Tuesday, December 24, 2013

GIÁ PHẢI TRẢ CHO SỰ KHÔNG VÂNG LỜI CHÚA

Kinh Thánh: 1 Sa-mu-ên (Samuel) 28:15-19

Sa-mu-ên hỏi Sau-lơ rằng: Nhân sao ngươi quấy sự yên tịnh ta mà gọi ta lên? Sau-lơ đáp: Tôi bị hoạn nạn lớn; vì dân Phi-li-tin tranh chiến với tôi, và Ðức Chúa Trời đã lìa khỏi tôi. Ngài không trả lời cho tôi, hoặc bởi các đấng tiên tri, hoặc bởi chiêm bao. Vậy, tôi đã vời ông lên, để ông bảo cho tôi biết điều tôi phải làm. Sa-mu-ên đáp: Nhân sao ngươi cầu vấn ta, bởi vì Ðức Giê-hô-va đã lìa khỏi ngươi và trở nên thù nghịch ngươi? Ðức Giê-hô-va làm y như Ngài đã phán bởi miệng ta. Ðức Giê-hô-va đoạt lấy nước khỏi tay ngươi mà ban cho kẻ lân cận ngươi là Ða-vít. Ngươi không vâng theo lời phán của Ðức Giê-hô-va và không làm cho A-ma-léc cảm biết cơn giận phừng của Ngài; vì cớ đó nên ngày nay Ðức Giê-hô-va đãi ngươi cách nầy. Vả lại, Ðức Giê-hô-va sẽ phó Y-sơ-ra-ên và ngươi vào tay dân Phi-li-tin. Ngày mai ngươi và các con trai ngươi sẽ ở một nơi với ta. Ðức Giê-hô-va cũng sẽ phó đạo binh Y-sơ-ra-ên vào tay dân Phi-li-tin.

Dưỡng linh:

Vua Sau-lơ bắt đầu cuộc đời chức vụ của mình thật tốt đẹp với tâm tình nhu mì khiêm nhường, vì biết mình chẳng ra gì mà được Đức Chúa Trời chọn để chăn dắt dân sự của Ngài. Nhưng sau 20 năm làm vua, Sau-lơ trở thành một vị vua kiêu ngạo, chẳng bao giờ biết ăn năn lỗi lầm của mình đã phạm, lao mình vào con đường của lòng ganh tị với Đa-vít là người được Đức Chúa Trời dùng hơn mình. Từ tội này dẫn đến tội khác, ngày càng nghiêm trọng hơn. Kết quả là Sau-lơ đã bị thần Đức Giê-hô-va lìa bỏ và ác thần nhập vào ông. Trong cảnh cùng khốn của cuộc đời và đất nước bị quân Phi-li-tin hãm hiếp, Sau-lơ đã đi cầu hỏi ý muốn của Đức Chúa Trời nhưng không gặp và cũng không được Ngài đáp lời. Cuối cùng ông quay sang đi cầu bà bóng để mong rằng nhận được sự hướng dẫn trong lúc lâm nguy. Điều đáng buồn là chính Sau-lơ trước đây đã ra tay trừ khử thành thờ ma lạy quỷ và tội lỗi như bà bóng này. Nhưng khi tâm linh suy bại và sa sút thì chính ông lại đi tìm những gì mình đã phá bỏ trước đây. Khi rơi vào tình trạng thuộc linh sa sút, Sau-lơ đã làm điều mà khi yêu mến Chúa chính ông đã lên án và đả phá kịch liệt!

Khi vua Sau-lơ đi cầu bà bóng thì đã gặp Sa-mu-ên xuất hiện theo yêu cầu của ông. Khi Sa-mu-ên hiện ra thì ông cho vua Sau-lơ biết những điều vô cùng quan trọng sau đây:

1.      Vì vua Sau-lơ đã lìa bỏ Đức Chúa Trời cho nên Ngài lìa bỏ và biến ông trở thành kẻ thù của Ngài (c. 16). Saul-lơ bây giờ trở nên tệ hại hơn nhiều so với trước đây. Đức Chúa Trời đã để ông và dân sự của Ngài rơi vào trong hoạn nạn lớn không có lối thoát, để qua đó chính ông khám phá ra những gì còn lại trong đời sống của mình và Đức Chúa Trời ở đâu trong đời sống của ông và dân sự của Ngài. “Sự kiêu ngạo đi trước và sự bại hoại theo sau.” Sau-lơ đã phải trả giá quá đắt cho lòng kiêu ngạo và ganh tị của ông.
2.      Đức Chúa Trời đã lấy nước Y-sơ-ra-ên mà ông đang cai trị để giao qua cho Đa-vít là người theo lòng của Ngài (c. 17). Sau-lơ được Đức Chúa Trời chọn để chăn dắt dân sự của Ngài. Nhưng khi ông không canh giữ đời sống của mình, làm điều sai trật trước mặt Chúa và không chịu ăn năn thì Ngài đã lấy dân sự của Ngài lại để giao cho người khác có tấm lòng yêu mến Chúa và yêu mến dân sự của Ngài hơn ông. Sau-lơ không coi trọng bầy chiên của Chúa thì Ngài không còn tin cậy giao bầy chiên đó cho Sau-lơ chăn.
3.      Nguyên nhân sâu xa của việc Đức Chúa Trời quyết định gạt gỏ cuộc đời của Sau-lơ là khi ông gạt bỏ Lời của Đức Chúa Trời bảo ông đi giết dân A-ma-léc và tiêu diệt hết tất cả vật hóa tài và vua A-ma-léc. Đức Chúa Trời trách Sau-lơ tại sao ông không cho dân A-ma-léc thấy được cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đối với họ như thế nào (c. 18). Việc Sau-lơ không vâng lời Đức Chúa Trời bày tỏ cho thấy rằng ông coi thường và khinh bỉ Ngài. Vì Sau-lơ coi trọng chính mình và khinh dể Đức Chúa Trời cho nên Ngài đã từ khước chính ông và khiến ông trở thành sự khinh dể đối với cho mọi người. Sau-lơ khinh bỉ Đức Chúa Trời thì Ngài khiến dân sự khinh bỉ ông.
4.      Chẳng những Sau-lơ phải lãnh lấy những gì ông gieo nhưng ngay cả con cái của ông cũng đồng chung một số phận với ông. Hơn thế nữa, Đức Chúa Trời cũng phó cả đạo binh của dân Y-sơ-ra-ên vào trong tay kẻ thù của họ là dân Phi-li-tin (c. 19). Khi Đức Chúa Trời ban cho Sau-lơ địa vị cao trọng thì cả nhà của ông được hưởng sự cao trọng đó. Cả dân sự Đức Chúa Trời cũng được phước qua việc Ngài chọn Sau-lơ. Nhưng khi Sau-lơ sa bại, thì sự sa bại đó cũng bao trùm trên cả gia đình và dân sự của Đức Chúa Trời. Đó là nguyên tắc của Đức Chúa Trời đối với những người lãnh đạo dân sự của Ngài.

Ngày xưa vua Sau-lơ còn dễ dàng bị rơi vào trong tình huống đen tối và khủng khiếp vì sự cứng cõi, kiêu ngạo, và ganh tị của ông. Huống thay chúng ta ngày nay không có gì bảo đảm rằng chúng ta không thể bị rơi vào những tội lỗi và sự trừng phạt của Đức Chúa Trời giống như Sau-lơ. Khi nào chúng ta bắt đầu không biết vâng lời Đức Chúa Trời và khinh dể Ngài, đó là lúc chúng ta bắt đầu bước theo con đường của Sau-lơ. Khi Đức Chúa Trời lìa bỏ chúng ta rồi thì Ngài trở thành kẻ thù của chúng ta và lời cầu nguyện của chúng ta chẳng bao giờ được Ngài nhậm. Lúc ấy, chúng ta sẽ quay lại làm những điều tội lỗi mà chính chúng ta trước đây đã lên án và đả phá cách mạnh mẽ và tìm cách hủy diệt nó. Chắc chắn rằng cuộc đời chúng ta sẽ bước qua những ngày đen tối trong đời sống tâm linh, mặc dầu về phương diện hình thức chúng ta vẫn còn nắm giữ những công việc và chức vụ quan trọng như Sau-lơ. Nhưng có thể Đức Chúa Trời đã lìa bỏ chúng ta từ lâu rồi. Sự rủa sả của Đức Chúa Trời không phải chỉ dừng lại trong chính chúng ta mà còn đi xa hơn điều chúng ta tưởng. Nó sẽ giáng trên gia đình và những người liên hệ đến chúng ta cho đến chừng chúng ta bị diệt mất! Vì vậy, cầu xin Chúa thương xót ban cho chúng ta tấm lòng mềm mại, nhu mì khiêm nhường biết ăn năn trước khi quá trễ.

Chúa Jesus là Đức Chúa Trời Ngôi Hai đã trở thành người như chúng ta để biến cả dòng dõi nhân loại không vâng lời trở thành vâng lời Đức Chúa Trời (1 Phi-e-rơ 1:14). Đó là sự biểu lộ của tấm lòng và tâm trí vâng lời của Ngài đối với Đức Chúa Cha (Phi-líp 2:6-8). Khi sống trong trần gian này, mang lấy thân xác như chúng ta, Chúa Jesus đã học tập vâng lời để làm theo ý muốn của Cha (Hê-bơ-rơ 5:8). Chúng ta là tội nhân được cứu và được phước bởi sự vâng lời của Chúa Jesus. Thật cảm tạ Chúa Jesus. Xin Chúa cho chúng ta cũng sống mỗi ngày trong suốt Mùa Giáng Sanh và Năm Mới 2014 là con của sự vâng lời Đức Chúa Trời hầu qua chúng ta nhiều người được đưa đến với Chúa Jesus.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, con cầu xin Ngài thương xót con tùy theo lòng nhơn từ của Ngài. Xin giúp con nhìn thấy và nhận ra được những tội lỗi và sự quá phạm của mình ngay từ khi con bắt đầu bước vào con đường không vâng lời và chống nghịch lại với Ngài. Xin tha thứ cho con những điều con biết cũng như những điều con không biết mà con đã phạm khinh dể chính Ngài. Xin Thần Linh của Chúa tiếp tục hành động trong tấm lòng của con để khiến nó trở nên mềm mại, tan chảy và đầu phục luôn luôn. Amen!

