Tuesday, July 30, 2013

Ý NGHĨA NGÀY THÁNH (SA-BÁT)

Kinh Thánh: Sáng-thế ký (Genesis) 2:1-3

Ấy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng nên xong rồi. Ngày thứ bảy, Ðức Chúa Trời làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi.

Dưỡng linh:

Sự thờ phượng Đức Chúa Trời Chân Thật duy nhất và việc nghỉ ngày Sa-bát đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống sinh hoạt tâm linh của dân sự Đức Chúa Trời ngày xưa, biệt riêng họ giữa các dân tộc khác trên thế gian này để làm một nước thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời (Xuất 19:6). Đó là hai mạng lịnh đầu tiên trong 10 điều răn Đức Chúa Trời ban cho dân sự của Chúa tại trong đồng vắng Si-nai sau khi rời Ai-cập. Vì thế, về sau khi họ vi phạm hai giới mạng này, Đức Chúa Trời đã lưu đày dân Y-sơ-ra-ên qua A-sy-ri và Ba-by-lôn. Tư tưởng dành ngày thứ bảy trong tuần lễ làm ngày nghỉ để thờ phượng Đức Chúa Trời bắt nguồn từ việc Chúa dựng nên trời đất trong sáu ngày và qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ và chúc phước cho ngày đó. Theo điều răn Chúa truyền dân sự phải nghỉ ngày thứ bảy đặng làm nên ngày thánh. Đức Chúa Trời có thật sự nghỉ giống như con người không? Chúa bảo dân sự của Ngài nghỉ ngày thứ bảy hay Sa-bát có nghĩa gì?

Chính Đức Chúa Trời xác nhận rằng Ngài là Đấng dựng nên cả cõi hoàn vũ này, chẳng bao giờ mỏi mệt (Ê-sai 40:28). Vì vậy, chắc chắn rằng Đức Chúa Trời chẳng phải là con người để cần có sự nghỉ ngơi như chúng ta. Trong nguyên văn Hi-bá-lai, từ “nghỉ” không có nghĩa là “nghỉ ngơi” để lấy sức lại vì bị kiệt sức hay mỏi mệt, nhưng là “ngừng” hay “nghỉ” một công việc làm vì đã hoàn tất xong. Đức Chúa Trời đã nghỉ vào ngày thứ bảy với mục đích “ăn mừng” (celebrate) vì đã hoàn tất một công trình sáng tạo tuyệt mỹ trong sáu ngày. Ngoài ra, động từ “nghỉ” còn có nghĩa là “thưởng thức” một công trình tuyệt mỹ (kiệt tác) đã hoàn tất xong. Trong ngày thứ bảy Đức Chúa Trời dành thì giờ để suy nghĩ và tán thưởng cho công trình chính mình đã tạo dựng nên. Đức Chúa Trời thật sự lấy làm mãn nguyện về công trình sáng tạo vừa hoàn tất xong. Đó là kiệt tác mà Chúa đã dồn tất cả trí tuệ, tình cảm, năng lực của Ngài trong đó để hoàn thành.

Hơn thế nữa, Đức Chúa Trời còn chúc phước cho ngày nghỉ. Hành động chúc phước của Đức Chúa Trời mang ý nghĩa rất sâu xa. Sự chúc phước của Đức Chúa Trời là ấn chứng cho sự kết thúc cách tuyệt hảo về công trình của Ngài dựng nên. Đồng thời, đây cũng là dấu hiệu tiên tri về sự chúc phước của Chúa trên những ai sẽ tuân giữ ngày Sa-bát như chính Ngài. Chẳng những Đức Chúa Trời chúc phước cho ngày Sa-bát nhưng còn biến nó trở thành ngày “thánh” cho Ngài. Động từ được dịch là “đặt làm thánh” (sanctified) có nghĩa là “làm nên thánh,” “tách biệt riêng ra,” “phân biệt với những gì chung quanh.” Như vậy, ngày thứ bảy là ngày mà Đức Chúa Trời biến trở thành ngày của chính Ngài. Trong phạm trù luật pháp, ngày thứ bảy hay ngày sa-bát thuộc về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời làm chủ ngày đó chứ không phải là con người.

