Monday, June 24, 2013

Đức Chúa Trời – Đấng tạo hóa

Sáng-thế ký (Genesis) 1:1-25

Ban đầu Ðức Chúa Trời dựng nên trời đất. Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Ðức Chúa Trời vận hành trên mặt nước (Sáng 1:1-2)
In the beginning God created the heavens and the earth. The earth was formless and void, and darkness was over the surface of the deep, and the Spirit of God was moving over the surface of the waters (Genesis 1:1-2)

Dưỡng linh:

Trong phần đầu của sách Sáng-thế ký, câu 1 của đoạn 1 là câu giới thiệu của cả sách: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” Lời giới thiệu này tổng kết toàn bộ ý chính của sách và làm nền tảng cho lịch sử cứu chuộc của dân Y-sơ-ra-ên nói riêng và của nhân loại nói chung. Câu mở đầu này đưa ra cho chúng ta thấy một số điểm thần học căn bản nhưng vô cùng quan trọng như sau:

  1. Ngay từ đầu, Kinh Thánh đã tuyên bố dứt khoát: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” Trước giả của Ngũ Kinh là Môi-se không hề nghi vấn, hoặc đặt giả thuyết về vấn đề vũ trụ từ đâu mà có, hay đặt thành đề tài để con người tranh luận về vấn đề nguồn gốc vũ trụ. Từ trước đến nay chưa hề có ai phủ nhận sự hiện hữu của vũ trụ. Nếu như thế, người đó sẽ phủ nhận sự hiện hữu của chính mình!
  2. Kinh Thánh xác quyết rõ ràng về sự thực hữu của Đức Chúa Trời. Vấn này không cần phải chứng minh dài dòng vì có Đức Chúa Trời thì mới có vũ trụ vạn vật. Khi chúng ta nhìn nhận có vũ trụ thì phải nhìn nhận có Đức Chúa Trời hay ngược lại. Hai yếu tố này không thể tách rời nhau, như khi chúng ta nhìn nhận có sự vật thì phải thừa nhận có người làm ra nó. Đức Chúa Trời hiện hữu trước vũ trụ và vạn vật. Ngài tồn tại từ trước vô cùng cho đến đời đời (Thi thiên 90:2). Nhưng vũ trụ vạn vật thì có bắt đầu có kết thúc.
  3. Đức Chúa Trời là cội nguồn của vũ trụ, trời đất và của tất cả mọi sự. Ngài đứng đầu mọi sự, trên mọi sự, và mọi sự trong mọi sự. Lấy Đức Chúa Trời ra khỏi vũ trụ vạn vật thì tất cả mọi sự đều sụp đổ, trống không, vô nghĩa.
  4. Thứ tự ở đây rất rõ ràng: Đức Chúa Trời hiện hữu trước rồi mới đến vũ trụ. Vũ trụ là công việc của Đức Chúa Trời chứ không phải Đức Chúa Trời là “sản phẩm” của vũ trụ. Đức Chúa Trời là Đấng tạo hóa chứ không phải con người nhào nặn nên Đức Chúa Trời. Đồng thời, Đức Chúa Trời là sở hữu chủ của vũ trụ vạn vật vì chính Ngài dựng nên tất cả. Con người sẽ chẳng bao giờ có thể ôm cả vũ trụ vào trong chính mình, thì con người cũng sẽ chẳng bao giờ am tường hết về Đức Chúa Trời. Đấng tạo hóa vượt trổi hơn tạo vật của Ngài. Điều đó nên lên sự vĩ đại và cao cả của Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng siêu việt (transcendent), tách mình khỏi tạo vật và nắm quyền cai trị trên cả tạo vật.

Trái đất lúc ban đầu là vô hình và trống không; nghĩa là không có hình dạng và trống không (without shape and empty). Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên vũ trụ vạn vật từ chỗ vô hình và trống không (ex nihilo). Chỉ một mình Đức Chúa Trời là Đấng có thể làm nên vũ trụ không dựa vào bất cứ một vật liệu nào có sẵn. Ngài không bị giới hạn bởi bất cứ điều gì và không lệ thuộc vào bất cứ mảy may nào. Thế giới mà chúng ta có ngày nay hoàn toàn là sản phẩm của tư tưởng của Đức Chúa Trời.

Điều đầu tiên trong công cuộc sáng tạo, Thần của Chúa vận hành trên mặt vực để xua tan sự tối tăm. Vì sự sáng là tốt lành nên Đức Chúa Trời phân sự sáng ra khỏi sự tối. Sự sáng chỉ về sự sống. Sự tối tăm chỉ về sự chết. Đức Chúa Trời thấy mọi việc Ngài làm là tốt lành. Những gì ra từ Đức Chúa Trời là tốt lành và thiện hảo. Ngài tạo dựng mọi sự để phục vụ cho con người là tạo vật cao nhất trong công trình sáng tạo của Ngài.

Giáo lý về Đức Chúa Trời thực hữu và là Đấng tạo dựng nên muôn loài vạn vật là tiền đề và nền tảng căn bản của tất cả các giáo lý cứu chuộc trong niềm tin Cơ đốc. Khi con người phủ nhận sự thực hữu của Đức Chúa Trời, kéo theo đó con người sẽ phủ nhận mối liên hệ giữa công trình sáng tạo với Đức Chúa Trời và sự tương quan giữa con người với Đấng Tạo Hóa. Ma quỷ rất quỷ quyệt, tìm cách phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, tách biệt giữa Đức Chúa Trời với công trình sáng tạo của Ngài để phủ nhận mối liên hệ giữa Ngài với con người; qua đó, con người phủ nhận thực tại của tội lỗi và công lao cứu chuộc của Chúa Jesus Christ.

Khi công trình sáng tạo thứ nhất bị ma quỷ xen vào và phá đổ, Đức Chúa Trời thực hiện công trình sáng tạo thứ hai qua Chúa Cứu Thế Jesus. Qua đó, Đức Chúa Trời tạo dựng nên những con người mới để thích hợp với vương quốc đời đời của Ngài. Khi sứ đồ Phao-lô mô tả về điều này, ông không ngần ngại sử dụng cùng động từ “dựng nên” của công cuộc sáng tạo lần thứ nhất: “Vậy, nếu ai ở trong Ðấng Christ, thì nấy là người được dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (2 Cô-rinh-tô 5:17). Thần của Đức Chúa Trời vận hành trong tấm lòng đen tối của con người thuộc công trình sáng tạo cũ, biến đổi và tái tạo để phù hợp với công trình sáng tạo mới của Ngài. Trong công cuộc sáng tạo cũ, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất trước hết rồi đến con người. Trong công cuộc sáng tạo mới, Ngài dựng nên con người mới trước rồi mới đến trời mới và đất mới. Trời và đất mà chúng ta thấy ngày nay sẽ bị tiêu huỷ và dành cho lửa (2 Phi-e-rơ 3:10), nhường chỗ cho sự hiện đến của trời mới và đất mới, nơi ở của những con người được dựng nên mới trong Chúa Cứu Thế Jesus (Khải 21:1-4). Lúc bấy giờ, Đức Chúa Trời cũng sẽ làm muôn sự trong muôn sự (1 Cô-rinh-tô 15:28).

Cầu nguyện:

Con cảm tạ Chúa vì Lời Ngài đem đến cho con sự hiểu biết về chính Ngài và nguồn gốc của toàn cõi tạo vật, trong đó có chính con. Cám ơn Chúa Jesus vì trong Ngài con được dựng nên để xứng hiệp cho công trình sáng tạo mới đời đời của Ngài. Xin ban cho con tiếp tục khám phá mối liên hệ của con với Ngài mỗi ngày và đem người khác đến trong mối tương giao này, để họ có thể nhận biết phước hạnh của tạo vật mà Ngài đã dựng nên trong hình ảnh tuyệt vời của Ngài. Amen!

Monday, June 17, 2013

SỰ ĐỤNG CHẠM KHÁC THƯỜNG

Lu-ca (Luke) 8:43-48

Bấy giờ, có một người đờn bà đau bịnh mất huyết mười hai năm rồi, cũng đã tốn hết tiền của về thầy thuốc, không ai chữa lành được, đến đằng sau Ngài rờ trôn áo; tức thì huyết cầm lại. Ðức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ai sờ đến ta? Ai nấy đều chối; Phi -e-rơ và những người đồng bạn thưa rằng: Thưa thầy, đoàn dân vây lấy và ép thầy. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Có người đã rờ đến ta, vì ta nhận biết có quyền phép từ ta mà ra. Người đờn bà thấy mình không thể giấu được nữa, thì run sợ, đến sấp mình xuống nơi chơn Ngài, tỏ thật trước mặt dân chúng vì cớ nào mình đã rờ đến, và liền được lành làm sao. Nhưng Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi con gái ta, đức tin ngươi đã chữa lành ngươi; hãy đi cho bình an.

Dưỡng linh:

Các sách Phúc Âm ghi lại chi tiết của câu chuyện người đàn bà này chạy chữa biết bao nhiêu thầy thuốc nhưng không được lành, rất đáng cho chúng ta chú ý (Ma-thi-ơ 9:20-22; Mác 5:25-27). Trong thời Tân Ước, việc chữa trị bởi nhiều thầy thuốc khác nhau khá rất phổ thông. Đôi khi bịnh nhân trở thành nạn nhân của sự lạm dụng nghề nghiệp của các bác sĩ, khiến cho căn bịnh ngày càng trở nên trầm trọng hơn thay vì được chữa lành. Lu-ca là một bác sĩ. Ông ghi chép lại chi tiết này để xác nhận rằng sự chữa trị của y khoa con người không giúp được gì cho người đàn bà này. Phương tiện y khoa chỉ là phương cách Đức Chúa Trời dùng để chữa trị (treatment) những căn bịnh của con người, nhưng chính Đức Chúa Trời mới là Đấng chữa lành (healing). Sự cứu rỗi Đức Chúa Trời ban cho con người trong Chúa Jesus Christ bao hàm trong đó sự chữa lành về thể xác. Đó là Phúc âm toàn vẹn (the wholistic gospel). Chính Chúa Jesus đã chịu thương khó và chết thay cho con người để mang lấy tội lỗi và bịnh tật con người trên thân thể của Ngài hầu bởi đó con người nhận được sự chữa lành trong danh của Ngài (Ê-sai 53:5; Ma-thi-ơ 8:17).

Đang trên đường đi đến nhà Giai-ru để kêu con gái ông ta từ kẻ chết sống lại, hành trình của Chúa Jesus bị gián đoạn vì có một người đàn bà mà đức tin của nàng bắt buộc Ngài phải làm điều nàng mong ước. Người đàn bà này sống trong sự đau khổ của bịnh tật huyết lậu và sự ruồng bỏ của xã hội Do-thái 12 năm qua! Nàng ôm trong mình căn bịnh và qua biết bao nhiêu tay thầy thuốc. Nhưng rồi “tiền mất tật mang.” Thật là một cuộc đời đáng thương. Không hy vọng. Không tương lai. Không nơi chấp nhận. Đời nàng chẳng có ước mơ nào lớn hơn việc một ngày nào đó được chữa lành căn bịnh quái ác này. Nghe đồn nhiều về Chúa Jesus và biết Ngài sẽ đi ngang qua thành phố của mình. Nàng tìm đủ mọi cách để chạm được đến áo Ngài là đủ. Người đàn bà này biết rằng mình ô uế và không được phép đụng chạm đến bất cứ ai. Nếu biết được đụng đến ai, bà sẽ bị ném đá chết! Lòng khao khát được lành bịnh quyện lẫn tin quả quyết vào tình thương và lòng trắc ẩn của Chúa Jesus nảy sinh trong bà một suy nghĩ vụng trộm của niềm tin non nớt, đơn sơ: nếu chạm được áo của Ngài thế là đủ. Tư tưởng thầm kín đã đẩy bà vào con đường táo bạo, liều lĩnh và cuộc phiêu lưu kỳ thú của đức tin. Giữa đám đông người theo Chúa Jesus trong ngày hôm đó đi về hướng nhà người cai nhà hội Giai-ru, người đàn bà vô danh này tìm cách trà trộn, chen lấn để đến gần Chúa Jesus. Giơ tay ra nắm chạm được trôn áo Ngài. Tức thì sức mạnh từ nơi Chúa Jesus ra truyền vào người nàng. Sự lành mạnh của Chúa được truyền vào trong bà và sự đau yếu của bà được Ngài gánh lấy. Đó là sự hoán đổi của Tin Lành chỉ tìm thấy trong Chúa Jesus Christ. Kết quả là chỉ trong phút chốc chứng huyết lậu chấm dứt và nàng trở nên sạch sẽ, nhẹ nhàng.

Việc xảy ra trong cá nhân người đàn bà này là một kinh nghiệm riêng tư không thể san sẻ cho bất cứ ai khác, dẫu cho những người đó đi gần bên và đụng chạm Chúa Jesus giống như bà. Chính vì thế khi Chúa Jesus hỏi các môn đồ: “Ai sờ đến ta?” Ai nấy đều chối. Phi -e-rơ và những người đồng bạn thưa rằng: “Thưa thầy, đoàn dân vây lấy và ép thầy.” Chúa Jesus phải lên tiếng giải thích cách rõ ràng sự việc xảy ra để cho người đàn bà này có cơ hội công khai tuyên xưng đức tin của mình cho mọi người. Chúa Jesus làm điều này với mục đích gì? Có phải Ngài muốn đặt người đàn bà này trong tình trạng lúng túng trước mặt mọi người hay muốn chứng tỏ Ngài có quyền phép chữa bịnh không? Câu trả lời hàm chứa trong câu nói của Chúa Jesus, sau khi nàng gieo mình xuống dưới chơn Ngài trước mặt mọi người: “Hỡi con gái ta, đức tin ngươi đã chữa lành ngươi; hãy đi cho bình an.” Trong nguyên văn Tân Ước, từ “chữa lành” ở đây có nghĩa là “làm cho trở nên toàn vẹn” và liên quan đến sự cứu rỗi cả phần xác lẫn phần hồn. Chúa Jesus chẳng những muốn đem đến sự chữa lành thể xác cho bà nhưng cả sự cứu rỗi toàn vẹn về phần xác lẫn phần hồn. Sự chữa lành thể xác không dừng lại trong chính nó. Nó chỉ là phương tiện Đức Chúa Trời dùng để đưa con người đến mục đích cao cả hơn là sự cứu rỗi phần tâm linh. Khi con người nhận được cứu rỗi tâm linh, lúc bấy giờ họ sẽ chiếm hữu được sự bình an của Đức Chúa Trời. Sự bình an này là sự hòa thuận với Đức Chúa Trời và với con người. Vì thế Chúa Jesus phán với người đàn bà được chữa lành: “Hãy đi cho bình an.”

Nơi nào đó đức tin, nơi đó có phép lạ xảy ra. Đức tin tùy thuộc vào sự hiểu biết về Chúa của từng người. Đức tin nẩy sinh ra những hành động táo bạo và phiêu lưu với Đức Chúa Trời cách kỳ thú. Đây là kinh nghiệm mang tính cá nhân thay vì tập thể và không thể san sẻ cho ai khác được. Đức Chúa  Trời bắt buộc phải đáp ứng lại với đức tin đó. Kinh nghiệm đụng chạm với chính Chúa và được chữa lành thuộc phạm trù cá nhân và đó sự đáp ứng của Đức Chúa Trời đối với đức tin của cá nhân đó. Kết quả của sự đụng chạm đó sẽ được người khác cảm nhận và phát hiện ra được điều gì đã xảy ra trong chính con người đã đụng chạm được với chính Ngài. Ngôn từ ngày nay dùng để chỉ về sự đụng chạm của cá nhân với Chúa Cứu Thế Jesus là “sự gặp gỡ Chúa.” Sau-lơ, một con người ngạo mạn và phạm thượng đã gặp gỡ Chúa Jesus trên đường đi Đa-mách. Từ đó Ngài đã thay hướng đổi chiều cuộc đời này, trở thành một Phao-lô khiêm nhường nhưng can đảm dám sống chết cho Chúa kể từ giây phút phước hạnh đó! Kinh nghiệm của Sau-lơ mang tính chất cá nhân và riêng tư. Ngay cả những người cùng đi với ông cũng không nhận ra được sự đụng chạm trong linh hồn của ông (Công vụ 9:7).

Ngày nay có rất nhiều người theo Chúa và thuộc trong đám đông theo Ngài trong các ngôi thánh đường và ngoài các nẻo đường của xã hội. Nhưng chỉ có những con người nhận biết nhu cầu của mình và khao khát sự chữa lành của Chúa cho chính đời sống mình thì mới dám hành động cách “táo bạo” và “liều lĩnh” với đức tin mình có. Lúc bấy giờ người đó mới có thể kinh nghiệm quyền phép biến đổi và chữa lành của Ngài. Sự chữa lành cho những căn bịnh thể xác chỉ là phương tiện Đức Chúa Trời sử dụng để đưa chúng ta đến sự chữa lành tâm linh. Đó là mục đích chính của việc chúng ta gặp gỡ Ngài. Có người đã từng được Chúa cứu chữa bịnh tật hiểm nghèo, nhưng chưa bao giờ để cho Ngài đụng chạm đến chiều sâu của tấm lòng tội lỗi và gian ác để biến đổi, con người đó vẫn còn sống trong xác thịt và xa cách sự sống đời đời. Mục đích của Đức Chúa Trời cho cuộc đời của chúng ta không phải cứ được chữa lành bịnh tật để sống mãi trên trần gian này với thân xác này. Ngài muốn chữa lành thể xác chúng ta một lần nào đó để đưa chúng ta vào trong thế giới của Đức Chúa Trời qua sự cứu rỗi trong Chúa Jesus và chuẩn bị chúng ta cho cõi phước hạnh đời đời trên trời.

Cầu nguyện:

Chúa ôi, lòng con khao khát được tiếp tục đụng chạm đến Ngài mỗi ngày để được biến đổi sâu xa hơn. Xin đem con vào trong mối thông công thân mật và thắm thiết với Ngài mỗi ngày để con ngày càng nếm biết Chúa là ngọt ngào, phước hạnh, bình an cho linh hồn con. Rồi từ đó, con có thể nói cho người khác biết về Ngài là Cứu Chúa tuyệt vời mà thế gian hư mất và tuyệt vọng đang cần đến Ngài. Amen!

Monday, June 10, 2013

CUỘC ĐỜI ĐÁNG TIẾC

Ma-thi-ơ (Matthew) 27:2-7

Khi ấy, Giu-đa, là kẻ đã phản Ngài, thấy Ngài bị án, thì ăn năn, bèn đem ba chục miếng bạc trả cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão, mà nói rằng: Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội! Song họ đáp rằng: Sự đó can gì đến chúng ta? Mặc kệ ngươi.Giu-đa bèn ném bạc vào đền thờ, liền trở ra, đi thắt cổ. Nhưng các thầy tế lễ cả lượm bạc và nói rằng: Không có phép để bạc nầy trong kho thánh, vì là giá của huyết. Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ.

Dưỡng linh:

Câu chuyện Giu-đa Ich-ca-ri-ốt bán thầy mình trở thành bất hủ. Tên của ông đã đi vào lịch sử thánh với tất cả sự xấu hổ, nhục nhã, và nguyền rủa muôn đời. Cho đến nay, chúng ta cũng không biết chắc lý do khiến Giu-đa bán Chúa. Có nhiều giả thuyết đưa ra để giải thích cho việc làm của ông. Có người cho rằng lòng tham tiền bạc đã dẫn ông vào trong con đường tội ác này. Người khác cho rằng ông đã tính lầm cho rằng khi Chúa Jesus bị bắt thì Ngài có thể tự thoát thân. Còn kẻ khác thì cho rằng ông tưởng sau này sