Wednesday, June 25, 2014

NHỮNG NỖI BẤT HẠNH TRONG ĐỜI

Kinh Thánh: Sáng-thế ký 11:27-32

Ðây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sanh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sanh Lót. Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-ru, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người là Tha-rê hãy còn sống. Áp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Áp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca; Minh-ca và Dích-ca tức là con gái của Ha-ran. Vả, Sa-rai son sẻ, nên người không có con. Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Áp-ram, tức dâu mình, đồng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran thì lập gia cư tại đó. Tha-rê hưởng thọ được hai trăm năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.

Dưỡng linh:

Tác giả Sáng-thế ký hai lần ký thuật về dòng dõi của Sem (10:21-30 và 11:10-32). Trong 10:21-30 tác giả vẽ ra một bức tranh chung của dòng dõi Sem. Trong 11:10-32, Môi-se tập chú vào một khía cạnh là dòng dõi của Hê-be mà từ đó ra Áp-ra-ham, tổ phụ dân Y-sơ-ra-ên. Như thế, điều ông muốn nhấn mạnh là trong dòng dõi thánh xuất hiện một nhân vật đặc biệt như Áp-ra-ham. Trong khi đó, dòng dõi Cham bị rủa sả và đi vào quên lãng theo dòng lịch sử... Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng ngay trong dòng dõi được Đức Chúa Trời chúc phước, họ không được miễn trừ những điều bất hạnh xảy đến trong cuộc đời tạm này. Trong phân đoạn Kinh Thánh ngắn ngủi này, có một vài chi tiết liên quan đến một số biến cố lôi cuốn sự chú ý của chúng ta như sau:

1/   Tha-rê là dòng dõi của Sem, sanh được ba con: Áp-ram, Na-cô và Ha-ran. Trong đó, Ha-ran là đứa con út lại lập gia đình trước hai anh là Áp-ra và Na-cô. Ha-ran sanh Lót. Cảnh cha già Tha-rê mà có được một đứa cháu nội trai chắc hẳn mang lại niềm vui cho cả gia đình. Nhưng rồi một ngày kia, một đám mây đen kéo đến bao phủ gia đình của Tha-rê trong khi niềm vui về sự ra đời của Lót vẫn chưa trọn. Ha-ran là đứa con út của Tha-rê qua đời, để lại con mình là Lót cho ông nội nuôi. Đây là cảnh “cha khóc con” thay vì “con khóc cha!” Nỗi bất hạnh này xảy ra nằm ngoài suy tính của gia đình Tha-rê. Có lẽ trong lúc này, ai nấy trong gia đình đều tự hỏi rằng tại sao điều này lại xảy ra cho gia đình thuộc dòng dõi tin kính Chúa như Sem? Đến lúc bấy giờ, chưa ai có thể tìm ra một câu trả lời thích đáng và hữu lý nhất cho sự cố quá đau buồn này.
2/   Sau đó biến cố trên, Áp-ram và Na-cô lập gia đình. Vợ của Áp-ram là Sa-rai; còn vợ của Na-cô là Minh-ca và Dích-ba, là hai con gái của Na-cô. Tuy nhiên, nỗi bất hạnh của cuộc đời vẫn không buông bỏ gia đình của Tha-rê. Áp-ram lập gia đình nhưng vợ lại bị son sẻ. Ngày xưa, điều này được xem như là dấu hiệu của sự rủa sả. Tại sao ngay trong gia đình của dòng dõi Sem là người kính sợ Chúa lại có điều này xảy ra? Đức Chúa Trời ở đâu trong những sự việc như thế này? Tại sao Ngài lại cho phép xảy ra? Điều này đi ngược lại với suy nghĩ của những người ngày xưa cũng như chúng ta ngày nay!
3/    Kế đến, chúng ta không hiểu vì lý do tại sao cả gia đình của Tha-rê phải di chuyển ra khỏi quê hương mình là U-rơ mà đi đến Cha-ran. Có lẽ vì cơn hạn hán càn quét qua xứ miền Nam nên Tha-rê cùng cả gia đình lên miền Bắc để đi tìm kế sinh nhai. Di chuyển cả một gia đình trong đó bao gồm con, dâu, cháu quả là một sự thay đổi rất lớn trong đời sống của Tha-rê. Khi đến Cha-ran, một biến cố khác xảy ra cho gia đình là Tha-rê qua đời! Có thể nói, sự ra đi của Tha-rê để lại một sự hụt hẩn và mất mác vô cùng lớn lao cho cả Áp-ram, Na-cô và con cháu của họ, nhất là Lót. Thế là Lót được bàn giao qua cho bác Áp-ram chăm sóc và nuôi dưỡng.