Sau khi Chúa Jesus từ kẻ chết sống lại vào ngày thứ nhất trong tuần lễ, Cơ đốc giáo đã lấy ngày Chúa Nhật làm ngày nghỉ để thờ phượng Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 16:1-2). Đó dấu hiệu chứng tỏ chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời. Là Cơ-đốc nhân, chúng ta bắt buộc phải tuân giữ ngày nghỉ làm nên ngày thánh. Chúng ta cần phải nghỉ mọi công việc làm của mình trong ngày Chúa Nhật để thờ phượng Đức Chúa Trời. Hành động này không chỉ nhằm mục đích cho thân thể và tinh thần chúng ta có cơ hội nghỉ ngơi để được bổ lại sức, nhưng để chúng ta chiêm ngưỡng và chúc tụng Chúa là Đấng đã làm những điều kỳ diệu và tuyệt vời trong đời sống của chúng ta như một công trình sáng tạo, vì trên bình diện nhỏ hẹp, mỗi người chúng ta là một công trình sáng tạo nhỏ bé của Ngài. Tinh thần ngày Chúa Nhật là tinh thần của sự an nghỉ và tận hưởng chính mình Ngài, để cho Ngài hành động trong và qua chúng ta trong sự thờ phượng. Điều đáng tiếc là ngày nay Cơ đốc giáo đã biến ngày Chúa Nhật trở thành những gì chúng ta làm cho Đức Chúa Trời và trở nên mỏi mệt sau một ngày dài “thờ phượng” Đức Chúa Trời! Chúng ta cảm thấy thỏa lòng vì đã làm được nhiều việc cho Đức Chúa Trời hơn là để cho Ngài hành động và làm công việc của Ngài trong đời sống của chúng ta. Thay vì chúng ta để cho ngày Chúa Nhật trở thành phương tiện Đức Chúa Trời truyền đạt ân sủng và phước hạnh của Chúa vào trong chúng ta và làm tươi mới tâm linh chúng ta vì đó là ngày mà Ngài chúc phước, chúng ta lại biến mình trở thành kẻ nô lệ cho ngày Chúa Nhật với biết bao sinh hoạt bận rộn và tìm thấy sự thỏa lòng và khen ngợi của con người trong việc chúng ta gọi là “hầu việc Chúa” và “tận hiến cho Ngài” trong ngày Chúa Nhật. Chúng ta hãy nhớ Chúa Jesus nói đến mục đích của việc Đức Chúa Trời tạo dựng nên ngày sa-bát hay ngày nghỉ là nhằm phục vụ cho con người và Con người là chủ ngày sa-bát (Mác 2:27). Khi chúng ta đặt sai thứ tự này, khi đó ngày Sa-bát hay Chúa nhật không còn là cớ tích của sự chúc phước mà là của sự rủa sả và dẫn đến sự khô hạn tâm linh. Ngoài ra, đôi khi chúng ta không đủ đức tin để dám sống theo lời Chúa dạy về việc dành ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Chúng ta vẫn còn đeo đuổi những nhu cầu vật chất hơn là nhu cầu tâm linh. Đó là sự thất bại của Cơ-đốc giáo và sự suy đồi thuộc linh của Hội thánh Đức Chúa Trời. Xin Chúa Thánh Linh phục hưng tinh thần tuân giữ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh trong từng đời sống con dân Chúa trong những ngày cuối cùng này.

Cầu nguyện:

Con cảm tạ Chúa đã dựng nên ngày Sa-bát ngày xưa và Chúa nhật ngày nay để con người chúng con tìm thấy phước hạnh trong sự thờ phượng Ngài. Xin cho con và dân sự của Ngài trung tín giữ ngày thờ phượng Chúa và thấy được sự chúc phước lớn lao của Ngài trên những ai tuân giữ mạng lịnh và điều răn của Ngài, nhất là tuân giữ ngày thờ phượng Chúa ngày Chúa Nhật. Xin ban sức mạnh của Ngài trên anh chị em con cũng có thể dám biệt riêng ra ngày Chúa Nhật để thờ phượng Ngài để thấy Chúa sẽ ban phước tuôn tràn trên đời sống cá nhân, gia đình, và Hội thánh của Đức Chúa Trời. Amen!

Monday, July 22, 2013

SỰ MẦU NHIỆM CỦA ĐỨC TIN VÀ TÌNH YÊU

Kinh Thánh: Xuất Ai-cập ký (Exodus) 2:1-10

Vả, có một người trong họ Lê-vi đi cưới con gái Lê-vi làm vợ. Nàng thọ thai, và sanh một con trai; thấy con ngộ, nên đem đi giấu trong ba tháng. Nhưng giấu lâu hơn nữa không được, nàng bèn lấy một cái rương mây, trét chai và nhựa thông, rồi để đứa trẻ vào, đem thả trong đám sậy dựa mé sông. Người chị đứa trẻ đứng xa nơi đó đặng cho biết nó sẽ ra sao.

