Thursday, December 18, 2014

NIỀM VUI ĐÍCH THỰC

Phi-líp (Philippians) 4:4-9
Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi. Hãy cho mọi người đều biết nết nhu mì của anh em. Chúa đã gần rồi. Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn và trình các sự cầu xin của mình cho Ðức Chúa Trời. Sự bình an của Ðức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Ðức Chúa Jêsus Christ. Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều cho chơn thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến. Hễ sự gì anh em đã học, đã nhận, đã nghe ở nơi tôi và đã thấy trong tôi, hãy làm đi, thì Ðức Chúa Trời của sự bình an sẽ ở cùng anh em.

Suy gẫm:
Sứ đồ Phao-lô viết những lời này trong hoàn cảnh không phải là thuận lợi hay đang đối diện với một tương lai rộng mở trước mắt. Ông đang bị giam cầm trong ngục tù tại Rô-ma và chờ ra tòa để bị xét xử vì tội giảng Tin Lành của Chúa Jesus Christ. Hơn thế nữa, sứ đồ Phao-lô có lắm kẻ thù người Do-thái sống chết với niềm tin cũ đang tìm cách sát hại chỉ vì ông tuyên bố Chúa Jesus Christ là Đức Chúa Trời và Ngài đã sống lại từ cõi chết. Dẫu cho điều gì xảy đến với mình, sứ đồ Phao-lô vẫn kiên định trong niềm tin và có một thái độ sống lạc quan, có sức lôi cuốn người khác vào trong tinh thần sống mạnh mẽ và phước hạnh như mình. Hoàn cảnh chung quanh không phải là chướng ngại vật cho sự phát triển đời sống tâm linh của vị sứ đồ quán quân này. Trái lại, sự khó khăn, tù đày, lòng ghen ghét và căm thù của người khác là “đòn bẩy thuộc linh” để đưa Phao-lô lên những bậc cao hơn trong sự nhận biết Chúa và mang lại phước hạnh cho nhiều người. Cảnh ngục tù đen tối và chán chường không làm hoang phí thời gian và cuộc đời của Phao-lô; trái lại, Phao-lô tận dụng nó để sản sinh ra những “thư tín ngục thất” (Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se, và Phi-lê-môn) mang tính chất thần học lẫn thực nghiệm chứa đựng mối quan hệ thâm sâu với Chúa, đã mang lại nguồn cảm hứng cho hội thánh Đức Chúa Trời biết là dường nào! Và các hội thánh lúc bấy giờ cũng nhờ việc Phao-lô ở tù được tăng trưởng mạnh mẽ. Bí quyết nào đã giúp cho sứ đồ Phao-lô có thể sống với tinh thần đắc thắng trong những hoàn cảnh nghiệt ngã của đời sống và chức vụ như vậy? Hãy cùng xem những gì ẩn tàng bên dưới những hàng chữ vị sứ đồ này để lại cho Hội Thánh tại Phi-líp ngày xưa và cũng cho chúng ta ngày nay.

Trước hết, Phao-lô nói hãy vui mừng trong những hoàn cảnh mà mình đang đối diện vì đó là cơ hội để Cơ đốc nhân phát triển đức “nhu mì” của mình. Từ “nhu mì” trong câu này được dịch là “mềm mại” (I Tim 3:3; Tít 3:2) hay “hiền lành” (1 Phi 2:18). Đây là một từ diễn tả hành động chịu đựng và quan tâm đến người khác trong khi mình phải ở trong một hoàn cảnh không mấy vui lòng. Thông thường, khi gặp điều không vui hay bất hạnh, chúng ta muốn người khác quan tâm đến mình hơn là mình quan tâm đến người khác. Cách để chúng ta quên mình và có niềm vui trong nghịch cảnh là quan tâm đến nhu cầu và hoàn cảnh của người chung quanh. Phao-lô nói lý do cần phải bày tỏ đức nhu mì vì “Chúa đã gần rồi.” Việc Chúa gần trở lại sẽ khiến cho Cơ đốc nhân muốn sống đẹp lòng Chúa hơn và muốn đem nhiều người đến với Ngài hơn.

