Wednesday, May 28, 2014

GIẢI PHÁP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 6:11-22

Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Ðức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung ác. Nầy, Ðức Chúa Trời nhìn xem thế gian, thấy điều bại hoại, vì hết thảy xác thịt làm cho đường mình trên đất phải bại hoại. Ðức Chúa Trời bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt ta; vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng; vậy, ta sẽ diệt-trừ họ cùng đất. Ngươi hãy đóng một chiếc tàu bằng cây gô-phe, đóng có từng phòng, rồi trét chai bề trong cùng bề ngoài. Vậy, hãy làm theo thế nầy: Bề dài tàu ba trăm thước, bề ngang năm mươi thước, bề cao ba mươi thước. Trên tàu ngươi sẽ làm một cửa sổ, bề cao một thước, và chừa một cửa bên hông; ngươi sẽ làm một từng dưới, một từng giữa và một từng trên. Còn ta đây, ta sẽ dẫn nước lụt khắp trên mặt đất, đặng diệt tuyệt các xác thịt có sanh khí ở dưới trời; hết thảy vật chi ở trên mặt đất đều sẽ chết hết. Nhưng ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, rồi ngươi và vợ, các con và các dâu của ngươi, đều hãy vào tàu. Về các loài sanh vật, ngươi hãy dẫn xuống tàu mỗi loài một cặp, có đực có cái, có trống có mái, hầu cho ở cùng ngươi đặng giữ tròn sự sống; chim tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, côn trùng tùy theo loại, mỗi thứ hai con, sẽ đến cùng ngươi, để ngươi giữ tròn sự sống cho. Lại, ngươi hãy lấy các thứ đồ ăn đem theo, đặng để dàng làm lương thực cho ngươi và các loài đó. Nô-ê làm các điều nầy y như lời Ðức Chúa Trời đã phán dặn.

Dưỡng linh:

Đức Chúa Trời nhìn thấy tình trạng của nhân loại trong thời của Nô-ê là “bại hoại” (morally corrupt) và “đầy dẫy sự gian ác” (filled with violence). Trong Kinh Thánh Cựu Ước, từ “bại hoại” được dùng chỉ về tình trạng mục nát và thối rửa từ bên trong bản chất của con người hay sự vật; và kết quả là phải bị hủy diệt và loại trừ, không phương cứu chữa. “Đầy dẫy sự hung ác” là biểu lộ của bản chất bại hoại bên trong con người, mà biểu hiện cụ thể của sự đầy dẫy hung ác gồm có: hành động giết người, hiếp dâm, đối xử bất công, và làm chứng dối v.v… Tại đây, một lần nữa tác giả Sáng-thế ký muốn chứng mình chân lý bất di bất dịch về hậu quả của tội lỗi như một căn bịnh ung thư đang ăn ruồng và gậm nhấm trong bản chất con người và ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Đức Chúa Trời không nhìn con người chỉ trên hành động của họ làm, nhưng Ngài “thấy” tận sâu thẳm bên trong bản chất tội lỗi của họ. Chính vì thế, tác giả Sáng-thế ký dùng cả hai thành ngữ này đi chung với nhau để minh họa cho quan điểm của Đức Chúa Trời đối với con người và kết quả của sự sa ngã trong vườn Ê-đen ngày xưa là khủng khiếp như thế nào. Chỉ có con người mới không thấy và hiểu hết bản chất của chính mình. Nhưng Đức Chúa Trời thì thấu rõ mọi sự đang hành động trong chính bản chất con người và hệ quả của nó đang diễn ra trong xã hội loài người khi họ lìa bỏ Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên mình.