Dưỡng linh:

Môi-se ra đời là kết quả của một cuộc hôn nhân thánh. Cả cha lẫn mẹ đều là dòng dõi Lê-vi. Rất dễ dàng cho cặp vợ chồng này bị cám dỗ cho rằng việc mang thai là do “sự cố” (accident) chứ không phải là một sự tính toán kỹ lưỡng. Cũng có thể họ đi đến chỗ muốn hủy hoại sự sống ngay từ trong trứng nước (phá thai) vì e rằng sự ra đời của con mình sẽ mang lại sự nguy hại cho tính mạng của mình và gia đình thay vì niềm vui và phước hạnh. Thần học về Đức Chúa Trời tạo dựng nên con người trong hình ảnh của Đức Chúa Trời chắc chắn đã in sâu trong tâm trí và tấm lòng của cha mẹ Môi-se, biến thành hành động quyết tâm duy trì sự sống của con, dầu phải trả một giá rất đắt. Họ tin rằng khi Đức Chúa Trời ban cho thì Ngài sẽ bảo vệ sự sống của con họ và cả chính họ. Đức Chúa Trời nghe lời cầu nguyện ra từ đức tin chân thật của cha mẹ của Môi-se. Ngài chẳng những bảo tồn mạng sống của họ và Môi-se nhưng còn cho họ có cơ hội nuôi nấng con mình, còn được chính công chúa của Pha-ra-ôn trả tiền! Đó là sự ban thưởng đức tin của Đức Chúa Trời đối với cha mẹ của Môi-se. Khi họ bằng lòng giao nộp sự sống của chính mình và gia đình mình cho Đức Chúa Trời, thì Ngài ban lại cho họ hơn điều mong đợi. Đó là nguyên tắc thuộc linh của Đức Chúa Trời mà Chúa Jesus đã nhắc đến: “Nếu ai vì cớ ta mà mất sự sống thì sẽ được lại; còn ai cứu lấy sự sống mình thì sẽ bị mất.”

Sự ban thưởng của đức tin trong đời sống của cha mẹ Môi-se còn đi xa hơn việc họ được lại con mình. Tác giả sách Hê-bơ-rơ cho chúng ta thấy lẽ mầu nhiệm của đức tin của họ đã ảnh hưởng cách sâu đậm và mãnh liệt như thế nào trên đời sống của Môi-se: “ Bởi đức tin, khi Môi-se mới sanh ra, cha mẹ người đem giấu đi ba tháng, vì thấy là một đứa con xinh tốt, không sợ chiếu mạng của vua. Bởi đức tin, Môi-se lúc đã khôn lớn, bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, đành cùng dân Ðức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi: người coi sự sỉ nhục về Ðấng Christ là quí hơn của châu báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban thưởng. Bởi đức tin, người lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận; vì người đứng vững như thấy Ðấng không thấy được. Bởi đức tin người giữ lễ Vượt Qua và làm phép rưới huyết, hầu cho đấng hủy diệt chẳng hề hại đến con đầu lòng dân Y-sơ-ra-ên. Bởi đức tin, dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển đỏ như đi trên đất khô, còn người Ê-díp-tô thử đi qua, bị nuốt mất tại đó” (11:23-29). Có lẽ tác giả Hê-bơ-rơ muốn nói rằng đức tin trong cha mẹ Môi-se chỉ một phần, được nhân lên đến bốn lần trong Môi-se!

Việc cha mẹ Môi-se sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để bảo tồn sự sống của con không chỉ là hành động của đức tin nhưng còn là hành động của tình yêu. Đức tin luôn luôn đi chung với tình yêu. Nếu không có đức tin thì cũng sẽ chẳng có tình yêu và ngược lại, vì tình yêu gắn liền với mối tương quan sống động của niềm tin của cha mẹ Môi-se với Đức Chúa Trời hằng sống. Tình yêu của cha mẹ Môi-se được bày tỏ đối với con cái.Vì thế, con cái cũng có tình yêu đối với nhau. Mi-ri-am lúc bấy giờ chỉ là bé gái trạc tuổi thiếu niên. Vì tình thương đối với cha mẹ và đối với em, Mi-ri-am sẵn lòng hy sinh đứng trong đám sậy để canh chừng em Môi-se. Đức tin và tình yêu được lưu truyền từ cha mẹ xuống đến con cái và được biểu lộ bằng hành động hy sinh và quên mình cho người khác trong những giây phút nguy hiểm và nghiệt ngã của gia đình cha mẹ của Môi-se, khi đứng trước phán quyết giữa sự sống và sự chết do lịnh vua Pha-ra-ôn ban hành.