Tất cả những nỗi bất hạnh trên vẫn chưa tìm thấy được câu trả lời trong đời của họ. Tuy nhiên, sau này Giô-suê đã hé mở cho chúng ta một cái nhìn vào tận bên trong để hiểu lý do tại sao Đức Chúa Trời lại để cho những nỗi bất hạnh này xảy đến cho dòng dõi của Sem. Đó là “Giô-suê nói cùng cả dân sự rằng: Giê-hô-va Ðức Chúa Trời có phán như vầy: Tổ phụ các ngươi, là Tha-rê, cha của Áp-ra-ham, và Na-cô, thuở xưa ở phía bên sông, và hầu việc các thần khác. Nhưng ta chọn Áp-ra-ham, tổ phụ các ngươi, từ phía bên sông, khiến người đi khắp xứ Ca-na-an, ban Y-sác cho người, và làm cho dòng dõi người sanh sản nhiều thêm” (24:2-3). Qua câu Kinh Thánh này, chúng ta thấy rõ hai điều Đức Chúa Trời muốn làm cho dòng dõi của Sem tức là nhà của Tha-rê và Áp-ram:
  • Đức Chúa Trời muốn đem họ ra khỏi thế giới tội lỗi và sự thờ lạy thần tượng của người Canh-đê thời bấy giờ. Mặc dầu Tha-rê thuộc về dòng dõi tin Chúa của Sem nhưng từ thế hệ này sang thế hệ khác dần dà họ lìa bỏ Đức Chúa Trời và xoay qua thờ lạy thần tượng ngoại giáo. Nay Chúa muốn đem họ trở lại bằng cách để cho họ trải qua những hoàn cảnh bất như ý, đau khổ, mất mác hầu cho họ phải lìa bỏ nơi tội lỗi đi đến vùng đất hứa của Ngài ban cho dòng dõi của họ. 
  • Đức Chúa Trời muốn chọn Áp-ram là người ra từ dòng dõi của Sem để làm tổ phụ dân tộc thánh của Ngài. Đức Chúa Trời phải để Sa-rai son sẻ và rồi từ nơi con người già nua ở tuổi 90 đó, Ngài ban cho một Y-sác làm con của lời hứa. Đây quả là một vinh dự vô cùng lớn lao cho Áp-ram nói riêng và cho cả dòng dõi Sem nói chung. Để có thể đi đến chỗ này, Đức Chúa Trời dùng những biến cố xảy ra để làm nên chương trình tuyệt vời của Ngài. Đức Chúa Trời làm tất cả những điều này cho Áp-ham và cho nhà của Tha-rê chỉ vì lòng kính sợ và yêu mến Chúa của Sem. Thật, Đức Chúa Trời làm ơn đến ngàn đời cho kẻ yêu mến Ngài. 
Là kẻ được Đức Chúa Trời chọn lựa thuộc về Ngài, chúng ta tin chắc rằng Ngài có chương trình rất tốt đẹp và tuyệt vời cho mỗi chúng ta. Là con của lời hứa, chúng ta không hơn gì Áp-ra-ham để rồi được miễn trừ khỏi những nỗi bất hạnh xảy đến thình lình khi đi qua những năm tháng trong trần gian này. Nhưng Đức Chúa Trời bởi ơn thần hựu của Ngài thêu dệt tất cả những điều đó trở thành một bức tranh tuyệt đẹp về cuộc đời của mỗi chúng ta. Có thể khi những sự việc như thế này xảy ra: người thân yêu qua đời, bịnh tật nan y phải gánh chịu, hoàn cảnh khiến cuộc sống phải thay đổi v.v… chúng ta sẽ không hiểu tại sao những điều đó lại xảy đến với chúng ta? Nhưng rồi sau khi mọi sự qua đi và chúng ta nhìn lại mới thấy được bàn tay tuyệt vời của Ngài trong mọi sự. Đức Chúa Trời có thể dùng những nỗi bất hạnh trong đời sống để đem chúng ta ra khỏi chỗ mà Ngài thấy rằng có thể mang lại sự nguy hại cho đời sống thuộc linh chúng ta. Ngay cả Đức Chúa Trời cũng dùng những điều để qua đó Ngài chọn chúng ta làm một điều gì lớn lao hơn và tuyệt diệu cho chính Chúa và hội thánh của Ngài. Điều chúng ta phải làm và thái độ chúng ta phải có là cúi đầu đón nhận tất cả như món quà của tình yêu và ân sủng của Ngài. Đồng thời, cầu xin Chúa ban cho chúng ta niềm tin mãnh liệt ở nơi Ngài trong khi bước qua những ngày khó khăn, để rồi từ trong những ngày đen tối đó, chúng ta sẽ thấy được cả một chương trình tuyệt vời của Ngài cho chính mình, gia đình và hội thánh của Chúa.

Thursday, June 19, 2014

BIẾN CỐ THÁP BA-BÊN

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 11:1-9

Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng. Nhưng khi ở Ðông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó. Người nầy nói với người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ. Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất. Ðức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đương khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được. Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia. Rồi, từ đó Ðức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Ðức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.

Dưỡng linh:

Nim-rốt là tay anh hùng có danh và là người lập thành Ba-bên (Sáng-thế ký 10:10). Đây là khởi  điểm của sự sa bại nằm ẩn tàng bên trong dòng dõi Cham bị rủa sả. Nền văn minh của con người lúc bấy giờ tiếp tục phát triển cùng với sức mạnh đồng nhất của ngôn ngữ, giống như một loại vũ khí bách chiến bách thắng của con người. Kỷ nghệ làm gạch thay thế cho đá ra đời mang lại biết bao lợi nhuận và thuận lợi trong việc xây cất. Khi con người sống trong sự giàu có, tiện nghi về vật chất thì đời sống tâm linh bắt đầu suy bại. Sự hưng thịnh về vật chất cũng được xem như là dấu hiệu sự ban phước của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, đứng trước sự ban phước của Chúa thì mầm móng về sự kiêu ngạo và tìm kiếm hư vinh ẩn tàng trong loài người sa ngã bắt đầu xuất hiện và cựa quậy. Họ nói với nhau rằng: “Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.” Thay vì con người tập chú vào chính Đức Chúa Trời là Đấng ban cho mọi sự thì họ bắt đầu xoay hướng về chính mình và tìm kiếm vinh hiển cho chính mình. Đó là dấu hiệu của sự suy bại thuộc linh bên trong bộc lộ ra bên ngoài trong ngôn ngữ và việc làm!

Con người có thể tìm cách gạt bỏ Đức Chúa Trời khi mình trở nên giàu có và dư thừa vật chất. Nhưng Đức Chúa Trời chẳng bao giờ ngoảnh mặt khỏi con người: “Ðức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên.” Từ trên trời nhìn xuống, con người chỉ là tạo vật quá bé nhỏ đối với Đức Chúa Trời. Nhưng trong cái nhìn của mình, con người thấy mình rất lớn! Tất cả những hành động của con người không thể thoát khỏi cặp mắt theo dõi của Đức Chúa Trời. Chúa thấy mọi diễn tiến của sự việc và quyết định ra tay hành động dựa trên lòng nhơn từ và sự hiểu biết không chi dò được của Ngài: “Ðức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đương khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được. Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia.” Đức Chúa Trời ban cho con người quyền tự do và Ngài tôn trọng quyền đó của con người. Nhưng sự hành động của Đức Chúa Trời vượt trổi hơn sự suy nghĩ của con người và không bao giờ Ngài bị kẹt giữa những sự chọn lựa của con người dẫu cho đó là điều thiện hay điều ác. Đức Chúa Trời có cách để làm cho con người thất bại và phải đầu hàng ngay trong chính điều mà họ tưởng rằng họ có quyền làm theo ý muốn của mình. Đó là chính Chúa làm cho họ bị lộn xộn tiếng nói. Ngôn ngữ là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho con người. Nhưng khi con người sử dụng nó cách không phải lẽ và không mang lại sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời, Ngài có cách để xoay hướng nó về nơi khác để nó không còn là một công cụ hữu ích cho con người nữa.