Kế đến, sứ đồ Phao-lô nói hãy vui mừng trong những hoàn cảnh mình đang đối diện vì đó là cơ hội để Cơ đốc nhân kinh nghiệm quyền năng hành động của Chúa qua sự cầu nguyện. Cầu nguyện, nài xin, tạ ơn, trình dâng mọi sự mình đang gặp phải cho Đức Chúa Trời là cách để cho lòng chúng ta tràn đầy sự bình an của Ngài. Chính sự bình an đó sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng, suy nghĩ chúng ta trong đường lối của Ngài. Thông thường chúng ta cảm thấy bất an, khốn khổ, buồn thảm vì thiếu sự cầu nguyện, nài xin, tạ ơn và trình mọi sự của mình cho Đức Chúa Trời. Sự cầu nguyện với lòng tin cậy Đức Chúa Trời là Đấng biết hết mọi sự và cho phép mọi việc xảy ra cho chúng ta với một chương trình tốt lành nhất của Ngài sẽ mang lại cho lòng chúng ta sự bình an kỳ diệu. Sự bình an này chính là sự yên nghỉ của linh hồn và đời sống chúng ta trong bàn tay yêu thương và chăm sóc của Ngài. Vì Phao-lô có kinh nghiệm thật sự vui mừng trong nghịch cảnh và đời sống của ông trở nên bằng chứng sống về Tin Lành bình an của Đức Chúa Trời.

Mùa Giáng Sanh là mùa  hoan hỉ  cho cả  nhân  loại  (joy to the world) vì khi Chúa Jesus ra đời, các thiên sứ báo tin cho các gã mục đồng tại triền núi Bết-lê-hem như sau: “Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa” (Lu-ca 2:10-11). Niềm hoan hỉ của mùa Giáng Sanh không ra từ: cây thông, Ông Già Nô-ên, các buổi tiệc tùng họp mặt gia đình, mua sắp và tặng quà cho nhau, các bài nhạc Giáng Sanh, và ngay cả chương trình lễ kỷ niệm Chúa Jesus Giáng Sanh trong các ngôi thánh đường v.v… Tất cả những điều đó sẽ qua sau mùa Giáng Sanh. Niềm vui đích thực của mùa Giáng Sanh chính là Chúa Jesus. Ngài đến trong trần gian này để cứu vớt nhân loại ra khỏi quyền lực của ma quỷ và tội lỗi, và Chúa cư trú trong từng cuộc đời tội lỗi và xấu xa khi bằng lòng tiếp nhận Ngài là Cứu Chúa của đời sống mình. Nếu lấy Chúa Jesus ra khỏi các sinh hoạt của gia đình, hội thánh, và đời sống cá nhân thì niềm vui trong mùa Giáng Sanh chỉ là giả tạo, tạm thời, và sau đó là sự trống vắng. Xin Chúa cho mỗi chúng ta trong mùa Giáng Sanh năm nay kinh nghiệm được Chúa Jesus là niềm vui đích thực dẫu cho hoàn cảnh và con người chung quanh chúng ta không được như ý mình muốn.

Thursday, December 11, 2014

LUẬT PHÁP và ÂN SỦNG

Mác (Mark) 2:23-28
Nhằm ngày Sa-bát, Ðức Chúa Jêsus đi qua đồng lúa mì; đang đi đường, môn đồ Ngài bứt bông lúa mì. Các người Pha-ri-si bèn nói cùng Ngài rằng: Coi kìa, sao môn đồ thầy làm điều không nên làm trong ngày Sa-bát? Ngài đáp rằng: Các ngươi chưa đọc đến sự vua Ða-vít làm trong khi vua cùng những người đi theo bị túng đói hay sao? Thể nào trong đời A-bi-tha làm thầy cả thượng phẩm, vua ấy vào đến Ðức Chúa Trời, ăn bánh bày ra, lại cũng cho những người đi theo ăn nữa, dầu bánh ấy chỉ những thầy tế lễ mới được phép ăn thôi? Ðoạn, Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người. Vậy thì Con người cũng làm chủ ngày Sa-bát.