Chỉ khi nào chúng ta bị rơi vào trong những hoàn cảnh phải đứng trước quyết định quan trọng trong cuộc đời, phải chọn lựa giữa sự sống và sự chết, giữa quyền lợi trong hiện tại và phước hạnh trong cõi tương lai, chúng ta sẽ để biểu lộ bản chất và mức độ của đức tin thật của chúng ta nơi Đức Chúa Trời. Sự hiểu biết của chúng ta về Đức Chúa Trời và giáo lý về sự sáng tạo sẽ nắm giữ đời sống của mỗi cá nhân và gia đình chúng ta sống còn qua thử thách. Sự thử nghiệm càng nghiệt ngã bao nhiêu, đức tin của chúng ta càng mạnh mẽ bấy nhiêu, và sẽ nâng chúng ta lên sự hiểu biết mới mẻ và sâu xa về chính Ngài. Đức tin không di truyền từ đời này qua đời khác, nhưng đức tin có sức mạnh mầu nhiệm để ảnh hưởng và trồng vào trong tấm lòng và tâm trí từ thế hệ này qua thế hệ khác. Khi cha mẹ dám sống đức tin, thì Đức Chúa Trời chúc phước cho đức tin đó và làm cho nó nẩy nở và tăng bội trong đời sống của con cái và dòng dõi của chính họ. Làm cha mẹ, khi chúng ta dám sống cho Đức Chúa Trời với đức tin Ngài ban cho, gia đình chúng ta sẽ kinh nghiệm quyền phép và sự giải cứu lạ lùng của Ngài. Nhưng khi cha mẹ từ khước Đức Chúa Trời và không bám lấy Ngài trong những hoàn cảnh và tình huống khó khăn của đời sống gia đình, dòng dõi chúng ta sẽ đứng chỗ trơn trợt trong đời sống tâm linh và sự hiểu biết về Ngài. Đức tin không thể tách rời khỏi tình yêu thương, vì tình yêu thương chính là sự thụ hưởng của kết quả niềm tin nơi Đức Chúa Trời thực hữu. Chính Đức Chúa Trời là tình yêu. Cho nên khi cha mẹ sống yêu thương nhau và yêu thương con cái, thì Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho con cái biết yêu thương nhau, vì chúng nó sẽ học đòi nơi cha mẹ tình yêu thương và đức tin. Sứ đồ Phao-lô nói: “Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương” (1 Cô-rinh-tô 13:13).

Cầu nguyện:


Lạy Chúa, xin giúp con có thể tin cậy Ngài trong mọi hoàn cảnh khó khăn, thử thách, và ngay cả đối diện với sự chết để con có thể kinh nghiệm những điều lạ lùng Ngài làm trong đời sống con, gia đình con, và hội thánh của Ngài. Chúa ôi! Xin đổ tình yêu chan chứa của Ngài vào trong đời sống con và khiến con sống trong mối tương giao sống động với Ngài, ngõ hầu qua đó Ngài sẽ làm cho con cháu và dòng dõi  con hết lòng tin yêu Chúa và tin yêu những người chung quanh. Amen!

Tuesday, July 9, 2013

SỰ TỂ TRỊ CỦA CHÚA

Kinh Thánh: Công-vụ các Sứ đồ (Acts) 7:17-19

Nhưng, gần đến kỳ phải ứng nghiệm lời hứa Ðức Chúa Trời đã thề với Áp-ra-ham, dân cứ sanh sản và thêm nhiều lên trong xứ Ê-díp-tô, cho đến khi trong xứ đó có một vua khác dấy lên, chẳng nhìn biết Giô-sép. Vua nầy dùng mưu hại dòng giống và hà hiếp tổ phụ chúng ta, ép phải bỏ con mới sanh, hầu cho sống chẳng được.

“But as the time of the promise was approaching which God had assured to Abraham, the people increased and multiplied in Egypt, until THERE AROSE ANOTHER KING OVER EGYPT WHO KNEW NOTHING ABOUT JOSEPH.” It was he who took shrewd advantage of our race and mistreated our fathers so that they would expose their infants and they would not survive.

Dưỡng linh:

Y-sơ-ra-ên và gia đình xuống cư ngụ tại xứ Ai-cập thời gian 400 năm. Dân Y-sơ-ra-ên sống tách biệt với dân Ai-cập, cư ngụ tại vùng Gô-sen ở phía bắc, nơi tập trung của các trung tâm văn hóa Ai-cập. Từ một gia đình chỉ khoảng 70 người. Nay đã sanh sôi nẩy nở thành một dân tộc với dân số khoảng hai triệu người (Dân số ký 1:46). Đức Chúa Trời đã dùng đất Ai-cập để làm hoàn thành lời hứa về dòng dõi của Áp-ra-ham sẽ đông như sao trên trời, như cát dưới biển (Sáng 35:11, 12). Cuộc sống của dân Y-sơ-ra-ên khác hẳn với người Ê-díp-tô. Dân Y-sơ-ra-ên thờ phượng Đức Chúa Trời; dân Ê-díp-tô thờ đa thần.  Dân Y-sơ-ra-ên làm nghề chăn chiên; dân Ê-díp-tô làm nghề xây dựng. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã góp phần xây dựng nhiều kim tự tháp cho xứ Ai-cập.