Khi Đức Chúa Trời can thiệp cách siêu nhiên thì chẳng ai có thể trách cứ Ngài được. Khi Chúa cất đi những gì họ đang có và thay vào điều mà họ chẳng có thì lúc bấy giờ con người mới biết quý những gì mình có. Nhưng khi con người nhận chân ra được điều đó thì cũng đã quá trễ cho họ để quay trở lại. “Rồi, từ đó Ðức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Ðức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.” Tất cả những gì tính toan của con người trong chốc lát hoàn toàn thay đổi và bị phá hỏng bởi ý muốn của Đức Chúa Trời. Đây là sự thử nghiệm sức mạnh của ý chí con người. Trước ngọn lửa phán xét của Chúa, tất cả những ý chí sắt đá của con người cũng phải tan chảy và uốn cong theo một chiều hướng hoàn toàn khác. Đức Chúa Trời làm cho tan tạc, làm cho thôi công việc của họ, làm cho lộn xộn tiếng nói, và làm cho tản ra khắp đất… Con người chẳng thế nào cưỡng lại sức mạnh của Chúa. Một trong những điều nuối tiếc do tội lỗi gây ra là con người chẳng bao giờ có thể tìm lại được sự an toàn và cảm giác hạnh phúc mà trước đây họ từng chiếm hữu. Giờ đây cuộc sống của họ hoàn toàn thay đổi. Chẳng bao giờ trở lại như xưa. Trước mắt họ là một con đường họ chưa bao giờ từng bước đi. Đức Chúa Trời cũng còn thương xót con người để làm điều này thay vì tiêu diệt họ ngay. Đối với Chúa, chẳng thà con người phải trả một giá “đau khổ” khi đi tản lạc như thế còn hơn là cứ tiếp tục bước đi trong con đường ngu dại và lầm lạc của họ. Tại đây, con người thấm thía hai điều: (a) tội lỗi mang đến cho con người những gì; và (b) tình yêu của Đức Chúa Trời đối với con người là tạo vật của Ngài vô cùng phỉ phu. Đó là kinh nghiệm của tháp Ba-bên! Đã bao lần trong đời sống, chúng ta đi qua kinh nghiệm này?

Thursday, June 12, 2014

HẬU TỰ CỦA NÔ-Ê

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 10:1-32

Ðây là dòng dõi của Sem, Cham và Gia-phết, ba con trai của Nô-ê; sau khi lụt, họ sanh con cái.Con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra. Con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Ri-phát, và Tô-ga-ma. Con trai của Gia-van là Ê-li-sa và Ta-rê-si, Kít-sim và Ðô-đa-nim. Do họ mà có người ta ở tràn ra các cù lao của các dân, tùy theo xứ, tiếng nói, chi phái và dân tộc của họ mà chia ra (c. 1-5)
Con trai của Cham là Cúc, Mích-ra-im, Phút và Ca-na-an. Con trai của Cúc là Sê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma và Sáp-tê-ca; con trai của Ra-ê-ma là Sê-la và Ðê-đan. Cúc sanh Nim-rốt, ấy là người bắt đầu làm anh hùng trên mặt đất. Người là một tay thợ săn can đảm trước mặt Ðức Giê-hô-va. Bởi cớ đó, có tục ngữ rằng: Hệt như Nim-rốt, một tay thợ săn can đảm trước mặt Ðức Giê-hô-va! Nước người sơ-lập là Ba-bên, Ê-rết, A-cát và Ca-ne ở tại xứ Si-nê-a. Từ xứ đó người đến xứ A-si-ri, rồi lập thành Ni-ni-ve, Rê-hô-bô-ti, Ca-lách, Và thành Rê-sen, là thành rất lớn, ở giữa khoảng thành Ni-ni-ve và Ca-lách. Mích-ra-im sanh họ Lu-đim, họ A-na-mim, họ Lê-ha-bim, họ Náp-tu-him, họ Bát-ru-sim, họ Cách-lu-him (bởi đó sanh họ Phi-li-tin), và họ Cáp-tô-rim (c. 6-14)

Sem, tổ phụ của họ Hê-be và anh cả của Gia-phết, cũng có sanh con trai. Con trai của Sem là Ê-lam, A-sự-rơ, A-bác-sát, Lút và A-ram. Con trai của A-ram là U-xơ, Hu-lơ, Ghê-te và Mách. Còn A-bác-sát sanh Sê-lách; Sê-lách sanh Hê-be, Hê-be sanh được hai con trai; tên của một người là Bê-léc, vì đất trong đời người đó đã chia ra; trên của người em là Giốc-tan. Giốc-tan sanh A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết và Giê-rách, Ha-đô-ram, U-xa, Ðiếc-la, Ô-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba, Ô-phia, Ha-vi-la và Giô-báp. Hết thảy các người đó là con trai của Giốc-tan. Cõi đất của các người đó ở về phía Sê-pha, chạy từ Mê-sa cho đến núi Ðông phương. Ðó là con cháu của Sem, tùy theo họ hàng, tiếng nói, xứ và dân tộc của họ (c. 21-31)