Wednesday, December 18, 2013

SỰ RÈN LUYỆN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Kinh Thánh: Ca-thương (Lamentations) 3:22-27

Ấy là nhờ sự nhơn từ Ðức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm. Hồn ta nói: Ðức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài. Ðức Giê-hô-va ban sự nhơn từ cho những kẻ trông đợi Ngài, cho linh hồn tìm cầu Ngài. Thật tốt cho người trông mong và yên lặng đợi chờ sự cứu rỗi của Ðức Giê-hô-va. Thật tốt cho người mang ách lúc trẻ thơ.

Dưỡng linh:

Tiên tri Giê-rê-mi và dân sự của Đức Chúa Trời sống trong cảnh lưu đày tại xứ Ba-by-lôn một thời gian khá dài. Trong thời gian này họ chứng kiến biết bao cảnh trạng ngang trái, bất công trong cách đối xử của người Ba-by-lôn dành cho dân sự của Ngài. Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho dân ngoại chà đạp lên dân mà Ngài tuyển chọn? Trong khi đó nếu kể ra thì sự gian ác của dân Ba-by-lôn nhiều hơn tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên! Dường như có những lúc tiên tri và dân sự của Chúa cảm thấy rằng lời cầu nguyện của mình không được nhậm, sự than thở của tấm lòng của họ chẳng được Chúa quan tâm. Tiên tri Giê-rê-mi và dân sự Đức Chúa Trời mong ước rằng Ngài sẽ ra tay giải cứu ngay nhưng dường như Chúa hoàn toàn yên lặng. Ngược lại, tình huống ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Đức Chúa Trời dùng dân Ba-by-lôn như cây roi để quất vào lưng của dân Y-sơ-ra-ên như là sự báo thù về tội thờ lạy thần tượng của họ. Trong hoàn cảnh như thế, Giê-rê-mi và dân sự của Đức Chúa Trời không còn cách gì khác hơn là quay hướng về với Ngài để tìm kiếm sự an ủi và câu trả lời cho vấn nạn của họ.

Nhìn lại những ngày tháng sống trong chốn lưu đày, xa quê cha đất tổ, không nơi thờ phượng và dâng của tế lễ cho Đức Chúa Trời v.v… tiên tri Giê-rê-mi vẫn có thể nói rằng: “Ấy là nhờ sự nhơn từ của Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt.” Mặc dầu dân sự của Chúa phạm tội và bị lưu đày. Nhưng ngay trong chốn khốn cùng này họ khám phá ra rằng lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục tuôn đổ trên đời sống của dân sự Ngài, bảo vệ và ban phước cho họ. Nếu không có sự thương xót của Chúa thì đời sống của họ chẳng có thể tồn tại. Đức Chúa Trời dùng những ngày hoạn nạn và khốn cùng để cho họ thấy được sự nhơn từ và lòng thương xót của Ngài đối với dân được chuộc của Ngài là thế nào. Mỗi buổi sáng thức dậy tiên tri của Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài đón nhận một ngày như món quà Chúa ban cho, bày tỏ sự thành tín của Ngài. Nếu Đức Chúa Trời không thành tín thì chắc chắn họ đã bị tuyệt diệt từ lâu rồi. Nhờ sự thành tín đó của Đức Chúa Trời, dân sự của Chúa vẫn còn tồn tại và sống còn qua những năm tháng hoạn nạn và thử thách dưới tay người Ba-by-lôn.

Giê-rê-mi tìm ra cho mình một phương cách để đối diện với thực tại đau khổ của đời sống của chính mình và của dân sự Đức Chúa Trời. Đó là Giê-rê-mi tự nói với chính mình rằng: “Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài.” Đức Chúa Trời chọn dân Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp thuộc riêng về Ngài. Tại đây, tiên tri Giê-rê-mi tuyên bố rằng Ngài là cơ nghiệp của ông. Đó là lý do tại sao ông để lòng trông cậy nơi Ngài trong những ngày đen tối nhất của lịch sử dân sự của Đức Chúa Trời. “Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp” có nghĩa Ngài là tất cả của Giê-rê-mi khi mà tất cả mọi sự chung quanh đều bị kẻ thù tước đoạt. Đức Chúa Trời đã dẫn ông vào trong một kinh nghiệm vô cùng quý báu trong đời sống theo Chúa và phục vụ Ngài. Nếu không có những ngày hoạn nạn và mất mác thì làm sao tiên tri Giê-rê-mi có thể kinh nghiệm Đức Chúa Trời là cơ nghiệp của ông?