Sau khi Giô-sép, vị tể tướng được Đức Chúa Trời dấy lên từ ngục tù, mang lại biết bao phước hạnh và sự sống cho dân Ai-cập và thế giới lúc bấy giờ qua đời. Nhiều triều đại vua Ai-cập kế tiếp vẫn dành nhiều ưu ái cho dân tộc của Đức Chúa Trời. Nhưng đến triều đại thứ XVIII của vua Ai-cập, khi thấy cần phải đem dân sự của Ngài ra ngục tù này, Đức Chúa Trời đã dấy lên một vị vua mới, chẳng quen biết gì Giô-sép. Vị vua mới này có thể là một trong các vị vua của người Hyksos từ phía Bắc tràn xuống, xâm chiếm xứ Ai-cập và cướp ngôi vua. Vị vua mới này đã thay đổi thái độ đối với dân sự của Ngài. Vì lòng ganh ghét và sợ hãi, thay vì dành mọi điều kiện dễ dàng cho dân Y-sơ-ra-ên, vua ra lịnh tìm cách đàn áp, chồng chất thêm bao gánh nặng và nỗi khổ đau trên dân tộc thánh, chỉ với mục đích hạn chế sự phát triển của họ, vì e rằng khi mạnh đủ giống dân này sẽ chống lại dân Ê-díp-tô.

Sống quá lâu tại xứ Ai-cập với sự chúc phước của Chúa, có lẽ dân Y-sơ-ra-ên cảm thấy thỏa mãn về cuộc sống và chẳng còn nghĩ gì đến lời hứa mà Đức Chúa Trời đã ban cho tổ phụ họ là Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời muốn dành ban cho họ một vùng đất tốt đẹp hơn những gì họ hiện đang thụ hưởng mà họ chưa bao giờ từng biết, nằm ngoài trí tưởng tượng của họ. Sự thay đổi chế độ cai trị tại Ai-cập đã gây cho dân sự của Đức Chúa Trời biết bao đau khổ, đẩy họ vào trong con đường cùng khốn, chồng chất trên họ biết bao nỗi cay đắng, tưởng chừng vượt quá sức chịu đựng của họ. Kinh Thánh mô tả như sau: “Vậy, người Ê-díp-tô bèn đặt các kẻ đầu xâu để bắt dân Y-sơ-ra-ên làm xâu khó nhọc; họ xây thành Phi-thom và Ram-se dùng làm kho tàng cho Pha-ra-ôn. Nhưng người Ê-díp-tô càng bắt làm khó nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều lên, và tràn ra chừng nấy. Người Ê-díp-tô bèn đem lòng ghen ghét dân Y-sơ-ra-ên, bắt làm công việc nhọc nhằn, gây cho đời dân ấy nên cay đắng, vì nỗi khổ sở nhồi đất, làm gạch và mọi việc khác ở ngoài đồng. Các công việc nầy người Ê-díp-tô bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nhọc nhằn lắm” (Xuất Ai-cập ký 1:11-14). Trong hoàn cảnh đen tối đó, Đức Chúa Trời vẫn hành động, theo dõi nỗi thống khổ của dân sự của Ngài và lắng nghe lời kêu cầu rên siết của họ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đặt để dân sự của Chúa trong hoàn cảnh như vậy để làm cho họ trở nên chán ngán xứ Ai-cập, mong muốn được giải thoát, để đưa họ ra khỏi ngục tù Ai-cập, vào đất hứa tự do Ca-na-an là vùng màu mỡ, đượm sữa và mật.

Trong cuộc đời của người theo Chúa chẳng khác gì dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa. Có những lúc Đức Chúa Trời để chúng ta trong cảnh hoạn nạn, gánh chịu bịnh tật, nỗi khốn cùng và đau khổ. Ngài cho phép biết bao nhiêu điều cay đắng xảy đến với cuộc đời của chúng ta, để rồi từ đó Ngài muốn thay đổi lối sống và tương lai mà đôi khi chúng ta chẳng bao giờ hiểu được. Dường như chúng ta tưởng rằng Đức Chúa Trời đã lìa bỏ và không còn nghe lời cầu nguyện của chúng ta nữa. Lời kêu la và rên siết của chúng ta dường như bay theo luồng gió và đi vào trong khoảng không vô tận! Tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn theo dõi từng chi tiết trong cuộc đời chúng ta, lắng nghe lời rên siết và biết rất rõ những gì chúng ta đang đối diện và đi qua mỗi ngày trong cuộc sống này. Có thể Đức Chúa Trời thấy rằng trước đây, khi còn sống trong cảnh cơ hàn, khó khăn, nghèo khổ, lòng chúng ta gắn bó và keo sơn với Chúa, siêng năng học hỏi Lời Ngài, sốt sắng cầu nguyện và thờ phượng Chúa, hết lòng phục vụ anh em và tha nhân. Nhưng khi chúng ta đã được Chúa xuống phước ban ơn cho đầy đủ và no ấm, chúng ta quay sang tìm kiếm sự an toàn và hạnh phúc của cuộc đời ở trong những  gì Chúa ban cho thay vì trong chính mình Ngài. Khi đó, Đức Chúa Trời sẽ cho phép hoạn nạn, khó khăn, bịnh tật, đau khổ, cay đắng trăm chiều giáng trên chúng ta, để mang chúng ta quay trở lại với Ngài là cội nguồn của mọi ơn phước, hầu cho đời sống tâm linh chúng ta trở nên sung mãn và phỉ phu trong Ngài.