Dưỡng linh:

Tác giả của Sáng-thế ký đoạn 10 ghi lại hậu tự của Nô-ê. Sau khi ông qua đời, ba người con tra của Nô-ê là Sem, Cham và Gia-phết tiếp tục sanh sản để lưu truyền nòi giống mang danh cha mình. Như chúng ta biết, qua sự việc Nô-ê khỏa thân sau cơn say, Sem và Gia-phết được Nô-ê chúc phước; còn Cham thì bị cha mình rủa sả. Chúng ta tự hỏi liệu những lời chúc phước và rủa sả này đã ảnh hưởng như thế nào trên chính Sem, Cham, và Gia-phết và cho đến cả dòng dõi của họ? Chính trong đoạn 10 tác giả Sáng-thế ký muốn ghi lại những chi tiết rất quan trọng để trả lời cho câu hỏi này. Quan sát kỹ phân đoạn Kinh Thánh này chúng ta thấy những điểm sau đây:

1/ Tác giả sách Sáng-thế ký ký thuật về dòng dõi của Cham nhiều hơn hai dòng dõi của Sem và Gia-phết cộng lại. Nếu tính ra thì số con cháu của Cham nhiều gấp mấy lần so với con cháu của Sem và Gia-phết.

2/ Không thấy tác giả Sáng-thế ký ghi lại, trong hai dòng dõi của Sem và Gia-phết, những nhân vật nổi tiếng và tài ba lỗi lạc, làm được nhiều điều vĩ đại, góp phần xây dựng nền văn minh của nhân loại thời bấy giờ như là dòng dõi của Cham. Chúng ta thấy trong dòng dõi Cham có những đặc điểm như sau:

a/ Sanh sản ra những anh hùng và người có tài. Chẳng hạn như Nim-rốt là người anh hùng trên mặt đất và là một tay thợ săn cam đảm “trước mặt Đức Giê-hô-va.” Đúng ra, cụm từ “trước mặt Đức Giê-hô-va” không nên hiểu rằng việc làm của Nim-rốt là được Đức Chúa Trời phê chuẩn hay chấp thuận. Nhưng nó có nghĩa Nim-rốt là một tay thợ săn tài giỏi nhất trong trần gian thì đúng hơn. Dẫu gì đi chăng nữa thì khả năng này của Nim-rốt do Chúa ban cho. Từ chỗ tài năng như thế đã dẫn Nim-rốt đến chỗ thiết lập nước mình, đặt tên là Ba-bên. Về sau, chính Nim-rốt là người thiết lập thành Ni-ni-ve.

b/ Sanh sản ra những giống dân như Phi-li-tin, Hếch là những dân tộc sau này làm đau khổ cho dân sự Đức Chúa Trời không xiết kể. Dân Phi-li-tin luôn luôn là giống dân thù địch với dân tộc thánh của Đức Chúa Trời là dân Y-sơ-ra-ên. Còn những đứa dâu họ Hếch, vợ của Ê-sau tạo nên cơn ác mộng cho vợ chồng của Y-sác. Chẳng những thế thôi, Ca-na-an là dòng dõi của Cham đã sanh ra không biết bao nhiêu thứ giống dân sau này Đức Chúa Trời phải bảo dân Y-sơ-ra-ên tuyệt diệt khi vào trong đất hứa Ca-na-an. Ngoài ra dân Ni-ni-ve đã ức hiếp dân sự của Đức Chúa Trời nhiều là dường nào!

Qua sự quan sát trên, chúng ta có thể rút ra một số bài học vô cùng quý báu cho chính mình, gia đình và hội thánh của Đức Chúa Trời. Cham và dòng dõi của ông bị rủa sả bởi Nô-ê nên từ trong dòng dõi này ra những nhân vật trở thành nỗi đau khổ cho dân sự Đức Chúa Trời và muôn đời là sự kinh tởm đối với Đức Chúa Trời. Mặc dầu trên một phương diện, từ trong dòng dõi của Cham xuất hiện những nhân vật rất tài ba lỗi lạc, đóng góp nhiều vào trong nền văn minh của nhân loại thời bấy giờ. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta nói rằng đó là dòng dõi được Đức Chúa Trời chúc phước. Trong khi đó, hai dòng dõi của Sem và Gia-phết không có những nhân vật tài giỏi và xuất chúng theo cái nhìn của đời này. Nhưng hai dòng dõi này lưu ra những con người có lòng yêu mến Đức Chúa Trời như Tu-banh v.v…