Đức Chúa Trời không chỉ cho biết nhận định của mình nhưng Ngài còn đưa ra cách để giải quyết vấn đề. Đức Chúa Trời biết rất rõ rằng nếu cứ để tình trạng loài người như vậy thì tội ác không chỉ dừng lại tại nhưng ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Tất cả những điều này phải chấm dứt. Ngài đưa ra bản án rất rõ ràng: “Ta sẽ diệt-trừ họ cùng đất.” Đây là cách chơi chữ trong ngôn ngữ Hi-bá-lai. Vì con người tự làm cho mình trở nên “bại hoại” thì Đức Chúa Trời sẽ làm cho họ bị “diệt trừ.” Sự tàn diệt của Đức Chúa Trời dựa trên sự bại hoại của con người. Con người tự quyết định cho chính số phận và bản án của chính mình. Thái độ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi rất mạnh mẽ và dứt khoát, không chút nhân nhượng. Đức Chúa Trời chẳng tự làm điều gì để hủy hoại con người ngoại trừ con người tự hủy hoại chính mình trước. Hay nói cách khác, Đức Chúa Trời sẽ hành động dựa trên những gì con người muốn hành động cho chính mình. Quyền tự do của con người bao giờ cũng được Ngài tôn trọng. Sự tận diệt cả dòng dõi loài người được mang đến trước mặt Đức Chúa Trời. Vì thế, Ngài muốn hành động để làm nên một cái gì đó mới mẻ trở lại.

Đức Chúa Trời bảo Nô-ê đóng một chiếc tàu rồi đem cả gia đình của ông vào trong đó để được cứu thoát khỏi cơn nước lụt của sự phán xét kinh khiếp sẽ đến trên cả nhân loại. Sở dĩ Đức Chúa Trời ban cho Nô-ê đặc ân cao quý này vì ông là người được Ngài chứng rằng “công bình” hơn hết trong thời của ông. Những gì Nô-ê chịu khổ để sống theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ luống công. Ông đã tin cậy Đức Chúa Trời và nhẫn nhục bước đi trong con đường công chính của Ngài thì nay ông gặt lại những gì mình gieo. Chính trong những giây phút khủng hoảng và đen tối nhất của lịch sử nhân loại, bởi đời sống công chính mà Đức Chúa Trời đã cứu Nô-ê và gia đình. Tấm lòng yêu mến và kính sợ Đức Chúa Trời của Nô-ê được chứng tỏ trong việc ông làm theo Lời Chúa dạy, bất chấp những sự chống đối và chỉ trích của con người. Nô-ê bằng lòng đi với Đức Chúa Trời trong con đường chưa ai từng đi trên trần gian này. Đây là kinh nghiệm có một không hai. Chính vì thế nó phơi bày chiều sâu của đức tin và lòng yêu mến Chúa tuyệt đối của ông. Khi Nô-ê bằng lòng làm theo Lời Đức Chúa Trời phán truyền thì chính Ngài khiến cho việc thi hành ý muốn của Ngài trở nên dễ dàng cho ông (6:20).

Nô-ê vâng theo lịnh của Đức Chúa Trời đóng một chiếc tàu theo kiểu mẫu và kích thước chính Ngài quy định. Đây chính là phương cách của Đức Chúa Trời giải quyết vấn đề tội lỗi nhân loại. Nó phải đến từ Đức Chúa Trời, không phải là sản phẩm của con người. Chiếc tàu của Nô-ê ám chỉ về Chúa Jesus và sự cứu rỗi chỉ tìm thấy trong chính Ngài. Đáng lý con người phải đi tìm cho mình một giải pháp để giải quyết tình trạng băng hoại và mục rữa của chính mình. Nhưng Đức Chúa Trời đã đi một bước trước con người. Ngài đã thiết lập giao ước với Nô-ê và dòng dõi của ông để tái lập một dòng dõi thánh thiện và công chính cho Ngài. Giao ước này chẳng những bảo đảm sự cứu rỗi cho chính Nô-ê mà còn mở rộng để bao trùm luôn cả gia đình và dòng dõi của ông. Điều này cho thấy ơn cứu rỗi được Đức Chúa Trời dự bị và hộ phòng chẳng những cho cá nhân người được cứu mà bao gồm cả tập thể của những người liên hệ với người đó. Trong thần học gọi điều này là “ân sủng bao hàm” của Đức Chúa Trời dành cho tội nhân (God’s inclusive grace). Chính ân sủng này mang đến niềm hy vọng sâu xa và hướng đến tương lai rạng rỡ của những con người được cứu trong Chúa Jesus Christ.