Nếu đời sống của Cơ-đốc nhân trên trần gian này quá đầy đủ và sung sướng như dân Y-sơ-ra-ên sống trong xứ Ai-cập thì rất có thể chúng ta sẽ chẳng bao giờ ngửa trông một quê hương tốt hơn ở trên trời. Trạm dừng chân cuối cùng của chúng ta không phải là trần gian này mà là thiên quốc. Giống như dân Y-sơ-ra-ên, trạm dừng chân và nơi đến cuối cùng của họ không phải xứ Ai-cập mà là đất hứa Ca-na-an. Để làm cho linh hồn họ chán ngán và đem lòng họ ra khỏi Ai-cập và hướng về xứ Ca-na-an, Đức Chúa Trời cho phép một vị vua chẳng từng biết Giô-sép lên làm vua, thay đổi toàn bộ cục diện cuộc sống của dân sự Ngài. Cũng một lẽ như vậy, Đức Chúa Trời có thể dùng sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội, thể chế chính trị, hay bất cứ điều nào Ngài muốn để làm cho chúng ta trở nên chán ngán thế gian và thêm lòng mong muốn bước vào thiên quốc là quê hương tốt hơn để ở với Ngài đời đời. Trần gian này không phải là quê hương của Cơ-đốc nhân. Nó chỉ là chỗ mà Đức Chúa Trời muốn dùng để làm cho chúng ta tăng trưởng, lớn lên trong đời sống tâm linh, trong mối liên hệ của chúng ta với Chúa và anh em, trong tinh thần phục vụ và tận hiến cho Chúa và cho anh em, tha nhân. Và cuối cùng Ngài đem chúng ta ra khỏi nơi này để đến chốn vinh hiển, sáng láng, hạnh phúc đời đời. Thế thì chúng ta càng phải cảm tạ Chúa là Đấng cho phép mọi sự xảy đến để làm ích lợi cho kẻ yêu mến Ngài! Chúa là Đấng nắm giữ vận mệnh của cả thế giới, từng dân tộc, nhưng cũng là Đấng nắm giữ từng cuộc đời bé nhỏ của chúng ta và dùng mọi sự để mang lại điều tốt lành nhất cho kẻ thuộc về Ngài. Ngày xưa Đức Chúa Trời dùng mưu độc hại của Pha-ra-ôn để mang lại sự chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên. Ngày nay, Chúa cũng có thể dùng mưu độc hại của con người để mang lại sự tốt lành cho đời sống của chúng ta là con dân của Ngài. Hãy tin cậy và phó thác chính mình chúng ta cho Ngài và chờ đợi sự thương xót và lòng nhân từ của Ngài mỗi ngày. Hãy sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời là Đấng yêu chúng ta và phó chính mình Ngài vì chúng ta, ngửa trông sự hiện đến phước hạnh của Ngài.

Cầu nguyện:


Lạy Chúa toàn năng, Đấng nắm giữ cả thế giới và từng cuộc đời của con trong tay của Ngài, con cảm tạ Chúa vì Ngài chẳng bao giờ bỏ con mãi mãi trong cô đơn, cùng khốn, đau khổ và ngay cả cay đắng. Con tin rằng Ngài có một chương trình tốt lành cho đời sống con khi Ngài đặt để con trong những hoàn cảnh và tình huống mà con chẳng bao giờ mong đợi. Xin ban cho con đức tin, niềm hy vọng ngày càng vững vàng và mạnh mẽ trong Ngài để con có thể vượt qua được những lượn sóng đang vồ dập cuộc đời con, những nỗi đau khổ của tinh thần lẫn thể xác đang tàn phá cuộc đời con, và đưa con đến nơi bến bờ bình an và hạnh phúc trong Ngài. Xin cho con khám phá ra những điều tốt lành mà Ngài muốn ban cho con qua những ngày đen tối, đầy hoạn nạn nhiễu nhương này. Amen!

Monday, July 1, 2013

ĐƯỢC DỰNG THEO ẢNH TƯỢNG CỦA NGÀI


Kinh Thánh: Sáng-thế ký 1:26-31

Ðức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất. Ðức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Ðức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ (Sáng 1:26-27)

Then God said, “Let Us make man in Our image, according to Our likeness; and let them rule over the fish of the sea and over the birds of the sky and over the cattle and over all the earth, and over every creeping thing that creeps on the earth.” God created man in His own image, in the image of God He created him; male and female He created them (Genesis 1:26-27)

Dưỡng linh:

Sau khi tạo dựng mọi vật trong 5 ngày, đến ngày thứ 6 Đức Chúa Trời dựng nên con người là tạo vật cao cấp nhất trong công trình sáng tạo của Ngài. Tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời dựng nên con người là “như hình ta và theo tượng ta.” Chỉ trong hai câu 26 và 27, cụm từ “như hình Đức Chúa Trời” được nhắc đến ba lần. Như thế, đây là điều vô cùng quan trọng và quyết định đối với Đức Chúa Trời, và đó cũng là đặc quyền Ngài ban cho con người. Như vậy, việc Đức Chúa Trời dựng con người theo hình và tượng của Ngài có nghĩa gì?

Có nhiều sự giải nghĩa khác nhau về vấn đề này. Tuy nhiên, điều chắc chắn rằng Đức Chúa Trời không có hình dạng thể xác như con người (physical appearance). Con người được dựng nên theo hình và tượng của Chúa được hiểu liên quan đến đời sống trí tuệ, bản chất đạo đức và phạm trù tâm linh, thay vì thể xác. Trong nguyên văn Hi-bá-lai, từ “hình” (image) thường được dùng chỉ về các pho tượng chạm trổ (statues), khuôn mẫu hay kiểu mẫu (models), mô hình (replicas). Từ “tượng” (likeness) là một danh từ trừu tượng; danh từ này ra từ động từ có nghĩa là “giống” hay “tương tự.” Như vậy, hai từ này được dùng để diễn tả hai khía cạnh khác nhau của con người trong sự tạo dựng của Chúa. Trong một số phương diện nào đó, con người phản ánh hình ảnh và chức năng của Đấng sáng tạo nên mình. Trong phạm trù tâm linh và trí tuệ, Đức Chúa Trời ban cho con người khả năng phán đoán thuộc linh giúp con người có thể liên hệ với Đức Chúa Trời và phục vụ Ngài qua việc làm “phó vương” để thay Ngài quản trị vũ trụ vạn vật trong trật tự Ngài muốn. Trong phạm trù đạo đức, con người giống Đức Chúa Trời là Đấng tốt lành, thiện hảo, và vô tội. Như vậy, chính hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người cho thấy sự khác biệt giữa con người với các loài tạo vật khác trong cả cõi hoàn vũ. Bởi đó, Đức Chúa Trời ủy thác cho con người quyền cai trị tất cả loài thọ tạo. Tuy nhiên, hình ảnh của Đức Chúa Trời được ban cho trong A-đam không chấm dứt trong chính ông nhưng được lưu truyền đến hậu tự của ông. Như khi A-đam sanh Sết thì Kinh Thánh chép: “Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống như hình tượng mình, đặt tên là Sết” (Sáng thế ký 5:3 - trong nguyên văn Hi-bá-lai thứ tự của hai từ này nằm vị trí đảo lại).

Trong Xuất Ai-cập ký 25:9, Môi-se sử dụng cùng một loại ngôn ngữ như Sáng-thế ký 1:26 để mô tả cấu trúc của việc xây dựng đền tạm dưới đất cho Đức Chúa Trời. Môi se được Chúa truyền thực hiện theo kiểu mẫu mà Đức Chúa Trời phán dạy ông trên núi Si-nai. Chúng ta không biết có phải ông đã được Chúa cho thấy một kiểu mẫu hay mô hình của đền thờ thuộc linh trên trời để ông thực hiện dưới đất này hay không? Nhưng điều chúng ta biết chắc là trong một số phương diện nào đó, đền tạm hay đền thờ dưới đất này hoạt động và có chức năng của nó như đền thờ trên trời. Tác giả Hê-bơ-rơ cũng đề cập đến ý này khi nói đến mối liên hệ giữa đền thờ dưới đất tại Giê-ru-sa-lem và đền thờ trên trời (Hê-bơ-rơ 8:4-5). Mối liên hệ này biểu tượng cho mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời với con người và qua đó Đức Chúa Trời mang con người đến chỗ hiểu biết về chính Ngài cách rõ ràng hơn. Cho đến khi Chúa Jesus nhập thể cách đây hơn 2000 năm, Ngài là sự hiểu biết đầy trọn nhất về Đức Chúa Trời được ban cho con người sa ngã và tội lỗi.