Suy gẫm:
Điều Chúa Jesus đề cập đến trong câu chuyện này được trích từ Phục-Truyền 23:25 về luật được ăn sản vật trên đồng lúa mì của người lân cận khi đói, nhưng phải tránh ngày Sa-bát (Xuất 31:21). Rồi Chúa Jesus lại đưa ra một khía cạnh khác của vấn đề này bằng cách trích dẫn câu chuyện của Đa-vít trong lúc chạy trốn khỏi nanh vuốt độc ác của vua Sau-lơ, ông đã được thầy tế lễ thượng phẩm A-bi-tha cho ăn bánh trần thiết trong đền thờ, là bánh chỉ dành cho thầy tế lễ ăn mà thôi. Như thế, có phải thầy tế lễ A-bi-tha vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời không? Chắc chắn là không. Chúa Jesus giải thích tại sao hành động của thầy tế lễ A-bi-tha được chấp nhận và dùng đó để biện minh cho việc làm của các môn đồ của Ngài. Qua đó, Chúa Jesus chỉ trích lối giải kinh và ứng dụng giáo điều của người Pha-ri-si, nhằm cố bảo vệ cho luật pháp mà thiếu mất tình yêu và ân sủng của Chúa. Mục đích Chúa thiết lập luật pháp và ngày Sa-bát để phục vụ cho nhu cầu của con người chứ không phải để nhốt con người trong cảnh khó nghèo.

Bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời được phản ánh trong luật pháp. Nhưng Đức Chúa Trời cũng là tình yêu. Cốt lõi của việc thi hành luật pháp là bày tỏ tình yêu của con người đối với Đức Chúa Trời và với người khác. Người Pha-ri-si dùng luật pháp để bày tỏ bản chất độc ác và kiêu ngạo của mình đối với người khác dưới danh nghĩa là làm “vừa lòng Đức Chúa Trời” và bảo vệ cho “chính nghĩa” của Ngài. Khi nào con người sử dụng luật pháp mà thiếu mất tình yêu, khi đó luật pháp tợ như một bộ xương khô hay một cây chuổi chà trong tay con người, chỉ gây tổn thương cho Đức Chúa Trời và gây đau đớn cho Hội Thánh. Luật pháp mà không có ân sủng hay tình yêu chẳng khác gì một miếng móp (sponge) không thấm nước, chỉ tạo nên những vết trày trụa trên mặt bàn là tấm lòng con người. Chính tình yêu đã làm cho công việc và lời nói của Cơ đốc nhân sống theo tiêu chuẩn Lời Chúa trở nên vừa thẳng thắn nhưng yêu thương để tẩy sạch những vết nhơ và mang lại phước hạnh cho người cần được gây dựng.

Sứ đồ Giăng nói Chúa Jesus là “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn [grace] và lẽ thật [truth]” (Giăng 1:14a) và “Luật pháp [law] đã ban cho bởi Môi-se, còn ơn [grace] và lẽ thật bởi Đức Chúa Jesus Christ mà đến” (Giăng 1:17). Trong thời gian thi hành chức vụ trên đất, Chúa Jesus có thái độ và lời nói rất thẳng thắn và chẳng bao giờ sợ làm mất lòng thành phần thông giáo và Pha-ri-si vì bản chất giả hình và gian manh của họ. Họ chỉ áp dụng luật pháp khi nào có lợi cho chính họ. Và Chúa Jesus cũng đã dọn sạch đền thờ Giê-ru-sa-lem hai lần. Dẫu vậy, Ngài rất yêu thương và nhân từ đối với thành phần tội lỗi nhưng biết hối cải như người đàn bà xấu nết, Xa-chê... Chúa Jesus nói “Con Người là Chủ của ngày Sa-bát” là như vậy!

Là con người sa ngã, chúng ta dễ bị rơi vào một trong hai thái cực sau đây: (a) có thể chúng ta là người chỉ thích nghe những lời ngọt ngào, nhỏ nhẹ, yêu thương nhưng lại không biết nhận sai lầm của mình và ăn năn với Chúa. Thật ra đó là phản ứng tâm lý nhằm che đậy và trấn an lương tâm mắc tội khi đối diện với Lời Chúa; hay (b) có thể chúng ta là người chỉ muốn dùng luật lệ, nguyên tắc, luật pháp nhằm đạt được mục đích cá nhân, chẳng nghĩ đến việc làm sáng danh Chúa, mang lại sự gây dựng cho dân sự của Chúa, và chinh phục linh hồn tội nhân trở về với Ngài. Chỉ khi nào chúng ta bằng lòng để Chúa Jesus làm chủ đời sống mới có thể sống quân bình giữa luật pháp và ân sủng. Đó là lý do tại sao Chúa Jesus đã đến trong trần gian này. Cầu xin Chúa Jesus sống và làm chủ đời sống chúng ta để bày tỏ Đấng mà trong Ngài có cả luật pháp [sự công chính] và ân sủng [yêu thương] trong và qua chúng ta mỗi ngày.