Thursday, May 22, 2014

SỰ BĂNG HOẠI CỦA DÒNG DÕI BẤT KÍNH

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 6:1-7

Vả, khi loài người khởi thêm nhiều trên mặt đất, và khi loài người đã sanh được con gái rồi, các con trai của Ðức Chúa Trời thấy con gái loài người tốt đẹp, bèn cưới người nào vừa lòng mình mà làm vợ. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi. Ðời đó và đời sau, có người cao lớn trên mặt đất, vì con trai Ðức Chúa Trời ăn ở cùng con gái loài người mà sanh con cái; ấy những người mạnh dạn ngày xưa là tay anh hùng có danh. Ðức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn; thì tự trách đã dựng nên loài người trên mặt đất, và buồn rầu trong lòng. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ hủy diệt khỏi mặt đất loài người mà ta đã dựng nên, từ loài người cho đến loài súc vật, loài côn trùng, loài chim trời; vì ta tự trách đã dựng nên các loài đó.

Dưỡng linh:

Sáng-thế ký đoạn 6 là một trong những phân đoạn Kinh Thánh khó giải nghĩa nhất. Vấn đề trong phân đoạn Kinh Thánh này nằm trong chỗ ai là “con trai của Đức Chúa Trời” và “con gái loài người”? Dựa theo bản LXX các giáo phụ của Hội Thánh thì cho rằng “con trai của Đức Chúa Trời” chính là thiên sứ. Nhưng các ra-bi Do thái thì hoàn toàn bác bỏ lập luận này và cho rằng chính là các quan xét của con người (human judges). Thậm chí, có một lời rủa sả giáng trên những ai cho rằng “con trai của Đức Chúa Trời” là thiên sứ (Genesis Rabba 26.5). Đến thời kỳ Trung Cổ, các nhà giải nghĩa Kinh Thánh cho rằng “con trai của Đức Chúa Trời” là dòng dõi của Ca-in và “con gái loài người” là dòng dõi của Sết. Đến thời hiện đại thì cho rằng “con trai của Đức Chúa Trời” không phải là thần linh thuộc cõi thiên thượng bèn là phần còn lại của dòng dõi Ca-in.

Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét thượng hạ văn của Sáng-thế ký trong phần liên quan đến phân đoạn Kinh Thánh này cho thấy tác giả đang bàn đến hai dòng dõi Ca-in và Sết. Vì thế, có lẽ “con trai của Đức Chúa Trời” chính là dòng dõi của Sết, dòng dõi kính sợ Đức Chúa Trời; trong khi đó “con gái của loài người” chính là dòng dõi gian ác của Ca-in. Trong khuôn khổ bài này chúng ta không có thì giờ để bàn đến lý lẽ của từng quan điểm nêu trên. Dẫu cho quan điểm gì đi nữa, tựu trung lại cũng nằm ở chỗ là có sự pha trộn giữa dòng dõi tin kính Đức Chúa Trời và dòng dõi tội lỗi gian ác của con người. Câu chuyện này cho chúng ta thấy hậu quả của tội lỗi đã ẩn tàng trong dòng dõi tin kính và đến một lúc nào đó cũng có thể bị cám dỗ để sa bại. Vấn đề ở chỗ là việc thiết lập hôn nhân giữa hai dòng dõi này là “thấy con gái loài người tốt đẹp, bèn cưới người nào vừa lòng mình là vợ.” Buông mình vào trong sự tham muốn và chìu theo xác thịt là gốc rễ sai lầm của cuộc hôn nhân này. Đây là chỗ mà dòng dõi tin kính Đức Chúa Trời bị cám dỗ và thất bại. Đức Chúa Trời nhìn vào cuộc hôn nhân này thì phán rằng: “Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi” (c. 3). Con người thấy cuộc hôn nhân này là tốt đẹp theo mắt mình và vừa lòng mình. Nhưng Đức Chúa Trời thấy hoàn toàn không tốt đẹp và vừa lòng Ngài chút nào. Đức Chúa Trời thấy tận bên trong lòng của con người chỉ là lầm lạc mà thôi vì ra từ bản tánh xác thịt đã bán cho ma quỷ và tội lỗi trong vườn Ê-đen ngày xưa. Chủ đề của phân đoạn Kinh Thánh này cũng liên hệ đến sự sa ngã và hậu quả của nó. Vì thế, Chúa ra quyết định rút ngắn đời người. Đây là bản án mà Đức Chúa Trời giáng trên dòng dõi loài người một lần nữa. Có thể nói cách rõ ràng rằng hậu quả của tội lỗi là sự chết.