Thông thường con người đánh giá sự chúc phước của Đức Chúa Trời nằm trong sự tài giỏi và giàu có hơn là đời sống đạo đức của cá nhân hay gia đình người đó. Đó là một quan niệm hoàn toàn phiến diện. Có thể rằng khi chúng ta đi xa khỏi đường lối của Đức Chúa Trời và bị Ngài rủa sả, chúng ta vẫn thấy rằng cuộc sống của mình vẫn hanh thông, ăn nên làm ra, con cái thành đạt và trở nên giàu có về phần vật chất. Và chúng ta tự trấn an chính mình cho rằng đó là dấu hiệu Đức Chúa Trời ban phước và lần lần chúng ta thay thế nguyên tắc sống theo Lời Chúa bằng những nguyên tắc khôn ngoan của con người. Thậm chí, chúng ta thấy trong thực tế rằng những người gian ác, không yêu mến Chúa thì lại rất thành công và con cháu của họ rất thành đạt ở đời! Trong khi đó, những người yêu mến Chúa và sống theo Lời của Ngài thì lại bị rơi vào cảnh chật vật, nghèo khó, và thường hay gặp hoạn nạn. Đôi khi điều này khiến những người yêu mến Chúa có lúc phải nao núng, nghi ngờ Chúa và sanh ra chán nãn, lui đi trong đức tin nữa là khác.

Là con cái của sự sáng, chúng ta cần phải nhận chân ra lẽ thật rất quan trọng này. Ấy là đối với Đức Chúa Trời, sự chúc phước của Ngài chỉ giáng trên những ai sống kính sợ Đức Chúa Trời và làm theo Lời dạy dỗ của Ngài. Có thể rằng đối với đời này, những người yêu mến sẽ bị thiệt thòi hơn người khác. Nhưng về lâu về dài và suốt cả cõi đời đời, dòng dõi người công bình sẽ được Đức Chúa Trời chúc phước, còn dòng dõi kẻ ác sẽ bị diệt vong như dòng dõi của Cham. Vì thế, Cơ-đốc nhân đừng nên ngã lòng hay buồn chán vì so sánh thấy cuộc sống của mình không bằng cuộc sống của những người không tin Chúa hay tin Chúa nửa vời. Hãy tiếp tục tin cậy Chúa và làm điều lành thì cuối cùng những ai trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời sẽ tồn tại đời đời mãi mãi, và dòng dõi của những người đó được Ngài ban phước lâu dài. Tác giả Thi-thiên 92 chia sẻ kinh nghiệm của ông như sau: Người công bình sẽ mọc lên như cây kè, lớn lên như cây hương nam trên Li-ban. Những kẻ được trồng trong nhà Đức Giê-hô-va sẽ trổ bông trong hành lang của Đức Chúa Trời chúng ta. Dầu đến buổi già bạc, họ sẽ còn sanh bông trái, được thạnh mậu và xanh tươi, hầu cho tỏ ra Đức Giê-hô-va là ngay thẳng; Ngài là hòn đá tôi, trong Ngài chẳng có sự bất nghĩa” (c. 12-15). Những lúc khó khăn và thử thách trong đời sống theo Chúa, chúng ta hãy đọc và suy gẫm Thi-thiên 1 và Thi-thiên 37 để được khích lệ và an ủi hầu không bị cám dỗ phàn nàn và oán trách Đức Chúa Trời: “Tại sao Ngài để người yêu mến Chúa bị thua thiệt hơn người không yêu mến Ngài?” Hãy nhớ chính lời Chúa Jesus phán: “Những kẻ nào bền chí cho đến cuối thì sẽ được cứu!” (Ma-thi-ơ 24:13). Nguyện Đức Chúa Trời tiếp tục thương xót mỗi chúng ta!