Wednesday, December 3, 2014

THÁI ĐỘ SỐNG CỦA CƠ ĐỐC NHÂN

Giu-đe (Jude) 1:20-23
Hỡi kẻ rất yêu dấu, về phần anh em, hãy tự lập lấy trên nền đức tin rất thánh của mình, và nhơn Ðức Thánh Linh mà cầu nguyện, hãy giữ mình trong sự yêu mến Ðức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời. Hãy trách phạt những kẻ nầy là kẻ trù trừ, hãy cứu vớt những kẻ kia, rút họ ra khỏi lửa; còn đối với kẻ khác, hãy có lòng thương lẫn với sợ, ghét cả đến cái áo bị xác thịt làm ô uế.

Suy gẫm:
Thư tín Giu-đe mang cùng một sắc thái với thư 2 Phi-e-rơ, nhằm mục đích nhắc nhở Cơ đốc nhân phải đứng vững trong lẽ thật cho đến cuối cùng, chống trả các giáo sư giả đang tìm cách reo rắc giáo lý giả hiệu trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Giu-đe để lại những lời quý báu này cho tín hữu ngày xưa cũng như chúng ta ngày nay đang sống trong giờ phút cuối cùng của lịch sử nhân loại. Sau khi giải luận về tình trạng đạo lý suy đồi của Hội Thánh Đức Chúa Trời trong ngày sau cùng như thế nào, Giu-đe xoay qua tín hữu và trao cho họ những lời khuyên rất hữu ích liên quan đến niềm tin Cơ đốc.

Trước hết, Giu-đe khuyên tín hữu cần phải đứng vững trong niềm tin và đời sống đạo chân chính của mình. Khi Giu-đe nói, “Hãy tự lập lấy trên nền đức tin rất thánh của mình.” có nghĩa vấn đề niềm tin là vấn đề riêng tư, mỗi người phải tự quyết định và chọn lấy cho mình một hướng đi. Tuy nhiên, tín hữu không thể nào sống còn trong đức tin của mình nếu không có sự giúp đỡ của Chúa Thánh Linh và sự thương xót của Đức Chúa Trời: “… nhơn Ðức Thánh Linh mà cầu nguyện, hãy giữ mình trong sự yêu mến Ðức Chúa Trời, và trông đợi sự thương xót của Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời.” Sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta trong Chúa Jesus Christ không phải chỉ có một chiều, bèn là hai chiều, đòi hỏi sự tham dự và quyết định của con người lẫn Đức Chúa Trời. Chính vì thế Giu-đe khuyên tín hữu phải giữ mình trong sự tin kính Chúa và trông đợi sự thương xót của Đức Chúa Jesus cho được sự sống đời đời. Đức Chúa Trời chẳng có thể giữ tín hữu trong sự tin kính Chúa trong khi chính họ lại không muốn điều đó. Chúa chỉ giúp những ai trước hết phải biết giúp chính mình và khao khát Chúa giữ cho mình. Lòng tin kính (godliness) là món quà Chúa ban cho người tin Chúa vì nó là sự san sẻ bản tánh thánh khiết của Ngài cho chúng ta. Nếu chúng ta nhận thức rằng lòng tin kính do Ngài ban cho thì chúng ta sẽ hết lòng gìn giữ và bảo vệ nó. Lòng tin kính là sự bảo toàn (safeguard) của đời sống chúng ta.