Kết quả của loại hôn nhân này sanh sản ra dòng dõi của những người to lớn trên mặt đất, họ là những con người mạnh mẽ và tay anh hùng có danh. Có thể nói, về phương diện con người, đây là sự thành công và đáng khích lệ thay vì buồn phiền. Mạnh mẽ về thể xác, tài giỏi vì là anh hùng nên có danh tiếng đồn ra. Những điều này ai lại không thích cho dòng dõi của mình. Tuy nhiên, đối với Đức Chúa Trời đây chính là sự suy bại về mặt thuộc linh và là lý cớ để Ngài phải dẫn cơn nước lụt đến hủy diệt cả công trình sáng tạo của Ngài bao gồm cả con người. Đây là việc làm rất đau lòng đối với Đức Chúa Trời nhưng Ngài bắt buộc phải làm vì thấy “sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn.” Đức Chúa Trời muốn diệt tận gốc rễ của vấn đề bản chất tội lỗi của con người để thay thế bằng một dòng dõi mới và hoàn toàn thanh sạch là Nô-ê và gia đình ông.

Đối với Đức Chúa Trời, tất cả những cuộc hôn nhân không diễn ra trong thánh ý tốt lành của Ngài đều là tội lỗi. Những người tham dự vào trong các cuộc hôn nhân này là tự đặt mình chống nghịch với Đức Chúa Trời. Việc sanh sản và duy trì dòng dõi là tham gia vào trong công trình tạo dựng con người của Đức Chúa Trời. Vì thế, Chúa đánh giá và xem việc này vô cùng quan trọng. Có thể rằng về phương diện con người chúng ta thấy đó là điều tốt đẹp và thành công. Nhưng đối với Đức Chúa Trời thì Ngài xem xét có nằm trong chương trình tốt lành của Ngài hay không? Khi con người đeo đuổi những giấc mộng vàng của mình trong hôn nhân và gạt bỏ Đức Chúa Trời qua một bên thì đó là lúc con người bắt đầu chuốc lấy sự khốn nạn và đau khổ cho chính mình và dòng dõi mình. Khi con người phạm tội vô tình hay cố ý đã làm tổn thương và gây đau lòng cho Đức Chúa Trời. Đó là thái độ vô ơn của con người đối với Đấng tạo dựng nên mình. Điều này sẽ dẫn đến việc Đức Chúa Trời phải hành động theo bản tánh công chính, thánh khiết, và yêu thương của Ngài. Là con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải vô cùng cẩn trọng trong việc lập gia đình và sử dụng năng lực Chúa ban để làm vinh hiển danh của Ngài.


Thursday, May 15, 2014

DÒNG DÕI KÍNH SỢ CHÚA

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 5:1-32

“Ðây là sách chép dòng dõi của A-đam. Ngày mà Ðức Chúa Trời dựng nên loài người, thì người làm nên loài người giống như Ðức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ, ban phước cho họ, và trong ngày đã dựng nên, đặt tên là người. Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống như hình tượng mình, đặt tên là Sết. Sau khi A-đam sanh Sết rồi, còn sống được tám trăm năm, sanh con trai con gái. Vậy, A-đam hưởng thọ được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua đời. Sết được một trăm năm tuổi, sanh Ê-nót. Sau khi Sết sanh Ê-nót rồi, còn sống được tám trăm bảy năm, sanh con trai con gái. Vậy, Sết hưởng thọ được chín trăm mười hai tuổi, rồi qua đời” (5:1-8)

Dưỡng linh:

Bắt đầu từ đoạn 5 của sách Sáng-thế ký, trước giả Môi-se cho chúng ta thấy một ngã rẽ vô cùng quan trọng giữa hai dòng dõi Ca-in và Sết. Dòng dõi gian ác Ca-in, kẻ giết người, bắt đầu đi vào bóng đêm, kết thúc và bị cuốn trội theo dòng cơn nước lụt đời Nô-ê, nhường chỗ cho dòng dõi kính sợ Đức Chúa Trời là Sết tiếp tục đi xuyên qua hậu tự của ông là Nô-ê và con cháu người. Qua đó, Đức Chúa Trời chọn Áp-ra-ham. Từ Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời chọn dân tộc thánh của Ngài là Y-sơ-ra-ên. Cũng từ dân tộc thánh này Chúa Jesus đã ra đời, là Cứu Chúa của cả nhân loại. Thật là một chương trình kỳ diệu của Ngài vượt quá trí tưởng tượng của con người chúng ta. Tác giả sách Sáng-thế ký ghi lại những chi tiết này để cho chúng ta thấy những điểm quan trọng sau đây: (a) sự sa ngã và hậu quả vô cùng khủng khiếp của nó là sự thật không thể chối cãi; (b) thái độ của con người đối với hành động của mình sẽ quyết định cho tương lai những gì sẽ xảy đến cho chính mình và hậu tự của mình; và (c) dòng dõi người kính sợ Đức Chúa Trời sẽ tồn tại lâu dài và bền vững đời đời. Dòng dõi gian ác, giết người sớm muộn gì cũng sẽ bị tiêu diệt đi!

Mở đầu Sáng-thế ký 5, Môi-se nhắc lại chi tiết việc Đức Chúa Trời dựng A-đam theo hình ảnh của Ngài. Và rồi ông nối kết ý tưởng đó bằng việc nhấn mạnh đến Sết là người cũng được sanh ra theo hình ảnh của cha mình là A-đam. Trong Sáng-thế ký 4, khi nói đến việc A-đam và Ê-va sanh Ca-in và A-bên thì Kinh Thánh không đề cập đến chi tiết này đặc biệt. Nhưng tại đây, trước giả Môi-se muốn nhấn mạnh hai điểm quan trọng liên quan đến vấn đề này: (a) qua con người Đức Chúa Trời tiếp tục công tác tạo dựng của Ngài; và (b) tính chất di truyền trong công tác sáng tạo của Đức Chúa Trời. Sết được dựng nên giống như hình ảnh của cha mình là A-đam nói lên tính chất liên tục từ Đức Chúa Trời cho đến Sết. Cả hai đều bình đẳng như nhau trước mặt Đức Chúa Trời vì được dựng nên theo hình ảnh của Ngài. Cha mẹ sanh con cái là chuyển tải những gì Đức Chúa Trời phú cho mình để con cái có thể thừa hưởng những gì đến từ Chúa giống như mình. Sự di truyền ở đây liên hệ đến tâm tánh đạo đức bề trong lẫn đặc điểm hình dạng bên ngoài. Dầu muốn hay không, Sết phải giống A-đam vì đó quy luật qua Đức Chúa Trời trong con người. Đó không phải là sự lựa chọn của Sết nhưng là quy luật di truyền do Đức Chúa Trời đặt để để nói lên đặc quyền và trách nhiệm của con người trong công cuộc sáng tạo của Ngài.

Chúng ta đem so sánh giữa hai dòng dõi của Ca-in (trong đoạn 4) và dòng dõi Sết (trong đoạn 5) thì sẽ thấy những điểm rất thú vị sau đây:

Dòng dõi Ca-in
Dòng dõi Sết
Hê-nóc
Ê-nót
Y-rát
Kê-nan
Mê-hu-da-ên
Ma-ha-la-le
Mê-tu-sa-ên
Giê-rệt
Lê-méc
Hê-nóc
Gia-banh, Giu-banh, Tu-banh Ca-in
Mê-tu-sê-la
(Na-a-ma)
Lê-méc

