Thursday, March 27, 2014

HẬU QUẢ KHÔN LƯỜNG!

Sáng-thế ký (Genesis) 3:14-19

Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn phán cùng rắn rằng: Vì mầy đã làm điều như vậy, mầy sẽ bị rủa sả trong vòng các loài súc vật, các loài thú đồng, mầy sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời. Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người. Ngài phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi. Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn. Ðất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.

Dưỡng linh:

Sau khi đối chất với A-đam và Ê-va về tội lỗi của họ đã phạm, Đức Chúa Trời đưa ra bản án cho từng thành phần tham dự trong sự kiện vô tiền khoáng hậu này. Trước hết, Đức Chúa Trời nói với con rắn: “Vì mầy đã làm điều như vậy.” Lời kết tội của Chúa dựa trên những gì con rắn làm rất cụ thể, không có gì là mơ hồ hay võ đoán cả. Dựa trên việc làm của con rắn, Đức Chúa Trời cho biết hậu quả nó phải gánh gồm có hai điều: (a) bị rủa sả giữa vòng cùng chủng loại của nó qua việc bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời; và (b) có sự chống nghịch giữa nó và người nữ, dòng dõi nó và dòng dõi người nữ đời đời. Nó sẽ bị dòng dõi người nữ đập đầu nhưng nó sẽ cắn gót chân dòng dõi người. Bò bằng bụng và ăn bụi đất là hình ảnh của sự sỉ nhục và rủa sả. Dẫu cho con rắn bị ma quỷ sử dụng hay nó chính là ma quỷ đi nữa, Đức Chúa Trời làm cho con rắn từ một con vật khôn ngoan (3:1) trở thành một con vật bị rủa sả và nhục nhã giữa vòng cùng chủng loại của nó. Đồng thời, có sự thù địch muôn đời giữa người nữ và dòng dõi người với nó và dòng dõi nó. Điều này trước hết được hiểu liên quan đến sự xung đột giữa Ca-in (dòng dõi người nữ) và tội lỗi mà ông vật lộn để phải đắc thắng. Nhưng rõ ràng Ca-in đã thất bại. Đồng thời, đây cũng là lời tiên tri về sự chống nghịch của ma quỷ với Chúa Jesus là dòng dõi người nữ. Nhưng chính Chúa Jesus sẽ chiến thắng ma quỷ mặc dầu nó có thể làm hại Ngài qua sự thương khó và sự chết. Tất cả những ai theo thế lực của ma quỷ được kể là dòng dõi của ma quỷ. Hội thánh của Đức Chúa Trời là dòng dõi của người nữ, là Thân Thể của Chúa Jesus luôn luôn bị sự chống đối của ma quỷ nhưng cuối cùng sẽ chiến thắng như chính Ngài đã chiến thắng.

Bản án Đức Chúa Trời giáng trên người nữ gồm hai điều sau đây: (a) sự cực khổ trong việc thai nghén và sanh nở; (b) vì có khuynh hướng muốn kiểm soát chồng nhưng sẽ bị chồng cai trị. Sự khổ cực trong khi mang thai và đau đớn khi sanh nở là dấu hiệu của sự rủa sả đối với việc làm của Ê-va. Có thể nói đây là phần Kinh Thánh Cựu Ước Hi-bá-lai rất khó dịch để có thể lột hết tất cả ý nghĩa của nó. Tuy nhiên chúng ta có thể tạm hiểu như thế này: mang thai và sanh con cái là thiên chức Chúa ban cho người nữ. Thay vì Đức Chúa Trời trực tiếp tạo dựng từng người trên trần gian này, Ngài ban cho người nữ được dự phần vào trong công tác sáng tạo của Ngài. Đây quả là một vinh dự lớn lao của người nữ. Sau khi con người phạm tội, Đức Chúa Trời không cất lấy vinh dự này nhưng khiến nó trở thành điều mà trong đó trộn lẫn giữa niềm vui và sự đau đớn để nhắc cho con người nhớ rằng đã một lần người nữ đi sai trật con đường phước hạnh Chúa ban cho mình. Còn đối với mối quan hệ với chồng thì hình phạt đối với người nữ đó là “dục vọng” (desire) nàng hướng về chồng và chồng sẽ cai trị nàng. Dục vọng ở đây khác với điều mô tả trong sách Nhã Ca của Sa-lô-môn liên quan đến tình dục của con người đối với nhau. Tại đây, “dục vọng” mô tả khuynh hướng thúc đẩy con người làm những điều gian ác và tội lỗi chống nghịch Đức Chúa Trời. Vì thế, phần này có thể hiểu như sau: bởi vì Ê-va đã thúc đẩy A-đam phạm tội qua việc trao cho chàng trái cấm để ăn. Khi làm như thế, Ê-va muốn “lãnh đạo” (lead) hay “kiểm soát” (control) chồng mình làm theo ý muốn mình thay vì duy trì mối quan hệ trật tự mà Đức Chúa Trời tạo nên. Cho nên, bây giờ Đức Chúa Trời thay đổi hay điều chỉnh lại trật tự ban đầu mà Ngài đã thiết lập là chồng là đầu vợ, là người “cai trị” nàng trong mối quan hệ tại gia đình. Từ “cai trị” ở đây mang ý nghĩa rất mạnh trong nguyên văn Hi-bá-lai, nhấn mạnh đến quyền cai trị, thống trị, hay làm chủ người khác.

Theo thứ tự, bản án mà Đức Chúa Trời dành cho A-đam là sau cùng và có vẻ nhẹ hơn hết vì ông là “nạn nhân” của con rắn lẫn người nữ. Nhưng điều đó không có nghĩa là A-đam chẳng có quyền tự do để quyết định gì cả trong vấn đề phạm tội và không chịu trách nhiệm về hành động của mình. Cho nên, án phạt Đức Chúa Trời muốn thi hành trên A-đam do cái tội nghe theo lời vợ như sau: (a) đất đai bị rủa sả chống nghịch lại A-đam; và (b) A-đam sẽ phải làm lụng rất cực khổ mới có mà ăn cho đến ngày qua đời trở về với cát bụi. Đức Chúa Trời đã làm điều này để cho A-đam thấy rằng những gì Đức Chúa Trời ban cho con người từ đất là món quà nhưng không, nhằm mục đích mang lại phước hạnh và lợi ích cho con người. Trong trường hợp này trái cấm là sản vật của đất. Nhưng khi A-đam không vâng phục Ngài, thì chính sản vật của đất sẽ là sự chống nghịch lại với A-đam và làm cho ông khốn khổ! Kể từ đó trở đi, mỗi khi A-đam làm lụng cực khổ trong việc đồng áng, phải làm đổ mồ hôi ra mới có mà ăn, thì sẽ nhớ bài học quý giá này: sự ban cho của Đức Chúa Trời sẵn có là phước hạnh nhưng chính ông đã làm mọi sự trở vô cùng cực nhọc cho chính mình!

Sau khi phạm tội, cuộc sống của A-đam và Ê-va hoàn toàn thay đổi; mối quan hệ của họ với nhau cũng theo đó thay đổi; cách làm việc cũng thay đổi theo. Nói tóm lại, mọi sự thay đổi theo chiều hướng xấu, mang tính cách làm hại và mang lại sự khốn khổ cho A-đam và Ê-va thay vì phước hạnh. Sự ban cho của Đức Chúa Trời nay không còn chỉ là phước hạnh, ngọt ngào hoàn toàn nhưng trộn lẫn trong đó nỗi buồn thảm, cay đắng và đau đớn. Đây chính là điều mà A-đam và Ê-va chẳng bao giờ lường hết được. Nếu biết trước điều này thì chắc cả hai ông bà chẳng ai muốn phải trả một giá quá đắt như vậy cho hành động đi sai lạc đường lối và ý muốn của Đức Chúa Trời, chìu theo tư dục do ma quỷ xúi giục! Nhưng trên thực tế sự thật hoàn toàn ngược lại. Và chúng ta cũng khám phá ra rằng chính chúng ta đã từng hành động chẳng khác gì A-đam và Ê-va. Vì thế, hậu quả chúng ta nhận lãnh cũng chẳng kém gì điều họ đã nhận lãnh!

Thursday, March 20, 2014

NGHE NHƯ THIỆT!

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 3:7-13

Ðoạn, mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lỏa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân. Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu? A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lỏa lồ, nên đi ẩn mình. Ðức Chúa Trời phán hỏi: Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng mình lỏa lồ? Ngươi có ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn đó chăng? Thưa rằng: Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời phán hỏi người nữ rằng: Người có làm điều chi vậy? Người nữ thưa rằng: Con rắn dỗ dành tôi và tôi đã ăn rồi.

Dưỡng linh:

Sau khi Ê-va nghe theo lời cám dỗ của con rắn ăn trái cấm và trao cho chồng ăn nữa, việc gì xảy ra cho họ? Họ có trở thành người khôn ngoan bằng Đức Chúa Trời như con rắn nói không? Kinh Thánh chép: “Đoạn mắt hai người mở ra, biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân.” Kỳ thật, trên một phương diện nào đó, họ cũng trở thành người “khôn ngoan” về sự nhận biết về mình như điều ma quỷ nói. Nhưng sự khôn ngoan này thuộc về điều ác thay vì điều thiện. Trước đây, cả A-đam và Ê-va đều trần truồng nhìn nhau mà chẳng hổ thẹn vì được bao phủ bởi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Sáng-thế ký 2:25). Sau khi phạm tội, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời bị cất đi và họ bị phơi bày sự trần truồng của mình và thấy xấu hổ, thẹn thùng. Họ hổ thẹn với Chúa và hổ thẹn với nhau. Đó là hậu quả đầu tiên của tội lỗi mang lại cho A-đam và Ê-va sau khi vi phạm điều cấm của Đức Chúa Trời. Không ai biết rõ ma quỷ hơn Chúa Jesus. Ngài nói ma quỷ là cha của sự nói dối (Giăng 8:44). Khi cám dỗ Ê-va thì nó nói với bà rằng Đức Chúa Trời là kẻ nói dối. Nhưng khi con người nghe theo lời nói của nó mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời thì té ngửa ra rằng ma quỷ mới chính là kẻ nói dối thì mọi việc đã quá trễ, và không có cách gì đổi ngược tình thế được. Sự lừa gạt và bịp bợm là nghề của ma quỷ. Con người dẫu khôn ngoan đến đâu, dày dạn kinh nghiệm sống bao nhiêu đi nữa cũng không thể nào qua mặt được ma quỷ.  Sau khi con người rơi vào tay của ma quỷ rồi sau đó mới cảm nhận thấm thía điều Đức Chúa Trời nói là đúng! Nghe theo lời cám dỗ của ma quỷ sẽ để lại cho con người biết bao nhiêu điều khốn nạn, khổ cực, và cay đắng triền miên bất tận.

Kinh nghiệm kế tiếp của A-đam và Ê-va sau khi phạm tội là mang mặc cảm tội lỗi (guilt) với Đức Chúa Trời. Hậu quả là mối tương giao giữa họ với Đấng tạo dựng nên mình bị gãy đổ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không ngồi đó để chờ đợi con người tìm đến Ngài nhưng chính Đức Chúa Trời tích cực đi tìm và mang con người trở lại với Ngài. Đức Chúa Trời đã chọc thủng và phá vỡ  bầu không khí ngột ngạt do con người gây ra. Đây chính là sự biểu lộ tấm lòng của Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus sau này khi Ngài đến tìm và cứu kẻ bị hư mất. Chính Đức Chúa Trời đã mở miệng ra trước để bày tỏ mối quan tâm của Ngài với A-đam: “Ngươi ở đâu?” Và Chúa hỏi A-đam: “Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng mình lỏa lồ?” Đây là hai câu hỏi chứa đựng nhiều ý nghĩa trong đó, vừa yêu thương, vừa muốn thử xem phản ứng của A-đam ra sao, vừa quở trách nhẹ nhàng. Đức Chúa Trời thật vô cùng yêu thương. Lòng nhân ái của Ngài quá cao sâu chẳng bao giờ con người tội lỗi chúng ta có thể với tới được. Chắc chắn rằng Chúa biết A-đam và Ê-va đã ăn trái cấm, nhưng Ngài vẫn hỏi: “Ngươi có ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn đó chăng?” Tại sao? Đức Chúa Trời chẳng bao giờ kết án. Ngài để cho con người tự nhận thấy điều sai lầm của chính mình thì tốt hơn. Chính khi đối diện với Chúa lương tâm của mỗi người sẽ trở thành quan tòa cho chính mình.

Chẳng những mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và A-đam bị gãy đổ sau khi con người phạm tội, nhưng mối quan hệ giữa A-đam và vợ mình là Ê-va cũng bị đe dọa. Ông nói: “Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi.” Chính lúc này là lúc A-đam cần phải đứng chung với Ê-va để binh vực việc làm của vợ mình thì mới phải. Nếu chẳng binh vực được thì cũng không nên nói lời làm tổn hại đến vợ của mình thì hay hơn. Rất tiếc, tội lỗi đã phá hủy mối liên hệ giữa vợ chồng và ai nấy đều tìm cách đổ lỗi cho người khác. A-đam tìm cách chạy thoát thân khi đối diện với hậu quả của tội lỗi. Còn Ê-va thì đổ lỗi cho con rắn đã cám dỗ mình. Nàng nói: “Con rắn dỗ dành tôi và tôi đã ăn rồi.” Thay vì thành thật với chính mình, A-đam và Ê-va lại đổ lỗi cho người khác. Sự đổ lỗi cho người khác cho thấy hai điều trong con người của A-đam và Ê-va: (a) tinh thần không muốn nhận trách nhiệm của việc mình làm; và (b) coi thường Đức Chúa Trời và cho rằng Ngài không hiểu biết gì về hành động họ làm. Chắc chắn khi A-đam và Ê-va đổ lỗi cho nhau và cho người khác không làm giảm bớt tính chất trầm trọng của vấn đề họ vi phạm điều Chúa ngăn cấm. Trái lại, làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn trước mặt Chúa. Vì thế, sự đoán phạt của Đức Chúa Trời cho hành động của A-đam lẫn Ê-va rất nghiêm minh.

Ma quỷ lừa dối chúng ta vào trong con đường tội lỗi và khiến chúng ta tưởng rằng phạm tội là điều nhỏ mọn và không đáng kể. Nhưng trên thực tế, tội lỗi gây ra nhiều đổ vỡ và đau khổ cho chúng ta hơn điều chúng ta tưởng. Sau khi phạm tội chúng ta sẽ mang trong mình mặc cảm tội lỗi và đẩy chúng ta xa dần khỏi sự hiện diện và mối tương giao với Đức Chúa Trời, khiến cho chúng ta không còn sự thèm khát cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, tham gia sinh hoạt nhóm họp thờ phượng Chúa, chán ngán trong việc ca ngợi và làm chứng về Chúa cho người khác v.v… Tội lỗi gây ra sự đổ vỡ trong mối tương giao giữa chúng ta với nhau từ ngay trong gia đình, trong hội thánh của Đức Chúa Trời, và ra đến ngoài xã hội. Tội lỗi biến chúng ta từ những con người can đảm, thẳng thắn trở thành những con người hèn nhát, yếu đuối, đổ lỗi cho hoàn cảnh và cho người khác về việc làm của mình. Nhưng cảm tạ Chúa, chúng ta có một Đức Chúa Trời đầy lòng nhân ái, yêu thương. Ngài không ngồi đó để chờ con người quay trở lại nhưng chính Ngài đi tìm và mở lối thoát cho con người sau khi mối tương giao bị đổ vỡ và lòng tin cậy bị sụp đổ. Nếu Chúa Jesus không đến để tìm và cứu chúng ta thì chẳng có phương cách nào chúng ta có thể được cứu và trở lại với Đức Chúa Trời. Hôm nay, có người nào đó trong đời sống chúng ta cũng đang bị mặc cảm tội lỗi vây lấy vì đã phạm tội với Chúa và với chúng ta. Họ cũng đang cần đến chúng ta tiên phong trong việc mở lại mối tương giao đã gãy đổ. Chúng ta hãy cầu nguyện cho người đó và xin Chúa ban cho chúng ta một cơ hội để đến với người đó và đem người đó trở lại với Chúa và với chúng ta. Đó chính là tấm lòng của Đức Chúa Trời và Ngài muốn thấy điều đó trong đời sống của những người tự nhận mình là con của Ngài.

Chúng ta đang ở trong Mùa Khiết Tịnh (Season of Lent), xin Chúa xu hướng chúng ta về với Ngài là Đấng phơi bày công việc của ma quỷ và bản chất của con người tận gốc rễ khi Ngài phán: “Các ngươi bởi cha mình, là ma quỷ, mà sinh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, vì không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tính riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối” (Giăng 8:44). Cảm tạ Chúa, Ngài không để cho con người tự vật lộn trong vũng bùn tội lỗi với chính mình và ma quỷ để tìm đường giải thoát, nhưng Ngài đã xuống thế gian, mang lấy kiếp người như chúng ta, bằng lòng chịu chết trên thập tự giá và sống lại vì chúng ta. Vì thế, chỉ có một mình Chúa Jesus là Đấng có thể giải cứu chúng ta ra khỏi bản chất tội lỗi và nang vuốt của ma quỷ như điều Ngài phán: “Quả thật, quả thật, ta nói với các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi… Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do” (Giăng 8:34, 36). Xin Chúa Thánh Linh mang mỗi chúng ta đến nơi chân thập tự giá của Chúa Jesus, chùn lòng chúng ta xuống để thấy chính mình, thấy được tình yêu của Chúa Jesus và công lao cứu chuộc của Ngài, hầu bởi đó chúng ta nhận được sự tha thứ và buông tha ra khỏi tội lỗi và sống đời thánh thiện và công chính cho Ngài. Amen!

Wednesday, March 12, 2014

CÁCH BÁO TRẢ TUYỆT VỜI NHẤT!

Kinh Thánh: 1 Phi-e-rơ (Peter) 3:8-12

Rốt lại, hết thảy anh em phải đồng lòng đầy thương xót và tình yêu anh em, có lòng nhơn từ và đức khiêm nhường. Ðừng lấy ác trả ác, cũng đừng lấy rủa sả trả rủa sả; trái lại phải chúc phước, ấy vì điều đó mà anh em được gọi để hưởng phước lành. Vả, ai muốn yêu sự sống và thấy ngày tốt lành, thì phải giữ gìn miệng lưỡi, đừng nói điều ác và lời gian dảo; phải lánh điều dữ, làm điều lành, tìm sự hòa bình mà đuổi theo, vì mắt Chúa đoái trông người công bình, tai Ngài lóng nghe lời cầu nguyện, nhưng mặt Ngài sấp lại nghịch với kẻ làm ác.

Dưỡng linh:

Sứ đồ Phi-e-rơ viết thư cho các tín hữu cả người Do-thái lẫn ngoại bang đang sống ngoài xứ Pa-lét-tin. Vì niềm tin và đời sống mới của họ trong Chúa Cứu Thế Jesus, họ phải trải qua sự bách hại từ nơi đồng hương của họ và trở thành đối tượng của sự tấn công của thế giới ngoại giáo thời lúc bấy giờ.  Sự bách hại mà họ đối diện đó là sự bạc đãi, hà khắc, và nguyền rủa của những người trước đây là bạn cùng chia sẻ chung quan điểm thế tục với họ mà nay trở thành kẻ thù chỉ vì họ tin Chúa Jesus Christ (4:3-4). Trong xã hội, tại sở làm, ngay trong gia đình, các Cơ-đốc nhân đã trở thành mục tiêu của sự tấn công bằng lời nói lẫn hành động. Chính vì thế, sứ đồ Phi-e-rơ đã cho tín hữu của ông biết rằng họ được Đức Chúa Trời chọn lựa để thuộc về Ngài. Dẫu cho họ bị con người loại bỏ và từ khước đi nữa, nhưng Đức Chúa Trời xem họ là quý báu vì Ngài đã chọn họ thuộc về Ngài và hình thành họ nên một dân tộc thánh cho Ngài, với sứ vụ duy nhất là để rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi họ ra khỏi nơi tối tăm đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài (2:9).

Thay vì Cơ-đốc nhân trở nên cay đắng và thù hận vì lối đối xử đầy bất công của con người, họ cần phải sống trong tinh thần tha thứ, yêu thương và phó thác chính mình cho Đức Chúa Trời giống như Chúa Cứu Thế Jesus đã làm (2:22-25). Chính Chúa Jesus cũng đã bị con người loại bỏ nhưng được Đức Chúa Trời trân quý và Ngài trở thành hòn đá góc nhà, qua đó hội thánh của Đức Chúa Trời được hình thành. Sứ đồ Phi-e-rơ cho rằng không có lý do gì để Cơ-đốc nhân phải oán trách và tìm cách trả thù những người làm hại và ra tay tàn diệt đời sống của mình, vì chính hành động điên cuồng và dại dột của con người làm nên chương trình tuyệt vời của Đức Chúa Trời cho chính họ và cho hội thánh của Ngài. Để đưa ra một công thức chung về thái độ và cách xử sự của Cơ-đốc nhân trong mọi hành cảnh tương tự như độc giả của mình, sứ đồ Phi-e-rơ nói như thế này: “Rốt lại, hết thảy anh em phải đồng lòng đầy thương xót và tình yêu anh em, có lòng nhơn từ và đức khiêm nhường.” Thay vì oán hận và tìm cách trả thù những người làm hại mình, sứ đồ Phi-e-rơ khuyên nên có lòng thương xót, yêu thương, nhơn từ và đức khiêm nhường. Cơ-đốc nhân cần phải có lòng thương xót và yêu thương những người làm hại mình vì họ làm điều đó trong sự ngu muội của mình. Nếu họ biết Đức Chúa Trời như Cơ-đốc nhân biết thì chắc chắn họ đã không hành động như vậy. Đi xa hơn việc bày tỏ lòng thương xót, sứ đồ Phi-e-rơ nói Cơ-đốc nhân cần phải chúc phước cho những người làm hại mình thay vì tìm cách trả thù. Vì chính Đức Chúa Trời kêu gọi Cơ-đốc nhân đến nếp sống để chịu khổ và qua đó Đức Chúa Trời ban phước trên đời sống của người chịu khổ vì danh Chúa.

Hành động của những người bắt bớ và làm hại tín hữu thể hiện bằng cách lấy lời nói gian dối để vu cáo, tìm cách rỉ tai với những tin đồn bịa đặt để bôi nhọ danh dự và uy tín của Cơ-đốc nhân, và hùa nhau làm những việc gian ác để loại bỏ tín hữu ra khỏi vòng pháp luật chỉ vì lòng ghen ghét và ganh tị, giống như các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đã từng đối xử với Chúa Jesus. Rất dễ cho Cơ-đốc nhân sẽ phản ứng và đối xử với kẻ thù của mình một cách giống cách bị kẻ thù đối xử, sứ đồ Phi-e-rơ khuyên tín hữu của ông không nên sống giống như kẻ thù của họ. Ngược lại, Cơ-đốc nhân “phải giữ gìn miệng lưỡi, đừng nói điều ác và lời gian dảo; phải lánh điều dữ, làm điều lành, tìm sự hòa bình mà đuổi theo.” Đó là dấu hiệu của người yêu mến sự sống của mình và muốn thấy những ngày tốt lành của cuộc đời mình. Người biết yêu mến linh hồn mình và muốn được Đức Chúa Trời ban phước và nhậm lời cầu nguyện của mình thì phải biết gìn giữ đời sống mình khỏi những điều xấu xa trên. Đức Chúa Trời chỉ đứng với và bênh vực những người kính sợ Chúa, biết gìn giữ đời sống mình trong lời nói và việc làm trong con đường tin kính. Nhưng Đức Chúa Trời sấp mặt nghịch lại và chẳng nghe lời cầu nguyện của người gian ác buông mình vào trong nếp sống bất kính bày tỏ qua lời nói và việc làm. Đức Chúa Trời làm bạn với người kính sợ Đức Chúa Trời và là kẻ thù của người gian ác. Chính những lời này mang lại sự an ủi và khích lệ cho các tín hữu của sứ đồ Phi-e-rơ ngày xưa là dường nào để họ tiếp tục theo đuổi nếp sống thánh thiện và công chính, phó mình cho “Đấng xử đoán công bình” là Đức Chúa Trời (2:23a).

Sống trên đời ai cũng một lần bị người khác làm tổn thương, bạc đãi, bất công, vu oan giáng họa v.v… Trong hoàn cảnh như thế, rất dễ dàng cho chúng ta tìm cách để báo thù. “Ăn miếng trả miếng” là phản ứng tự nhiên của con người sa ngã. Nhưng là con cái thật của Đức Chúa Trời, sứ đồ Phi-e-rơ nói chúng ta phải có một thái độ và phản ứng khác với con cái của ma quỷ. Đó là chúng ta phải để cho Đức Chúa Trời báo trả thay cho chúng ta, còn chúng ta thì chúc phước. Chúng ta càng chúc phước bao nhiêu, thì Đức Chúa Trời càng báo trả kẻ thù chúng ta bấy nhiêu. Con người báo thù thì chỉ gây thêm sự báo thù và không giải quyết được vấn đề tận gốc rễ. Hãy để cho Đức Chúa Trời báo thù thì hay hơn nhiều. Sự báo thù của Đức Chúa Trời là phương cách tốt nhất để giải quyết vấn đề “đến nơi đến chốn” và cách Ngài báo thù thì “đẹp” hơn nhiều so với cách con người báo thù. Cơ-đốc nhân không nên trả thù người khác nhưng hãy để cho Đức Chúa Trời báo thù. Trong Kinh Thánh cho chúng ta thấy nguyên tắc này; đặc biệt là trường hợp của vua Sau-lơ với Đa-vít. Khi Cơ-đốc nhân báo thù thì người khác có thể thù chúng ta và tìm cách lại hại chúng ta nhiều hơn. Nhưng khi Đức Chúa Trời báo thù thì chẳng ai có thể trả thù Đức Chúa Trời được! Chúng ta hãy nhớ điều này: Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương nhưng cũng là Đấng công bình. “Ai gieo giống chi thì gặt giống nấy!” Hãy tiếp tục phó mình cho Đức Chúa Trời là “Đấng xử đoán công bình.” Ngài đã từng xử công bình cho Chúa Jesus thì Ngài cũng sẽ xử công bình cho chúng ta, mặc dầu phiên toà và bản án của Ngài mất nhiều thời gian chờ đợi nhưng rất chắc chắn và tuyệt đối công bình. Thật tạ ơn Chúa vô cùng!