Sau khi đã lo cho chính mình, tín hữu phải biết lo cho nhau. Chính mình được cứu thì cũng phải mong ước nhiều người được cứu như mình. Giu-đe nói: “Hãy trách phạt những kẻ nầy là kẻ trù trừ, hãy cứu vớt những kẻ kia, rút họ ra khỏi lửa; còn đối với kẻ khác, hãy có lòng thương lẫn với sợ, ghét cả đến cái áo bị xác thịt làm ô uế.” Lòng thương xót là điều phải cần có trong cộng đồng tín hữu Cơ đốc vì mỗi người là tạo vật yếu đuối cần nâng đỡ. Ra tay cứu vớt những người đang đứng bờ vực thẩm của hỏa ngục vì họ bị lôi cuốn vào trong nếp sống tội lỗi như người thế gian và giáo lý sai lầm. Nhưng khi tín hữu giúp đỡ nhau cần phải có một thái độ rõ ràng đối với tội lỗi: ghét tội lỗi nhưng yêu thương tội nhân như Chúa Jesus. “Ghét cả đến cái áo bị xác thịt làm ô uế” có nghĩa thái độ cương quyết loại trừ tội lỗi và bất cứ hình thức hay biểu hiện của tội lỗi. Nhưng phải yêu thương kẻ yếu đuối tội lỗi vì mình cũng là tội nhân giống như họ. Nếu Chúa không thương xót thì chính chúng ta cũng sẽ rơi vào tình trạng giống như họ. Tuy nhiên, vì chính mình đã được cứu rồi, được mở mắt và được đem ra khỏi thế giới tối tăm tội lỗi đáng gớm ghiếc, nên chúng ta cần phải có một thái độ dứt khoát đối với tội lỗi. Khi tín hữu biết gớm tội lỗi thì mới có thể tránh xa tội lỗi.

Tội lỗi là điều vô cùng nghiêm trọng và hệ trọng đối với Đức Chúa Trời. Sự giáng sanh của Chúa Jesus là sự bày tỏ thái độ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi. Không có điều nào trong thế giới của loài người có thể giải quyết vấn đề tội lỗi của nhân loại nên Con của Ngài phải đến trần gian này để chết thay cho con người. Do đó, người kinh nghiệm sự đền tội của Chúa Jesus và sự tha thứ của Đức Chúa Trời sẽ có thái độ rất dứt khoát và mạnh mẽ đối với tội lỗi. Như điều Chúa Jesus phán: “Vậy nếu con mắt bên hữu xui cho ngươi phạm tội, thì hãy móc mà quăng nó cho xa ngươi đi; vì thà chịu một phần thân thể ngươi phải hư, còn hơn là cả thân thể bị ném vào địa ngục. Lại nếu tay hữu xui cho ngươi phạm tội, thì hãy chặt mà liệng nó cho xa ngươi đi; vì thà chịu một phần thân thể ngươi phải hư, còn hơn là cả thân thể vào địa ngục” (Ma-thi-ơ 5:29-30). Trong Mùa Giáng Sanh chúng ta cùng nhau kỷ niệm về sự đến của Con Đức Chúa Trời với tấm lòng biết ơn Ngài vì nếu Ngài không đến thì chúng ta chẳng bao giờ được giải cứu tội lỗi. Nhưng đồng thời, sự ra đời của Chúa Jesus cũng nhắc nhở chúng ta phải có thái độ gớm ghê tội lỗi và dứt khoát với tội lỗi trong bất cứ hình thức nào. Xin Chúa giúp chúng ta sống và gìn giữ sự thánh khiết và tin kính cho đến ngày Chúa Jesus trở lại, tức sự đến lần thứ hai của Ngài.

Thursday, November 20, 2014

AI THẬT SỰ CẦN CHÚA?

Mác (Mark) 2:14-17
Ngài vừa đi qua thấy Lê-vi, con A-phê, đương ngồi tại sở thâu thuế, thì phán cùng người rằng: Hãy theo ta. Người đứng dậy theo Ngài. Ðức Chúa Jêsus đương ngồi ăn tại nhà Lê-vi, có nhiều kẻ thâu thuế và người có tội đồng bàn với Ngài và môn đồ Ngài; vì trong bọn đó có nhiều kẻ theo Ngài rồi. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si thấy Ngài ăn với người thâu thuế và kẻ phạm tội, thì nói với môn đồ Ngài rằng: Người cùng ăn với kẻ thâu thuế và người có tội sao! Ðức Chúa Jêsus nghe vậy, bèn phán cùng họ rằng: Chẳng phải kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; ta chẳng phải đến gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội.

Suy gẫm:
Khi bắt đầu thi hành chức vụ Chúa Jesus chọn một số người rồi huấn luyện để làm việc chung với mình. Ngài không chọn những con người tài giỏi hay đạo đức như giới thông giáo và Pha-ri-si, bèn là những con người tầm thường trong các nẻo đường của cuộc đời như: Giăng, Gia-cơ, Phi-e-rơ, Anh-rê; và thậm chí là ngay cả những người đang sống trong bóng đêm dài của tội lỗi như Ma-thi-ơ, kẻ thâu thuế được liệt kê chung với phường điếm đĩ trong xã hội thời bấy giờ. Nhưng tại sao việc làm của Chúa Jesus luôn luôn là mục tiêu tấn công và chỉ trích của giới thông giáo và Pha-ri-si? Có ít nhất là ba lý do:

Lòng kiêu ngạo đã khiến cho giới thông giáo và Pha-ri-si cảm thấy khó chịu và lên tiếng chỉ trích việc làm của Chúa Jesus. Tinh thần chỉ trích Chúa Jesus của họ đôi khi là biểu hiện của lòng kiêu ngạo ẩn tàng bên trong. Hay cũng có thể đó là sự bực tức bị dồn nén trong lòng nay bộc phát cách vô thức. Khi phê phán, lên án việc làm của Chúa Jesus, họ tự đặt họ trong một vị thế cao hơn Ngài. Ngược lại, cũng có thể khi tố cáo và phê phán Chúa Jesus ngụ ý rằng họ không có khả năng làm được việc như Ngài đã làm. Nói cách khác, khi cảm thấy bị mất mác, thua thiệt một cái gì đó đáng lý họ phải có, thì họ lại lên án hay chỉ trích việc người khác đang làm. Thông thường, những người phê phán việc làm của người khác là người ít khi nào làm nên được tích sự gì. Có thể nói, phê phán và chỉ trích người khác là loại “vũ khí” rẻ tiền nhất và hèn yếu nhất để tự bảo vệ thể diện hay sỉ diện của mình!

Sự ghen tức và lòng ganh tị trong con người là con đẻ của lòng kiêu ngạo, đã khiến cho giới thông giáo và Pha-ri-si lên án việc làm của Chúa Jesus. Họ tự hỏi, “Tại sao tôi tài giỏi và tốt như thế này mà không được Ngài chọn? Trong khi Ngài lại đi chọn những con người tội lỗi xấu xa như thế?” Vô tình lòng ghen tức và ganh tị với người khác là dấu hiệu cho thấy họ vô giá trị còn người khác lại giá trị hơn họ; hay ngược lại, thấy mình có giá trị hơn người khác! Vô tình hay cố ý, lòng ganh tị hay ghen tức phơi bày con người thật của chính mình và người mình ganh tị.

Sự hiểu Kinh Thánh lệch lạc và quan điểm thần học hẹp hòi, khô cứng đã giết chết đi lòng trắc ẩn của giới thông giáo và Pha-ri-si. Họ muốn bảo vệ cho “chân lý” nhưng lại là những người đi làm hại cội nguồn của “chân lý” của Đức Chúa Trời: lòng yêu thương của Ngài đối với tội nhân. Lòng kiêu ngạo đã biến họ từ tội nhân trở thành thánh nhân trong con mắt của chính họ! Vì thế, họ chẳng còn thấy mình là một người cần Chúa Jesus như những con người tội lỗi khác. Họ không hiểu rằng Chúa Jesus đến để tìm và cứu những kẻ có tội (Lu-ca 19:10). Chỉ những kẻ nhận biết mình có tội mới thật sự cần Chúa Jesus. Chính họ cần Chúa Jesus nên Ngài đã đến trần gian này cho chính họ. Sự nhận biết mình là tội nhân bao giờ cũng sanh sản ra lòng biết ơn. Mỗi năm Mùa Tạ Ơn và Giáng Sanh lại trở về để nhắc chúng ta nhớ lại rằng chúng ta là tội nhân và chúng ta cần Ngài là dường nào! Nguyện Chúa cho chúng ta có thể nói như sứ đồ Phao-lô: “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu” (1 Ti-mô-thê 1:15).

Thursday, November 13, 2014

THẨM QUYỀN CỦA LỜI CHÚA PHÁN

Mác (Mark) 2:7-12
Vả, có mấy thầy thông giáo ngồi đó, nghĩ thầm rằng: Sao người nầy nói như vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài mình Ðức Chúa Trời, còn có ai tha tội được chăng? Ðức Chúa Jêsus trong trí đã tự hiểu họ nghĩ như vậy, tức thì phán rằng: Sao các ngươi bàn luận trong lòng thể ấy? Nay bảo kẻ bại rằng: Tội ngươi đã được tha; hay là bảo người rằng: Hãy đứng dậy vác giường mà đi; hai điều ấy điều nào dễ hơn? Vả, để cho các ngươi biết rằng Con Người ở thế gian có quyền tha tội, thì Ngài phán cùng kẻ bại rằng: Ta biểu ngươi, hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà. Kẻ bại đứng dậy, tức thì vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy làm lạ, ngợi khen Ðức Chúa Trời, mà rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể nầy.

Suy gẫm:
Chúa Jesus thường hay tạo nên những điều dễ khiến cho con người có phản ứng mạnh, để rồi qua đó Ngài dẫn họ đến một sự hiểu biết mới mẻ về Ngài. Tại đây, Chúa Jesus dùng việc chữa lành người bại để bày tỏ một lẽ thật vô cùng quan trọng về chính Ngài: Con Người (Son of Man) ở thế gian có quyền tha tội. Điều này có nghĩa Con Người chính là Đức Chúa Trời. Chúa Jesus mang đến cho các thầy thông giáo một sự hiểu biết mới mẻ về Đức Chúa Trời mà từ trước tới nay họ chưa bao giờ suy nghĩ đến: Đức Chúa Trời trở thành người. Trong quan niệm người Do-thái, tội lỗi liên quan đến bịnh tật. Bị bịnh có nghĩa là có tội. Bịnh tật đuợc chữa lành là bằng chứng tội lỗi được tha thứ. Dẫu rằng quan niệm này không phải lúc nào cũng đúng cũng như được Chúa Jesus chấp nhận, nhưng Ngài đã dùng ngay điều họ suy nghĩ để bày tỏ về chính Ngài hầu thay đổi cả một quan niệm và tư tưởng sai lạc ẩn tàng trong họ. Trong phần trên của câu chuyện, vì Chúa Jesus “thấy” đức tin của những người mang người bại đến nên Ngài đã tuyên bố sự tha thứ và chữa lành cho người bại. Tại đây, Chúa Jesus “biết” những suy nghĩ của các thầy thông giáo mà tuyên bố Ngài chính là Đức Chúa Trời.

Lời nói hay tiếng phán của Chúa Jesus trong đó hàm chứa một thẩm quyền mang đến sự thay đổi tình trạng bất ổn của con người, điều chỉnh tư tưởng sai lầm, và mở ra một chân trời mới trong sự hiểu biết về Đức Chúa Trời. Thẩm quyền này không nằm trong ngôn ngữ nhưng nằm trong bản thể và yếu tính của Ngài. Nếu Chúa Jesus không phải là Đức Chúa Trời thì chắc chắn rằng những lời nói hay tuyên bố của Ngài chẳng tạo nên được bất cứ một sự thay đổi nào cho con người. Đến phiên các môn đồ của Chúa Jesus, khi công bố sự chữa lành cho người què tại cửa đẹp của đền thờ, thì họ phải “nhân danh Jesus ở Na-xa-rét” vì chính họ không phải là Đức Chúa Trời (Công vụ 3:6). Điều này cho thấy không phải lúc nào những nỗi bất hạnh của con người cũng là điều tuyệt vọng và không có lối thoát cho kẻ đặt niềm tin nơi Ngài.
Chỉ một mình Chúa Jesus có thể thay đổi mọi sự và đem con người đến một sự mặc khải mới mẻ về chính Ngài khi họ nghe được tiếng phán của Ngài. Tiếng phán hay lời Chúa Jesus nói có sức mạnh thay đổi tình huống và hiện trạng bất hạnh của con người, lấp đầy khoảng trống của sự thiếu hiểu biết về Ngài trong tâm trí con người mà đã một lần bị hư hoại và lầm lạc vì tội lỗi gây ra. Vấn đề là làm thế nào chúng ta có thể nghe được tiếng phán của Ngài trong những tình huống đen tối và nghiệt ngã hơn hết của đời sống? Nếu chúng ta không sống gần Chúa và chuyên tâm học hỏi Lời của Ngài thì khó có thể nghe được tiếng của Chúa trong những lúc có cần trong đời sống.