Thursday, June 5, 2014

VẾT HẰN CHẲNG TÀN PHAI

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 9:20-29

Vả, Nô-ê khởi cày đất và trồng nho. Người uống rượu say, rồi lõa thể ở giữa trại mình. Cham là cha Ca-na-an, thấy sự trần truồng của cha, thì ra ngoài thuật lại cùng hai anh em mình. Nhưng Sem và Gia-phết đều lấy áo choàng vắt trên vai mình, đi thùi lui đến đắp khuất thân cho cha; và bởi họ xây mặt qua phía khác, nên chẳng thấy sự trần truồng của cha chút nào. Khi Nô-ê tỉnh rượu rồi, hay được điều con thứ hai đã làm cho mình, bèn nói rằng: Ca-na-an đáng rủa sả! Nó sẽ làm mọi cho các tôi tớ của anh em nó. Người lại nói rằng: Ðáng ngợi khen Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Sem thay; Ca-na-an phải làm tôi cho họ! Cầu xin Ðức Chúa Trời mở rộng đất cho Gia-phết, cho người ở nơi trại của Sem; còn Ca-na-an phải làm tôi của họ. Sau khi lụt, Nô-ê còn sống ba trăm năm mươi năm. Vậy, Nô-ê hưởng thọ được chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua đời.

Dưỡng linh:

Nô-ê rời khỏi tàu và đối diện với một cuộc sống hoàn toàn mới mẻ bày ra trước mắt. Tất cả những gì quen thuộc trong ký ức của ông dường như hoàn toàn bị quét sạch bởi cơn nước bao trùm lên vạn vật. Cơn nước lụt này, có lẽ trong suy nghĩ của Nô-ê, đã cuốn trôi đi tất cả những gì nhơ bẩn của sự suy đồi và kiếp đọa đày dưới tội lỗi do sự sa ngã của A-đam và Ê-va gây ra và để lại cho dòng dõi loài người. Nói tóm lại một lời, mọi sự hoàn toàn mới. Nô-ê cố gắng hít thở không khí trong lành và tươi mát do Chúa ban cho để bắt đầu một khởi đầu mới. Tuy nhiên, mặc dầu mọi cảnh vật chung quanh như những nhánh cây đâm chồi nứt lộc ló dạng khắp nơi, nhưng có một điều vẫn nằm tận sâu bên trong con người của Nô-ê chẳng bao giờ thay đổi. Đó chính là bản chất tội lỗi mà ông thừa hưởng từ tổ phụ mình. Chính vì thế, Kinh Thánh ghi lại rõ ràng: “Vả, Nô-ê khởi cày đất và trồng nho. Người uống rượu say, rồi lõa thể ở giữa trại mình.” Nô-ê quan sát và thấy mọi sự chung quanh đều mới nhưng ông quên nhìn vào chính mình để canh giữ cái cũ còn lại bên trong của công cuộc sáng tạo ban đầu đã bị hoen ố và đẫm ướt bởi tội lỗi. Chính vì thế, Nô-ê lại rơi vào trong con đường mà tổ phụ mình đã phạm. Ông bước theo vết xe đã đổ và vết dầu loang của bản ngã xác thịt lan tràn mà chẳng bao giờ ngừng lại! Ước chi Nô-ê hiểu và thấy điều này để canh chừng chính mình hầu không làm hoen ố cuộc đời quá tốt đẹp Đức Chúa Trời ban cho sau cơn nước lụt. Trước đây, Nô-ê đã đứng vững được giữa tiếng kêu gào của bọn vô đạo và những lượn sóng tội lỗi của thế giới băng hoại chung quanh. Giờ đây, sự băng hoại và sa ngã không đến từ bên ngoài nhưng ra từ bên trong, đã vật ngã con người thánh của Đức Chúa Trời đã một lần chiến thắng cách hoành tráng trên núi A-ra-rát! Nô-ê chẳng có thể đổ lỗi cho ai cả. Sự sa bại nằm ngay trong con người của ông! Đó là điều Kinh Thánh muốn nói đến và cho chúng ta thấy dẫu cho hoàn cảnh có thay đổi như thế nào đi chăng nữa mà chính con người bên trong không thay đổi thì không có gì hy vọng cho dòng dõi tội lỗi và băng hoại này. Cái mới của vạn vật chung quanh không thể nào thay đổi cái cũ và xóa tan vết hằn nằm sâu trong bản chất con người. Chính vì thế, con người thật cần Chúa Jesus hơn tất cả. Ngài đã đến không phải để mang sự thay đổi bên ngoài nhưng sự thay đổi tận bên trong. Như sứ đồ Phao-lô đã nói: “Vậy, nếu ai ở trong Ðấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (2 Cô-rinh-tô 5:17).