Nô-ê

Sem, Cham, Gia-phết

Nếu so sánh trong từng dòng dõi của hai người trên, chúng ta thấy dòng dõi của Sết rất kính sợ Chúa. Có điều đặt biệt là cứ sau tên của mỗi người thì Kinh Thánh nói đến số tuổi của những người này với mục đích nói rằng họ là những người kính sợ Đức Chúa Trời và Ngài khiến họ sống lâu trên đất. Thậm chí trong dòng dõi Sết có Mê-tu-sê-la sống đến 969 tuổi! Đồng thời, từ dòng dõi này ra những nhân vật rất nổi tiếng và để bao tiếng khen lưu danh cho dòng họ nhà Sết:

·         Hê-nóc = người đồng đi cùng Đức Chúa Trời và Ngài tiếp người đi.
·         Mê-tu-sê-la = người sống thọ nhất trên trần gian.
·         Lê-méc = thân phụ của Nô-ê, người công bình giữa thời kỳ gian ác.

Trong đoạn 11 sách Hê-bơ-rơ kể tên nhiều anh hùng đức tin, trong đó có những người thuộc trong dòng dõi của Sết như: Hê-nóc, Nô-ê (11:5, 7). Đây chính là bông trái của dòng dõi tin kính Đức Chúa Trời. Trong khi đó, trong danh sách này chẳng có một ai thuộc dòng dõi Ca-in. Nhưng lại có một câu nhắc lại sự việc lý do tại sao Ca-in giết A-bên với một lời nhận định như sau: “Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Ðức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công bình, vì Ðức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy; lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói” (11:4). Máu của A-bên làm chứng cho việc làm của người là tốt lành, thì cũng chính máu này lên án Ca-in về hành động gian ác của ông. Kinh Thánh rất trung thực trong việc ghi chép lại tất cả mọi sự của con người đã làm, tốt lẫn xấu. Những gì chúng ta hành động chẳng bao giờ chấm dứt sau khi chúng ta qua đời. Những điều này sẽ tiếp tục sống và gióng lên tiếng nói của nó xuyên suốt thời gian và dòng lịch sử. Nếu Kinh Thánh và lịch sử hội thánh Đức Chúa Trời tiếp tục ghi chép lại những gì xảy ra ngày hôm nay để cho thế hệ mai sau học hỏi, những dòng chữ ghi về chúng ta sẽ là như thế nào? Chúng ta hãy sống mỗi ngày với quy luật đặc ân và trách nhiệm mà Đức Chúa Trời đã phú vào trong đời sống con người được ký thác và gắn chặt trong hình ảnh của Ngài trong con người.

Thursday, May 8, 2014

HAI DÒNG DÕI

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 4:17-26

Ðoạn, Ca-in ăn ở cùng vợ mình, nàng thọ thai và sanh được Hê-nóc; Ca-in xây một cái thành đặt tên là Hê-nóc, tùy theo tên con trai mình. Rồi, Hê-nóc sanh Y-rát; Y-rát sanh Nê-hu-đa-ên; Nê-hu-đa-ên sanh Mê-tu-sa-ên; Mê-tu-sa-ên sanh Lê-méc. Lê-méc cưới hai vợ; một người tên là A-đa, một người tên là Si-la. A-đa sanh Gia-banh; Gia-banh là tổ phụ của các dân ở trại và nuôi bầy súc vật. Em người là Giu-banh, tổ phụ của những kẻ đánh đờn và thổi sáo. Còn Si-la cũng sanh Tu-banh-Ca-in là người rèn đủ thứ khí giới bén bằng đồng và bằng sắt. Em gái của Tu-banh-Ca-in là Na-a-ma. Lê-méc bèn nói với hai vợ mình rằng: Hỡi A-đa và Si-la! hãy nghe tiếng ta; Nầy, vợ Lê-méc hãy lắng tai nghe lời ta: Ừ! Ta đã giết một người, vì làm thương ta, Và một người trẻ, vì đánh sưng bầm ta. Nếu Ca-in được bảy lần báo thù, Lê-méc sẽ được bảy mươi bảy lần báo oán. A-đam còn ăn ở với vợ mình; người sanh được một con trai đặt tên là Sết; vì vợ rằng: Ðức Chúa Trời đã cho tôi một con trai khác thế cho A-bên mà đã bị Ca-in giết rồi. Sết cũng sanh được một con trai, đặt tên là Ê-nót. Từ đây, người ta bắt đầu cầu khẩn danh Ðức Giê-hô-va.