Chẳng những Giê-rê-mi nói với chính mình rằng Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của ông và dân sự Ngài, mà ông còn nói rằng những ai trông đợi Chúa và tìm cầu mặt của Ngài thì người đó sẽ khám phá ra sự nhơn từ của Ngài. Chính sự nhơn từ của Chúa tiếp tục nắm giữ cuộc đời của người ngửa trông, tin cậy và tim cầu mặt của Ngài trong những ngày đen tối nhất của cuộc đời. Càng tìm kiếm mặt Chúa bao nhiêu, người tìm cầu Ngài càng có sức mạnh để có thể bước qua những chặng đường gian nan của cuộc đời. Với kinh nghiệm của bản thân mình, tiên tri Giê-rê-mi nói: “Thật tốt cho người trông mong và yên lặng chờ đợi sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va.” Khi một người học tập tin cậy và trông đợi Đức Chúa Trời vì biết rằng Ngài là Đấng biết hết tất cả mọi sự và nắm quyền tể trị tuyệt đối trên muôn loài vạn vật, thì người đó sẽ yên lặng chờ đợi sự giải cứu của Ngài. Yên lặng chờ đợi Đức Chúa Trời giải cứu không phải là một việc dễ làm vì bản tánh con người luôn luôn nôn nóng và muốn mọi việc phải được giải quyết ngay, càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời biết sức chịu đựng của mỗi người, biết thời điểm khi nào cần được giải cứu để mang lại ích lợi nhất cho kẻ trông đợi Ngài.

Một nguyên tắc thuộc linh vô cùng quan trọng mà tiên tri Giê-rê-mi nêu ra ở đây: “Thật tốt cho người mang ách lúc còn thơ.” Nếu một người không được Chúa huấn luyện để mang ách từ lúc còn trẻ thì khi trở về già càng khó nhịn nhục và chịu đựng nỗi những thử thách hoạn nạn. Đức Chúa Trời muốn dùng một người vào trong công việc lớn của Chúa thì Ngài sẽ chuẩn bị người đó bằng những kinh nghiệm đau khổ và đè nén, để rồi khi được Chúa cất nhắc lên thì có thể chịu đựng được những thử thách và sức đè nén lớn hơn trong chức vụ. Thật nguy hiểm cho những người được đặt vào trong những chức vụ và vị trí quan trọng nhưng chưa được Chúa huấn nhục thì sẽ dễ dàng thất bại khi đối diện với những sức ép của đời sống cá nhân và chức vụ. Khi đó, người ấy sẽ gây ra biết bao nhiêu điều đau buồn và tai hại cho chính mình, gia đình, và hội thánh của Đức Chúa Trời.

Không có một điều nào Đức Chúa Trời làm cho chúng ta và cho phép xảy ra trong đời sống chúng ta là vô ích, nhất là những thử thách, hoạn nạn, đau buồn, bịnh tật. Có những điều là do hậu quả tội lỗi chúng ta gây ra. Nhưng cũng có những điều không phải do chúng ta gây ra, mà do Đức Chúa Trời muốn thử thách và luyện lọc chúng ta trở nên tinh ròng hơn cho Ngài, chuẩn bị chúng ta cho công việc nào đó Chúa muốn sử dụng. Điều quan trọng là thái độ chúng ta như thế nào khi đối diện với những điều Chúa cho phép xảy ra. Chúa muốn phát triển trong chúng ta lòng tin cậy Chúa, ngửa trông và chờ đợi sự cứu rỗi của Ngài. Chính lòng nhơn từ, thương xót và thành tín của Đức Chúa Trời là chỗ dựa cho cuộc đời chúng ta trong những ngày đen tối của khó khăn và thử thách. Nếu chúng ta chịu đựng trong sự yên lặng và sẵn sàng chịu mang ách của Chúa từ lúc còn trẻ tuổi, thì chắc chắn rằng khi chúng ta trở nên lớn tuổi thì đã rành rọt và lão luyện trong chiến trận thuộc linh mà Đức Chúa Trời đem đến và khi đó chúng ta là kẻ đắc thắng thay vì thất bại, gây dựng thay vì phá đổ, chúc phước thay vì cớ tích của sự rủa sả cho chính mình, gia đình mình, và hội thánh của Đức Chúa Trời.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin giúp con và nhắc nhở con nhớ rằng Ngài có chương trình tốt đẹp lâu dài cho đời sống con, khi Ngài đẹp lòng dẫn con qua những chặng đường hoạn nạn và đau thương của cuộc đời. Xin ban cho con sức mạnh thuộc linh để bước theo Ngài với tấm lòng trông cậy, với tâm trí sáng suốt để tin quyết, và với tình cảm mạnh mẽ để yên lặng chờ đợi sự giải cứu của Ngài. Chúa ôi! xin cho con bằng lòng mang ách của Ngài và học theo Ngài mỗi ngày, cho đến chừng con được trưởng thành trong Chúa để có thể gánh vác những công việc nhà Ngài. Xin cho con khám phá sự thành tín của Ngài mỗi buổi sáng trong cuộc đời còn lại của con. Amen!

Thursday, December 12, 2013

RAO GIẢNG PHÚC ÂM KHÔNG MỎI MỆT

Kinh Thánh: 2 Ti-mô-thê (Timothy) 4:1-5

Ta ở trước mặt Ðức Chúa Trời và trước mặt Ðức Chúa Jêsus Christ là Ðấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhơn sự đến của Ngài và nước Ngài mà răn bảo con rằng: hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi. Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; những vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình, bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn. Nhưng con, phải có tiết độ trong mọi sự, hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ.

Dưỡng linh:

Đây là những lời tâm huyết của một đầy tớ Đức Chúa Trời sau nhiều năm hầu việc Chúa, rao giảng Tin-lành của Chúa Jesus không hề mỏi mệt. Nay ông chuẩn bị kết thúc cuộc đời của mình để về với Chúa. Thật tuyệt vời! Phao-lô để lại những lời quý báu này cho người con thuộc linh, cũng là bạn đồng lao là mục sư trẻ Ti-mô-thê. Dẫu cho chức vụ Phao-lô là sự đau khổ, hoạn nạn, tù đày vì Tin-lành của Chúa Jesus nhiều hơn những ngày dễ dàng thong dong, nhưng điều đó không làm cho ông thối chí, sờn lòng, và lui đi trong chức vụ. Ngược lại, những thử thách khó khăn làm cho ông kinh nghiệm dày dạn quyền phép Tin-lành của Chúa Jesus hành động cách có quyền trong ông và khiến ông không thể ngừng nghỉ được trong việc rao giảng Tin-lành phước hạnh này. Chắc chắn rằng Đấng mà ông gặp gỡ ngày nào đó trên đường đi Đa-mách và sứ điệp mà Đức Chúa Trời đã ủy thác cho ông là sự ngọt ngào và đầy thú vị cho cuộc đời của ông trải qua nhiều năm đến nỗi không thể nào nói lời tạm biệt với lẽ thật này hay thay thế nó bằng một nỗi đam mê nào khác. Ông sẽ từ giã cõi đời này và những người thân yêu, bạn bè, tín hữu để ra đi với Chúa là Đấng ông hằng yêu mến và phục vụ trọn cả đời. Trước mắt sứ đồ Phao-lô là một viễn ảnh không có gì sáng sủa cho việc rao giảng Tin-lành của Chúa Jesus Christ trong những ngày sau cùng của lịch sử nhân loại (2 Ti-mô-thê 3:1-9)

Đứng trong thẩm quyền Đức Chúa Trời ban cho và dựa vào hai lẽ thật rất quan trọng: Đức Chúa Trời là Đấng sẽ phán xét mọi người và sự trở lại của Chúa Jesus Christ và sự hiện ra của vương quốc là điều chắc chắn, sứ đồ Phao-lô khuyên giục Ti-mô-thê hãy chuyên tâm rao giảng Tin-lành của Chúa Jesus Christ. Tinh thần rao giảng Tin-lành mà sứ đồ muốn thấy nơi Ti-mô-thê là dẫu cho hoàn cảnh ra sao, sự đáp ứng của con người như thế nào, thì người hầu việc Đức Chúa Trời vẫn phải trung tín làm công việc của chức vụ mình. Bởi lẽ người hầu việc Chúa thi hành chức vụ không tùy thuộc vào sự đáp ứng của con người nhiều hay ít, ủng hộ hay không ủng hộ, nhưng tùy thuộc vào mối liên hệ giữa người đó với Đức Chúa Trời là Đấng kêu gọi mình. Nếu người hầu việc Chúa không sống trong mối tương giao kín nhiệm với Đức Chúa Trời thì không thể đứng vững trong chức vụ trong giây phút khó khăn và đen tối của lịch sử và chức vụ của mình. Nguồn cảm hứng của chức vụ và cớ tích của chức vụ của người rao giảng Tin-lành phải ra từ chính Đức Chúa Trời và truyền qua mối quan hệ sống động nhưng thâm sâu của người đó với Ngài. Nếu người phục vụ cho Tin-lành của Đức Chúa Trời mà chỉ dựa vào sự ủng hộ của con người để thi hành chức vụ, đến một lúc nào đó người ấy sẽ rơi vào sự hụt hẫng và khủng hoảng của đời sống chức vụ. Tấm lòng và sự ủng hộ của con người đối với người giảng Tin-lành sẽ thay đổi theo hoàn cảnh nhưng tấm lòng và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời đối với người đó sẽ chẳng bao giờ thay đổi. Vì vậy, người hầu việc phải máng mình vào chính Đức Chúa Trời hằng sống để phục vụ và thi hành chức vụ. Chắc chắn rằng người đó sẽ tìm được sự vững bền trong chức vụ và đời sống mình.

Sứ đồ Phao-lô cũng vẽ ra cho thấy viễn ảnh của một thời kỳ mà con người sẽ không còn ham thích nghe những gì từ Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời nhưng thích nghe những chuyện huyễn, bùi tai, tạo nên sự thỏa mãn giả tạo cho linh hồn. Chẳng có sự đánh lừa nào lớn hơn và kinh tởm hơn sự đánh lừa của sứ điệp Tin-lành giả tạo. Khi con người dùng những thủ thuật của tôn giáo, theo đuổi phép lạ và dấu lạ để dẫn dụ người khác vào trong con đường dường như chánh đáng, lúc ấy quả là một sự rủa sả thay vì chúc phước của Đức Chúa Trời. Chính vì thế, càng gần đến sự tái lâm của Chúa Jesus Christ, chúng ta sẽ thấy trong hội thánh và ngoài hội thánh dầy dẫy những loại tiên tri giả và người rao giảng Tin-lành giả hiệu. Tuy nhiên, sứ điệp của Tin-lành chân chính dẫu có trở nên lỗi thời đi chăng nữa, sứ điệp đó luôn luôn là điều thế gian cần hơn hết. Tất cả những sự đòi hỏi nào khác ngoài việc con người cần được tha thứ và sự cứu rỗi trong Chúa Jesus Christ đều là những khao khát bên ngoài và bề mặt của tấm lòng con người. Người hầu việc Đức Chúa Trời và rao giảng Tin-lành của Chúa Jesus Christ phải tin quyết chắc chắn rằng sứ điệp mà chúng ta rao giảng là nhu cầu thiết yếu nhất của con người và không có gì có thể thay thế được. Vì không xác quyết được điều, có một số người đã thay đổi cách rao giảng và ngay cả sứ điệp mình rao giảng để cho phù hợp với thị hiếu và sở thích của con người. Khi làm điều đó, họ bắt đầu rao giảng một sứ điệp của sự nhân nhượng và Tin-lành “pha loãng” của Chúa Jesus Christ.

Cuối cùng, sự đòi hỏi nơi chính con người rao giảng Tin Lành vẫn là điều quan trọng hơn hết. Con người rao giảng quan trọng hơn sứ điệp người đó rao giảng. Vì vậy, sứ đồ Phao lô khuyên Ti-mô-thê “phải có tiết độ trong mọi sự, hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ.” Tiết độ là sự biểu lộ trong nếp sống của sự tỉnh thức tâm linh ở bên trong tâm trí. Chịu cực khổ phải là một phần trong đời sống của người theo Chúa và muốn trở thành ống dẫn ơn phước của Chúa đến cho người khác. Chính sự chịu khổ là phương tiện Đức Chúa Trời dùng để thanh tẩy và gột rửa tất cả cáu cặn và chất bã trong tấm lòng và đời sống của người giảng Tin-lành, để phước hạnh của Đức Chúa Trời có thể tuôn chảy cách dễ dàng qua họ. Thêm vào đó, người rao giảng Tin-lành phải có một đời sống kỷ luật chính mình, làm điều mình cần phải làm và đáng làm. Ngày nay người hầu việc Chúa dễ dàng bị lôi cuốn vào trong con đường làm chính trị, làm công tác xã hội mà xem nhẹ chức vụ rao giảng Lời Chúa và cầu nguyện là điều đòi hỏi chính yếu của chức vụ (Công vụ 6:4). Vì thế, đời sống và chức vụ của họ bị cướp mất đi quyền phép bề trong và sức mạnh của sứ diệp họ rao giảng.

Dẫu là con cái Chúa hay tôi tớ Chúa, những lời này của sứ đồ Phao-lô đã ủy thác vào trong đời sống chúng ta trách nhệim rao giảng Tin-lành của Chúa Jesus Christ cho mọi người, trong mọi thời đại, trong mọi tình huống của xã hội và đời sống cá nhân của con người. Bắt đầu một ngày mới, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta tấm lòng dạn dĩ và can đảm để rao giảng vả chia sẻ tin mừng của Chúa Jesus Christ cho những người chúng ta gặp gỡ tại trong sở làm, nơi học đường, ở lối xóm và ngay cả trong gia đình của chúng ta dẫu cho có “gặp thời hay không gặp thời.” Trong mùa Giáng Sanh năm nay, xin Chúa giúp mỗi chúng ta tìm đủ mọi cách để chia sẻ Tin Mừng của Chúa Cứu Thế Jesus cho người chưa biết Ngài, mời gọi họ đến với Chúa. Nếu chúng ta trung tín làm việc đó trong đời sống cá nhân và chức vụ mình, Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho chúng ta và gia đình chúng ta.

Cầu nguyện:

Con cầu xin Chúa đói thương và làm việc cách mạnh mẽ trong tâm trí và tấm lòng của con mỗi ngày, để con có thể nói về Chúa cho mọi người, trong mọi cơ hội Chúa ban cho. Xin giúp cho trung tín trong công việc truyền giảng tin mừng của Chúa Jesus Christ cho mọi người trước khi ngày Chúa Jesus từ trời trở lại. Amen!