Sau khi dựng nên các loài thú đồng, chim trời, cá biển thì Đức Chúa Trời đã ban phước cho chúng để sanh sản ra nhiều trên đất. Đó là sự chúc phước lần thứ nhất. Nay, sau khi dựng nên con người, Đức Chúa Trời ban phước cho, và sự sanh sản đầy dẫy đất để quản trị thế giới mà Đức Chúa Trời tạo dựng nên, là bằng chứng về sự chúc phước của Ngài. Sự sanh sản thêm nhiều là phương cách Đức Chúa Trời cho phép con người được dự phần với Ngài trong tiến trình tạo dựng con người và làm cho đầy dẫy đất. Đó là sự chúc phước lần thứ hai. Chúng ta thấy rất rõ ràng Đức Chúa Trời dựng nên con người, Ngài biết con người có nhu cầu gì để sinh tồn nên cũng đã dự bị sẵn cho con người đầy đủ những nhu cầu về vật chất.

Con người nằm ngay trung tâm điểm của công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời. Trong nguyên chỉ của Chúa, con người thay thế Ngài để quản trị cả thế giới Ngài dựng nên như một “phó vương.” Con người được hưởng tất cả những gì tốt đẹp nhất mà Ngài đã dựng nên trong vũ trụ này. Con người là tạo vật trong chính nó chứa đựng vẻ đẹp và sự tốt lành của Đức Chúa Trời. Đó là sự vinh hiển mà con người được Ngài ban cho. Chủ tâm của Đức Chúa Trời là mưu cầu hạnh phúc và điều tốt lành cho con người đã được dựng nên theo hình và tượng của Ngài. Tuy nhiên, chính con người đã không nhận ra giá trị thật của chính mình và tự phá hủy chính mình qua việc con người phạm tội. Sự vinh hiển không còn nữa. Thay vào đó là sự tăm tối và tủi nhục, chạy đi tìm kiếm hư vinh cho chính mình để lấp đầy khoảng trống trong chính mình. Con người chẳng bao giờ mãn nguyện khi tự mình bóp méo hay hủy hoại hình ảnh của Đức Chúa Trời, và tách rời chính mình ra khỏi mối liên hệ với Ngài. Nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời, trong Chúa Jesus, con người tìm lại được chính mình khi hình ảnh của Đức Chúa Trời được khôi phục, như sứ đồ Phao-lô nói, Chúa Jesus là “hình ảnh không thấy được của Đức Chúa Trời” (Cô-lô-se 1:15). Lúc đó, con người là tạo vật được dựng nên mới của Ngài (2 Cô-rinh-tô 5:17).

Mỗi một con người hiện hữu trên trần gian này đã được Đức Chúa Trời biết trước về sự ra đời của mình; và trong chương trình đời đời Ngài đã dự bị cung ứng cho người đó nhu cầu căn bản cần thiết. Sự đói kém và thiếu thốn của con người thông thường là do sự sai trật trong việc phân phối của cải vật chất do tấm lòng ích kỷ của con người hơn là sự dự phòng của Đức Chúa Trời cho con người. Vì không nhận ra được chương trình tốt lành và sự ban cho của Đức Chúa Trời, con người luôn luôn sống trong lo âu và tìm cách chiếm hữu cho mình những nhu cầu vật chất mà chẳng bao giờ biết nhàm chán. Chúa Jesus hứa rằng khi nào chúng ta tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời và bằng lòng đi theo con đường của Ngài vạch ra cho chúng ta, Ngài sẽ là sự bảo đảm cho những nhu cầu căn bản của đời sống con người, vì những điều đó chỉ là sự ban cho thêm của Ngài và đã được bao gồm trong công cuộc sáng tạo của Ngài cho con người (Ma-thi-ơ 6:33).

Cầu nguyện:

Lạy Chúa yêu quý, con cảm tạ Ngài đã dựng con người chúng con nên trong hình ảnh tốt lành của Ngài và ban cho con người chúng con sự vinh hiển cao trọng để đồng cai trị với Ngài. Xin cho con mỗi ngày khám phá ra những giá trị thật của chính con không phải nằm trong vật chất con chiếm hữu mà trong chính hình ảnh tốt lành của Ngài trong con. Cảm tạ Chúa Jesus Christ đã đến để khôi phục lại hình ảnh của Ngài đã bị hủy hoại và bóp méo do tội lỗi của tổ phụ chúng con gây ra. Xin cho cuộc đời con là bằng chứng tốt lành về công trình sáng tạo và khôi phục của Ngài trong Chúa Jesus, đưa dắt nhiều người trở về với chính Ngài. Xin cho con tin cậy và an nghỉ trong Chúa là Đấng biết rõ và cung ứng mọi nhu cầu cần thiết của đời sống con, gia đình con, và hội thánh của Ngài. Amen!