Khi Nô-ê phạm tội thì gây cớ vấp phạm cho con là Cham. Bản chất tội lỗi nằm trong Nô-ê cũng nằm trong con cái của ông. Cham “ra ngoài thuật lại cùng hai anh em mình.” Con người nhạy cảm và thích thú với điều tội lỗi hơn là điều thánh thiện, thích nói điều xấu hơn là điều tốt của người khác, chưa kể chuyện “bán trời không chứng, bán rừng không khế!” Tác giả Sáng-thế ký muốn bàn đến chi tiết này để một lần nữa chứng minh cho thấy hậu quả của sự sa ngã đã ảnh hưởng không biết bao nhiêu thế hệ trong dòng dõi loài người. Tuy nhiên, con người của Nô-ê di truyền lại trong con cái có cả hai phương diện: thánh thiện và gian ác. Cũng may là điều xấu chỉ truyền lại 1/3 cho con cái Nô-ê và tìm thấy trong Cham. Trong khi đó điều tốt truyền lại đến 2/3 cho con cái của ông tìm thấy trong Sem và Gia-phết. Quan sát sự kiện của Nô-ê, chúng ta thấy hai điểm quan trọng ở đây: (a) Nô-ê là con người là bất toàn. Trong Nô-ê quyện lẫn giữa điều thánh thiện lẫn tội lỗi; và (b) Nô-ê như thế nào thì sẽ nung đúc con cái như vậy. Đây chính là vết hằn của bản chất tội lỗi trong con người mà chẳng bao giờ có thể gột rửa hay lấy đi được. Dẫu gì đi chăng nữa, Đức Chúa Trời vẫn là Đấng thành tín, yêu thương và nhân từ. Cho nên, trải qua bao thăng trầm, nhìn chung lại, cuộc đời của Nô-ê là một cuộc đời được Đức Chúa Trời ban phước thật nhiều. Kinh Thánh ghi lại lời kết đẹp đẽ về cuộc đời của Nô-ê như sau: “Sau khi lụt, Nô-ê còn sống ba trăm năm mươi năm. Vậy, Nô-ê hưởng thọ được chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua đời.” Và tác giả Hê-bơ-rơ để lại lời bình quý báu về con người của Nô-ê: “Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa mách bảo cho về những việc chưa thấy, và người thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình; bởi đó người định tội thế gian, và trở nên kẻ kế tự của sự công bình đến từ đức tin vậy” (Hê-bơ-rơ 11:7). Khi phải nói về người thánh của Đức Chúa Trời, dường như Ngài chỉ muốn chúng ta nhớ về điều tốt lành mà thôi. Điều này hoàn toàn đi ngược lại với bản chất tội lỗi và sa ngã của con người vì ai cũng muốn nhắc lại điều xấu người khác làm hơn là điều tốt của họ!

Dẫu cho việc làm của Cham được xem bị điều khiển bởi bản chất tội lỗi thừa hưởng từ cha của mình, nhưng không phải vì đó Cham không nhận lãnh trách nhiệm về việc làm của mình. Bản án mà Đức Chúa Trời qua Nô-ê trao cho Cham là: “Ca-na-an đáng rủa sả! Nó sẽ làm mọi cho các tôi tớ của anh em nó.” Đồng thời, Sem và Gia-phết nhận lãnh sự chúc phước về việc làm của họ: “Ðáng ngợi khen Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của Sem thay; Ca-na-an phải làm tôi cho họ! Cầu xin Ðức Chúa Trời mở rộng đất cho Gia-phết, cho người ở nơi trại của Sem; còn Ca-na-an phải làm tôi của họ.” Dầu muốn hay không, mỗi người sẽ nhận lãnh hậu quả hay bông trái việc làm của mình. Hành động con người là hột giống gieo xuống và chắc chắn tự nó sẽ đơm bông kết quả. Vấn đề còn lại là thời gian mà  thôi. Gieo xuống hòa bình, yêu thương, công chính thì sẽ gặt hòa bình, yêu thương, công chính. Gieo thù oán, ganh ghét, bất công thì cũng sẽ gặt lấy thù oán, ganh ghét, bất công. Tuy nhiên, đôi khi hậu quả của việc làm con người không chỉ nằm trong thế hệ của mình mà chảy dài xuống đến những thế hệ kế tiếp. Không ai có thể lường hết được hành động và lời nói của mình sẽ ảnh hưởng bao nhiêu cuộc đời và bao nhiêu đời? Chỉ có Chúa biết điều đó và xảy ra với sự cho phép của Ngài. Vì vậy, sứ đồ Phao-lô khuyên: “Chớ hề dối mình; Ðức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt. Vậy, đương lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhứt là cho anh em chúng ta trong đức tin” (Ga-la-ti 6:7-10).