Thursday, December 5, 2013

NGUY CƠ THUỘC LINH

Kinh Thánh: Mác (Mark) 7:5-8

Vậy, các người Pha-ri-si và các thầy thông giáo hỏi Ngài rằng: Sao môn đồ thầy không giữ lời truyền khẩu của người xưa, dùng tay chưa tinh sạch mà ăn như vậy? Ngài đáp rằng: Hỡi kẻ giả hình, Ê-sai đã nói tiên tri về việc các ngươi phải lắm, như có chép rằng: Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra. Các ngươi bỏ điều răn của Ðức Chúa Trời, mà giữ lời truyền khẩu của loài người!

Dưỡng linh:

Chúa Jesus luôn luôn là nhân vật đối kháng cách mãnh liệt với cả một hệ thống tổ chức của Do-thái giáo, đặc biệt là đối với những nhà lãnh đạo giáo hội giả hình thời bấy giờ. Chúa Jesus không ngần ngại vạch trần con người của họ và chỉ cho họ thấy căn bịnh ung thư thuộc linh đã ăn ruồng đến tận xương tủy và đang làm cho cả giáo hội chết lần chết mòn. Do-thái giáo bắt đầu với những điều vô cùng tốt đẹp, dựa trên luật pháp của Đức Chúa Trời ban bố qua Môi-se. Nhưng rồi dần dà khi hệ thống tổ chức tôn giáo ngày càng trở nên phức tạp, phẩm trật thêm vào, vấn đề giải nghĩa luật pháp trở nên đa dạng, Do-thái giáo đã bị biến chất hồi nào không hay. Từ trong luật pháp Môi-se truyền lại, họ giải nghĩa và thêm thắt vào biết bao nhiêu chi tiết phụ và  chính những chi tiết này dẫn họ đi xa rời chánh lộ. Đến một lúc, thay vì luật lệ của giáo hội được dựa trên Lời của Đức Chúa Trời, các nhà lãnh đạo tôn giáo lấy luật lệ của giáo hội làm tiêu chuẩn trong mọi lối hành xử của mình. Khi đó, Lời của Đức Chúa Trời không còn chiếm địa vị độc tôn trong đời sống tâm linh của dân sự Đức Chúa Trời; nó trở thành một thứ nước mắm pha loãng và được nêm nếm vào bởi những thứ gia vị khác của điều luật tôn giáo do con người đặt ra. Nhìn bề ngoài tưởng chừng rằng việc thờ phượng Đức Chúa Trời của họ có vẻ ổn thỏa nhưng kỳ thực nó đã đánh mất đi cái cốt lỏi đó là sự hiện diện của tấm lòng chân thành ra từ sự nắm giữ Lời của Đức Chúa Trời cách không nhân nhượng. Đứng đối diện với tình trạng băng hoại thuộc linh của họ, Chúa Jesus buộc lòng lên tiếng phản đối cách kịch liệt. Những lời lẽ của Chúa Jesus thốt ra không có dính dấp bóng dáng nào của sự hòa hoãn để lấy lòng con người hay sự dung hòa để cầu an cho chính mình. Ba lần Chúa Jesus nhắc đi nhắc lại: “các ngươi bỏ điều răn của Đức Chúa Trời, mà giữ lời truyền khẩu của con người” hay “các ngươi lấy lời truyền khẩu mình lập ra mà bỏ mất Lời Đức Chúa Trời” (c. 8, 9, 13). Rõ ràng rằng những nhà lãnh đạo Do-thái giáo lúc bấy giờ đã xếp Lời Đức Chúa Trời vào hàng thứ yếu và nâng lời truyền khẩu hay lời giải nghĩa kinh điển của họ trở thành thứ chính. Qua câu chuyện Chúa Jesus đối chất với những nhà lãnh đạo Do-thái giáo về vấn đề tuân giữ giới luật Chúa truyền dạy, chúng ta rút ra được một số điểm sau đây:

1.      Sự thờ phượng Đức Chúa Trời và sự tuân giữ Lời của Ngài luôn luôn có nguy cơ bị biến trở thành một món hàng tôn giáo giả hiệu. Ma quỷ rất khôn ngoan chẳng bao giờ bảo chúng ta không nên thờ phượng và tuân giữ Lời Đức Chúa Trời, vì nó dư biết rằng nhiều người trong chúng ta sẽ có phản ứng rất mạnh mẽ và sẵn sàng sống chết cho điều mình tin! Thế thì nó có cách khác: biến việc chúng ta tuân giữ Lời Đức Chúa Trời và cung cách thờ phượng Đức Chúa Trời trở thành món hàng giả được bày bán giữa phố chợ tôn giáo. Nhìn bề ngoài của hai món hàng như nhau nhưng bản chất bên trong hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt giữa hai món hàng đó là gì? Há chẳng phải là ma quỷ tìm đủ mọi cách lấy đi tấm lòng của chúng ta ra khỏi tất cả sinh hoạt tôn giáo của chúng ta hay sao? Con người dễ dàng thích thú với những gì bề ngoài vì đó là điều ai cũng thấy và dễ nhận được sự tán thưởng của người khác. Vì thế, ma quỷ biết điểm yếu của con người chúng ta chỗ nào và nó cuốn hút chúng ta vào trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời chỉ bằng hình thức, mà bên trong hoàn toàn trống rỗng mối liên hệ giữa chúng ta với Ngài. Đúng như điều Chúa Jesus nói: “Dân này lấy môi miếng tôn kính ta, nhưng lòng chúng nó cách xa ta lắm” (c. 6). Ma quỷ khiến chúng ta tự thỏa mãn trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời vì có nhiều người tham dự, chương trình phong phú và hấp dẫn, nhận được nhiều sự tán thưởng và tung hô của con người. Nhưng sau khi thờ phượng trở về, lòng chúng ta vẫn buồn thảm và trống vắng. Hoặc giả sau khi đã “trình diễn thờ phượng” xong, chúng ta bị người khác chỉ trích vì một lý do nào đó, khi ấy những “niềm vui” của sự thờ phượng tan biến theo mây khói và đọng lại trong lòng chúng ta một nỗi buồn nặng trĩu và cay đắng. Đó chính là dấu hiệu của sự thờ phượng Đức Chúa Trời giả hiệu. Sự thờ phượng chân thật là sự thờ phượng mà trong đó chúng ta được chính Chúa đụng chạm đến nơi sâu thẩm của linh hồn và quyền năng của Chúa Thánh Linh kéo chúng ta đến gần Ngài và lẽ thật của Đức Chúa Trời bắt đầu tỉa sửa và biến đổi chúng ta. Sự thờ phượng thật là khi rời khỏi hàng băng ghế nhà thờ, lòng cảm thấy khoan khoái và tràn ngập niềm vui của thiên đàng vì trong chỗ kín nhiệm của tấm lòng và tâm trí chúng ta chạm được sông nước hằng sống của Đức Chúa Trời và được mãn nguyện thật sự.
2.      Sự thờ phượng Đức Chúa Trời chân chính luôn luôn có khuynh hướng bị chi phối và dẫn dụ bởi những điều không phải hoàn toàn ra từ Đức Chúa Trời và Lời của Ngài. Chúa Jesus phán: “Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra” (c. 7). Có bao nhiêu lần chúng ta đến trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời và ra về mà tự hỏi rằng: “bao nhiêu điều tôi thờ phượng Đức Chúa Trời ngày hôm nay xuất phát từ ‘tâm thần và lẽ thật?’”Cung cách của sự thờ phượng và hình thức của nó cần phải được cải tiến theo một ý nghĩa tích cực hầu làm cho người đến trong sự thờ phượng thấy được sự thích thú để được kéo đến gần Đức Chúa Trời. Nhưng tất cả những điều này phải được kiểm chứng bằng Lời của Đức Chúa Trời. Khi nào Đức Chúa Trời không còn là đối tượng duy nhất của sự thờ phượng của chúng ta và Lời của Ngài không còn là kim chỉ nam để hướng dẫn sự thờ phượng Chúa của chúng ta, khi đó chúng ta đang đứng trước nguy cơ của sự thờ phượng giả hiệu.
3.      Sự thờ phượng Đức Chúa Trời dễ dàng bị đánh lừa bởi truyền thống của giáo hội. Chúa Jesus lên tiếng về việc những nhà lãnh đạo Do-thái tuân giữ lời truyền khẩu mà tưởng rằng mình đang xây dựng sự thờ phượng Đức Chúa Trời theo điều răn của Ngài. Không có gì tệ hại hơn cho bằng việc chúng ta bị người khác đánh lừa hay mình đi đánh lừa người khác về niềm tin tôn giáo. Ma quỷ thường hay đánh lừa và đổi tráo những gì có vẻ giống nhau. Chẳng hạn tại đây, những nhà lãnh đạo tôn giáo bị đánh lừa bởi những gì thuộc về truyền thống nhưng cứ ngỡ là ra từ Lời của Ngài. Truyền thống của giáo hội không thể đi ngược Lời Đức Chúa Trời hay biến nó trở thành thứ yếu. Khi con người bắt đầu thêm thắt vào Lời chân chính của Đức Chúa Trời và nền thần học chính thống của Hội Thánh Đức Chúa Trời, khi đó con người đã bắt đầu lao mình vào cuộc phiêu lưu táo bạo và gây nguy hiểm đến tánh mạnh thuộc linh của chính mình và những người nương dựa vào mình để được gây dựng.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin cứu con ra khỏi bất cứ nguy cơ của hình thức tôn giáo giả hiệu trong đời sống cá nhân và chức vụ của con. Xin ban cho con sự nhạy bén của Chúa Thánh Linh để biện biệt giữa sự thật và sự giả trong một bối cảnh hội thánh có quá nhiều đổi thay và đa dạng vì sự phức tạp về thần học của sự thờ phượng. Xin ban cho con tấm lòng trung thành với Lời Hằng Sống của Ngài và can đảm rao giảng nó ra để có thể cứu những cuộc đời đang lầm đường lạc lối sớm trở về với Đấng chăn giữ linh hồn mình. Amen!