Dưỡng linh:

Sau khi làm việc gian ác xong, Ca-in ẩn mình khỏi tất cả mọi người và theo đuổi cuộc sống riêng của mình. Trên một mức độ nào đó, chúng ta thấy cuộc đời của Ca-in vẫn diễn ra bình thường theo quy luật Đức Chúa Trời đặt để trong đời sống con người. Ca-in ăn ở với vợ mình và sanh con đẻ cháu để nối dõi tông đường. Cuộc sống của Ca-in về vật chất trông có vẻ thịnh vượng, giàu có, thành đạt. Ông xây được một cái thành và đặt tên là Hê-nóc theo tên con trai trưởng nam của mình. Đây là biểu tượng cho sức mạnh và niềm tự hào của dòng dõi Ca-in. Chính ý tưởng này đã trở thành nền tảng căn bản cho việc xây dựng tháp Ba-bên sau này. Tư tưởng của lối sống đa-thê cũng xuất phát từ trong dòng dõi của Ca-in. Lê-méc là cháu đời thứ sáu của Ca-in lấy hai vợ là A-đa và Si-la. Con cháu của Lê-méc là Gia-banh, người khởi xướng ngành nông nghiệp và chăn nuôi. Từ trong dòng dõi của Lê-méc này cũng ra nhạc sĩ thời xưa là Giu-banh, người có tài đánh đờn và thổi sáo. Đa tình thường có bà con đâu đó với máu nghệ sĩ và âm nhạc! Tất cả những đặc điểm này đều có thể tìm thấy trong dòng dõi của Lê-méc sang A-đa.  Đi xa hơn, máu chém giết cũng ẩn tàng trong dòng dõi của Ca-in là Tu-banh Ca-in, người rèn đủ loại khí giới bén bằng đồng và bằng sắt để chuẩn bị đánh nhau! Chính loại người khát máu như Ca-in cũng lưu ra trong dòng dõi của ông những con người như Lê-méc, kẻ từng giết người mà không hề gớm tay và xấu hổ. Ngược lại, ông cảm thấy rất tự hào và hãnh diện về điều ông làm và khoe với vợ con về việc mình làm. Lê-méc cảm thấy chính mình trổi cha ông mình nhiều trong lãnh vực giết người! Đó là niềm tự hào của dòng dõi gian ác Ca-in. Nói chung, trên một phương diện, dòng dõi Ca-in đã được Đức Chúa Trời ban cho khá nhiều khả năng để có thể đem cuộc sống của con người đến chỗ văn minh và tốt đẹp hơn, sống đầy đủ tiện nghi hơn tổ phụ mình. Nhưng trên phương diện khác, dòng dõi của Ca-in cũng phát triển nhiều về tội ác. Sự thạnh vượng về vật chất là dấu hiệu Đức Chúa Trời ban phước cho con người nói chung, vì Đức Chúa Trời “khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Ma-thi-ơ 5:45b). Tuy nhiên, sự hưng thịnh về vật chất phải đi đôi với sự thăng tiến trong đời sống tâm linh, trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời thì sẽ mang lại phước hạnh cho đời sống của con người cách đích thực. Bằng không sự giàu có về vật chất chỉ là mảnh đất tốt cho những điều gian ác nẩy mầm và sanh sôi nẩy nở. Dòng dõi Ca-in bị Đức Chúa Trời rủa sả cho nên dẫu cho có trở nên hưng thịnh về vật chất đi chăng nữa mà đời sống đạo đức mỗi ngày suy đồi, thì không có gì bảo đảm cho sự chúc phước của Đức Chúa Trời trên dòng dõi này.

Trong khi đó, cuộc sống bình dị của A-đam và Ê-va vẫn trôi qua mỗi ngày bình thường sau tang lễ của A-bên. Ca-in bỏ nhà ra đi mà chẳng biết sống ở nơi phương trời nào? Chỉ trong một thời gian ngắn cha mẹ mất luôn cả hai người con. Gia đình trống vắng, hiu quạnh, nỗi buồn thảm và mỏi mệt xâm chiếm cả hai vợ chồng tận trong tâm hồn lẫn thể xác! Chưa bao giờ bằng lúc này, có lẽ A-đam và Ê-va mới nghiệm ra và thấm thía cho cái việc đã bất tuân mạng lịnh của Đức Chúa Trời để lại cho mình những hậu quả phải gánh không thể lường hết được! Trong hoàn cảnh vô cùng đen tối đó, Đức Chúa Trời vẫn theo dõi, đoái xem và chúc phước cho vợ chồng có con để thay thế cho hai đứa đã mất. Sết ra đời như là món quà quý Chúa ban cho. Nó đem niềm vui và an ủi cho cuộc đời của A-đam và Ê-va sau những tháng ngày sống trong nước mắt và tuyệt vọng. Sau đó, Sết sanh được một người con, đặt tên là Ê-nót. Lòng biết ơn Chúa, tìm kiếm và nương tựa nơi lòng nhơn từ và sự thương xót của Ngài của A-đam và Ê-va đã tuôn chảy xuống đến Sết và dòng dõi người. Chính vì thế, kể từ đây, “người ta bắt đầu cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va.” Đây là sự khác biệt lớn lao giữa dòng dõi của Sết và Ca-in. Khi A-đam biết ăn năn và hối tiếc về những lầm lỗi của mình, Đức Chúa Trời bắt đầu làm ơn và ban phước cho ông và dòng dõi ông. Dẫu rằng về phương diện vật chất, dòng dõi Sết không mấy giàu có và thành đạt như dòng dõi của Ca-in nhưng họ sống với lòng kính sợ Chúa thì Ngài đã ban phước cho họ cách dư dật về lâu về dài. Từ Sết lưu ra dòng dõi thánh cho Đức Chúa Trời (Sáng-thế ký 5). Trong khi đó, Ca-in chẳng hề biết ăn năn và tự cô lập chính mình khỏi thế giới tin kính chung quanh, đeo đuổi ý muốn riêng của mình. Vì thế, Ca-in đã lưu lại một dòng dõi gian ác trên đất, dẫu cho cuộc sống vật chất có phần giàu có và dư dật hơn dòng dõi của người kính sợ Đức Chúa Trời là Sết.

Tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta là do chính chúng ta chọn ngày hôm nay. Nếu chúng ta đeo đuổi những điều thuộc linh và công chính hơn là tìm kiếm vật chất ở đời này, biết ăn năn những điều sai lầm và gian ác do mình gây ra thì chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ ban phước và từ chúng ta sẽ ra một dòng dõi thánh cho Ngài. Còn nếu chúng ta tự chọn cho mình sự cứng cỏi không biết ăn năn, cứ tiếp tục đắm mình trong tội lỗi, theo đuổi danh vọng, chức tước và tiền của đời này, thì chắc chắn rằng chúng ta sẽ gặt lấy những hậu quả không lường hết được cho chính bản thân và gia đình. Từ trong gia đình và dòng dõi chúng ta, Đức Chúa Trời sẽ khiến dấy lên những đứa con hư hỏng, hoang đàng, ngỗ nghịch; gia đình chúng nó đổ vỡ tan nát, và trên hết chúng nó sẽ không còn lòng yêu mến và biết thờ phượng Đức Chúa Trời. Chúng ta thấy vết xe đã đổ của Ca-in và xin Chúa giúp chúng ta nhờ ơn Ngài sống kính sợ, yêu mến Ngài để rồi Đức Chúa Trời bởi đó mà làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ có lòng kính sợ Ngài. Ông bà, cha mẹ yêu thương con cái sẽ sống trong con đường tin kính và yêu mến Ngài, tránh xa điều ác như Ca-in mà làm điều lành như Sết.