Trong Mùa Khiết Tịnh (Season of Lent) chúng ta học đòi theo gương của Chúa Jesus yêu quý trong cách Ngài phản ứng và đối xử với những kẻ làm cho Ngài bị tổn thương, đau khổ, và thậm chí đóng đinh Ngài. Phi-e-rơ, một trong ba môn đồ thận cận nhất của Chúa Jesus, theo dõi và quan sát cách sống của Ngài trong trường thống khổ như thế nào. Và ông cũng cho thấy sự chịu đựng của Chúa mang lại phước hạnh cho những kẻ thuộc về Ngài như thế nào. Phi-e-rơ viết: “…vì Ðấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chơn Ngài; Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá; Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề ngăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Ðấng xử đoán công bình; Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhơn những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh” (1 Phi-e-rơ 2:21b-24).

Thursday, March 6, 2014

QUÁ XƯA NHƯNG VẪN HỮU HIỆU

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 3:1-6

Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Ðức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao? Người nữ đáp rằng: Chúng ta được ăn trái các cây trong vườn, song về phần trái của cây mọc giữa vườn, Ðức Chúa Trời có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá-động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng. Rắn bèn nói với người nữ rằng: Hai ngươi chẳng chết đâu; nhưng Ðức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Ðức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác. Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.

Dưỡng linh:

Câu chuyện con rắn cám dỗ A-đam và Ê-va phạm tội chống nghịch Đức Chúa Trời trở thành quá quen thuộc nhưng chẳng bao giờ trở nên cũ kỷ theo thời gian. Việc ma quỷ sử dụng con rắn để cám dỗ con người là chuyện bình thường. Trong Kinh Thánh dùng hình ảnh con rắn với hai ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau: (a) con rắn chỉ về ma quỷ là kẻ hay đi lừa đảo và gạt gẫm con người để phản loạn với Đức Chúa Trời (Khải huyền 12:9); nhưng (b) con rắn cũng chỉ về Chúa Jesus như là Đấng Cứu Chuộc và Chữa Lành cho dân sự Đức Chúa Trời (Dân-số ký 21:5-9; Giăng 3:14-15). Trong trường hợp Sáng-thế ký đoạn 3 thì con rắn xuất hiện lần đầu tiên trong Kinh Thánh lại là với hình ảnh không mấy thiện cảm đối với con người. Bản chất của nó là dối trá và quỷ quyệt, nói năng nhỏ nhẹ, lời lẽ ngọt ngào dễ lọt tai những ai nhẹ dạ, nhất là phụ nữ dễ bị ảnh hưởng bởi lời nói hơn là mắt thấy như người nam (Ma-thi-ơ 5:27). Ma quỷ không dựng nên con người nhưng nó biết rất rõ nhược điểm của mỗi giới tính. Vì thế, ma quỷ có lý do để chọn Ê-va, thay vì A-đam, làm đối tượng cho cuộc thử nghiệm đầy lý thú chống lại Đức Chúa Trời: (a) Ê-va là người nữ, dễ bị thu hút và cám dỗ bởi lời nói hơn người nam; (b) khi Ê-va bị sa ngã sẽ kéo theo cả dòng dõi của nàng vì người nữ có ảnh hưởng trên con cái hơn người nam; và (c) Ê-va là người không nghe trực tiếp lời cấm của Đức Chúa Trời phán với A-đam.

Khi ma quỷ đến với Ê-va thì nó nhắc lại mạng lịnh của Đức Chúa Trời phán với A-đam về việc không được ăn trái cấm nhưng thay đổi giọng điệu và làm cho giới mạng trở nên “nghiêm trọng” hơn điều Ngài thật sự nói. Trước hết, ma quỷ tạo sự nghi ngờ về tình thương của Đức Chúa Trời đối với con người qua câu nói: “Mà chi! Ðức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?” Vì Ê-va không phải là người nghe trực tiếp lời phán của Chúa nhưng nghe qua lời tường thuật của A-đam, cho nên nàng suy nghĩ vấn đề ngăn cấm của Chúa có tính cách nghiêm trọng hơn. Chúng ta hãy so sánh hai câu nói của Ê-va với con rắn và lời ngăn cấm của Chúa thật sự phán với A-đam để thấy được suy nghĩ trong đầu của Ê-va về lịnh cấm của Đức Chúa Trời đối với con người như thế nào.

·         Ê-va nói với con rắn: “Chúng ta được ăn trái các cây trong vườn, song về phần trái của cây mọc giữa vườn, Ðức Chúa Trời có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá-động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng.”

·         Chúa phán bảo A-đam như sau: “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết” (Sáng-thế ký 2:16-17).