Thursday, November 6, 2014

ĐỨC TIN CHÂN THẬT

Mác (Mark) 2:1-5
Khỏi một vài ngày, Ðức Chúa Jêsus trở lại thành Ca-bê-na-um, và chúng nghe nói Ngài ở trong nhà. Họ họp lại tại đó đông lắm, đến nỗi trước cửa cũng không còn chỗ trống; Ngài giảng đạo cho họ nghe. Bấy giờ có mấy kẻ đem tới cho Ngài một người đau bại, có bốn người khiêng. Nhưng, vì đông người, không lại gần Ngài được, nên dở mái nhà ngay chỗ Ngài ngồi, rồi do lỗ đó dòng giường người bại xuống. Ðức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán với kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha.

Suy gẫm:
Sau khi Chúa Jesus thi hành chức vụ trong cõi Ga-li-lê, Ngài quay trở lại thành Ca-bê-na-um là trung tâm quan trọng cho chức vụ của Ngài trong vùng. Tại đó, Chúa Jesus đối diện với một tình huống mới của chức vụ. Câu chuyện Chúa chữa người bại được thánh Mác ghi lại nhằm mục đích cho thấy nơi nào có đức tin chân chính thì nơi đó có phép lạ xảy ra. Tuy nhiên, để có thể thấy được quyền phép của Đức Chúa Trời tỏ ra qua chức vụ của Chúa Jesus khi đối diện với những con người có đức tin, đức tin này phải chứa đựng một số đặc tính vô cùng quan trọng sau đây:

1.      Đức tin thật phải xuất phát từ tình yêu và biểu hiện bằng hành động. Điều đầu tiên mà chúng ta có thể nhận ra rất rõ ràng là bốn người mang người bại đến với Chúa Jesus là những người có đức tin nơi Chúa Jesus và có tình yêu đối với người bạn bị bại của mình. Tất cả mọi sự xuất phát từ khởi điểm quan trọng này. Không có tình yêu thì chẳng bao giờ bốn người bạn của người bại sẵn sàng trả tất cả mọi giá để mang người bại đến với Chúa Jesus. Đức tin thật bao giờ cũng xuất phát từ tình yêu và bày tỏ bằng hành động cụ thể.

2.      Đức tin thật nẩy sanh sáng kiến bày tỏ sự phong phú của đức tin. Bốn người bạn của người bại đã tìm đủ mọi cách để dòng người bại xuống ngay trước mặt Chúa Jesus để được Ngài chữa lành. Đám đông không phải là trở lực to lớn đối với họ. Mái nhà cũng không phải là điều có thể ngăn cản quyết tâm của họ. Hoàn cảnh con người chung quanh, khó khăn mang tính cách khách quan không phải là những trở lực đáng kể cho những ai có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời. Khi đó, chính Thần của Chúa sẽ ban cho họ sự khôn ngoan và sự sáng tạo cùng với tinh thần “can đảm thuộc linh” để có chạm được quyền năng của Ngài.

3.      Đức tin thật đòi hỏi sự hiệp một. Tinh thần hiệp một của bốn người bạn của người bại mang lại kết quả vô cùng tốt đẹp. Nhưng chắc chắn rằng trong bốn người khiêng người bại có một người điều khiển và những người khác đi theo sự hướng dẫn của người đó thì công việc mới tốt đẹp. Đây chính là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc làm của những người mang người bại đến với Chúa Jesus. Có tấm lòng yêu thương và có sáng kiến cũng chưa đủ, cần phải có sự hiệp nhất trong những sáng kiến để đạt được mục đích. Có tình thương, có sáng kiến, có lòng nhiệt thành mà không đặt mình dưới sự lãnh đạo của người khác thì cũng không có sự hiệp nhất và công việc được hoàn tất cách tốt đẹp và vinh hiển danh Chúa.

Kết quả của đức tin chân chính của họ là gì? Kinh Thánh chép: “Ðức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán với kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha.” Đức tin nằm ẩn tàng bên trong nhưng được biểu hiện ra bằng hành động bên ngoài, gọi là đức tin sống. Chúa Jesus nhìn thấy loại đức tin đó cả bên trong bản chất lẫn hành động biểu lộ bên ngoài của nó, và Ngài bao gồm cả đức tin của người bại chung với các bạn của ông. Vì thế, Ngài đã phán về sự tha thứ và chữa lành cho người bại.