuộc sống an ninh khi mình được: (a) bảo đảm về tài chánh; (b) bảo đảm về sự tôn trọng; (c) bảo đảm về mối quan hệ gia đình. Bước đầu tiên Áp-ram phải học tập là buông bỏ sự bảo đảm an toàn cho chính cuộc sống của mình mà bước theo tiếng gọi và sự hướng dẫn của Chúa. Áp-ram từ bỏ kế hoạch riêng cho cuộc sống của mình và bắt đầu làm quen với kế hoạch của Đức Chúa Trời. Nếu Áp-ram không vượt qua khó khăn của chính mình mà thực hiện được điều này, chắc chắn rằng cuộc sống còn lại của ông chẳng có giá trị gì đối với Đức Chúa Trời; và Ngài cũng chẳng làm điều gì tốt lành cho chính đời sống của ông và dòng dõi ông. Bổn phận của Áp-ram là ra đi. Còn việc của Đức Chúa Trời là sẽ làm cho ông trở nên một dân lớn, sẽ ban phước cho ông; và Áp-ram sẽ thành một nguồn phước: Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ông, rủa sả kẻ nào rủa sả ông; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ông mà được phước. Đức Chúa Trời biến Áp-ram từ một con người tầm thường trở thành một con người vĩ đại, và mở rộng mối quan hệ của ông vượt ra khỏi phạm trù cá nhân và gia đình để bước vào mối quan hệ của cả thế gian!

Việc Áp-ram đáp ứng lại với tiếng phán và kêu gọi của Chúa để ra đi là một điều rất mầu nhiệm. Làm thế nào một con người sống ở tuổi 75 lại muốn thay đổi và chuyển hướng để làm lại cuộc đời như Áp-ram? Đây quả là một hành động vô cùng “táo bạo và liều lĩnh” của đức tin. Nó không chỉ là hành động đơn thuần của việc dọn nhà ra đi đến định cư một chỗ khác. Tác giả sách Hê-bơ-rơ nhìn vào chiều sâu của hành động của Áp-ram: “Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu. Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Ðức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” (11:8-10). Khi Áp-ram được Đức Chúa Trời chọn lựa và đem vào trong đời sống của ông kế hoạch của Đức Chúa Trời, thì Ngài cũng trồng vào trong ông một đức tin mãnh liệt để làm theo kế hoạch đó cách mầu nhiệm. Khi Áp-ram dám tin cậy Đức Chúa Trời thì Ngài cũng dám tin cậy ông để ký thác vào trong chính con người tầm thường này những gì cao cả và vĩ đại của Ngài. Kể từ đó, những gì Áp-ram làm, được Đức Chúa Trời kể là hành động của đức tin; và Ngài kể ông là công bình.

Phải chăng Đức Chúa Trời có quá ích kỷ hay tàn nhẫn đến nỗi đòi hỏi những người theo Ngài phải cắt bỏ mọi mối quan hệ máu mủ, ruột thịt của mình không? Đối với suy nghĩ con người, những lời này thật khó nuốt cho Áp-ram và cho mỗi Cơ đốc nhân trải qua các thời đại. Nhưng không có sự chọn lựa nào khác cho Áp-ram và cho những người muốn theo Chúa Jesus. Cơ đốc giáo không đòi hỏi con người làm gì khác hơn là từ khước tất cả những mối liên hệ mà chỉ giữ lại một mối liên hệ quan trọng hơn hết là giữa người đó với Đấng tạo dựng và cứu chuộc nên mình. Nhưng khi con người từ bỏ những mối liên hệ của con người, đặt nó xuống hàng thứ yếu, rồi tiếp nhận và để cho mối liên hệ với Đức Chúa Trời lên trên hết, thì con người tìm lại được tất cả những gì mình đã đánh đổi trong một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ và đầy thú vị. Chúa Jesus đưa ra nguyên tắc mà Ngài đã áp dụng cho chính mình: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất đi, ai ghét sự sống mình trong đời nầy thì sẽ giữ lại đến sự sống đời đời” (Giăng 12:25). Là những người nhỏ bé, yếu đuối và bất toàn, nếu chúng ta không dám tin cậy và ký thác đời sống chúng ta cho Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ chẳng bao giờ kinh nghiệm những việc lớn lao của Ngài làm trong và qua chúng ta. Theo Chúa Jesus không phải là nhìn nhận những gì Đức Chúa Trời đã làm cho mình trong Chúa Jesus, nhưng ký thác chính cuộc đời của mình cho Ngài để bắt đầu một cuộc hành trình phiêu lưu với Đức Chúa Trời trong từng khía cạnh của đời sống. Khi đó, chúng ta sẽ kinh nghiệm những điều lớn lao Chúa làm cho mình và dùng mình như là ống dẫn ơn phước của Ngài đến với những người chung quanh chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta sẽ chẳng bao giờ dám ký thác đời sống mình để bước đi với Ngài nếu chưa từng nghe tiếng Ngài phán cách rõ ràng, mạnh mẽ và đầy sức thuyết phục cho khối óc và con tim của chúng ta.