Hơn thế nữa, ma quỷ bắt đầu gieo vào trong đầu của Ê-va có suy nghĩ khác về Đức Chúa Trời là Đấng chẳng những khắt khe với con người, nhưng phải chăng Ngài còn là Đấng không chân thật trong lời nói của Ngài? Việc Ngài ngăn cấm con người không cho ăn trái cây biết điều thiện và điều ác xuất phát từ lòng ích kỷ, sợ con người trở thành khôn ngoan như mình chăng? Nhưng làm thế nào một Đức Chúa Trời là Đấng tạo hóa, tạo dựng nên con người mà lại sợ con người bằng mình hay hơn mình được? Thế nào trong tâm trí non nớt và cạn cợt của Ê-va, nàng nghe theo cách dễ dàng và không hề suy nghĩ cặn kẽ vấn đề ma quỷ nêu ra. Ma quỷ đánh ngay vào trong lòng khao khát muốn được trở nên khôn ngoan của Ê-va và nàng đã bị ngã gục ngay trong chỗ yếu đuối này. Khi con người phạm tội, chìu theo tư dục mình phạm tội thì sẵn sàng tìm cách lôi cuốn người khác vào trong con đường tội lỗi như mình. Chính vì thế, sau khi Ê-va ăn trái cấm thì trao cho chồng mình cùng ăn. Tội lỗi chẳng bao giờ dừng lại trong chính nó. Nó có sức thu hút, quyến rũ, mời gọi càng nhiều người tham gia càng tốt!

Kế hoạch cám dỗ của ma quỷ đối với con người từ xưa đến nay vẫn không thay đổi. Nếu có thay đổi đi chăng nữa chỉ là hình thức bên ngoài để cập nhật với hoàn cảnh nhưng nội dung bên trong vẫn như xưa. Điều đầu tiên ma quỷ tìm cách bước vào trong đời sống của con cái Chúa là thâm nhập vào trong tâm trí và điều khiển suy nghĩ, khiến cho họ bắt đầu nghi ngờ Đức Chúa Trời về tình yêu của Ngài về sự ban cho với những “giới hạn” nào đó đối với con người. Ngoài ra, ma quỷ luôn luôn gieo nghi ngờ qua những lời nói của người khác về Đức Chúa Trời, và thông thường những lời nói này được lặp đi lặp lại với những thay đổi nho nhỏ trong đó, với một chủ đích khiến cho Cơ đốc nhân rơi vào một trong hai thái độ sau đây: (a) hoặc là xem thường mạng lịnh của Đức Chúa Trời; (b) hoặc là làm cho mạng lịnh đó trở nên quá nghiêm trọng đến nỗi đánh mất đi chất liệu tình yêu của Đức Chúa Trời ở trong đó. Ma quỷ thường đẩy Cơ đốc nhân đi từ thái cực này qua thái cực kia để dẫn họ xa dần con đường mà Đức Chúa Trời muốn họ đi. Ma quỷ cũng không ngần ngại khiến cho Cơ đốc nhân suy nghĩ rằng những gì Đức Chúa Trời nói trong Kinh Thánh là không hoàn toàn đúng như vậy, khiến cho con người nghi ngờ động cơ chánh đáng của Đức Chúa Trời trong điều Ngài ngăn cấm con người. Thay vì cho con người thấy những gì Đức Chúa Trời không muốn mình làm là vì tình yêu của Ngài đối với con người, ma quỷ khiến cho con người suy nghĩ rằng Đức Chúa Trời là Đấng ích kỷ, không muốn con người hơn Ngài nên không muốn con người làm điều nọ điều kia! Đây cũng là cách ma quỷ dùng để gây chia rẽ hội thánh của Đức Chúa Trời giữa các con cái Chúa với nhau. Bản tánh tự nhiên của con người chúng ta rất dễ suy nghĩ không tốt về người khác hơn là nghĩ tốt về nhau. Chính vì thế, ma quỷ đã lợi dụng bản tính này của con người tạo nên nhiều đổ vỡ trong hội thánh của Ngài. Là con cái thật của Chúa, chúng ta cần cẩn trọng trong mọi sự, đừng để ma quỷ lợi dụng chính mình để nói và làm những điều không mang lại ích lợi cho đời sống tâm linh của chính chúng ta, gia đình chúng ta, và hội thánh của Ngài.

Cầu nguyện:

Lạy Cha yêu thương, con nài xin Chúa Thánh Linh giúp con mỗi ngày nhận ra sự yếu đuối của chính mình và cũng nhận biết mưu kế của ma quỷ hầu tránh xa con đường tội lỗi, giữ mình trong sự thánh khiết và đẹp lòng Ngài. Xin cho con chuyên tâm học hỏi Lời Chúa và lắng nghe tiếng phán của Ngài để con không bị ma quỷ đánh lừa làm theo ý muốn của nó mà chống nghịch lại với Chúa, gây đau buồn cho Ngài, cho anh em, và cho hội thánh của Chúa. Amen!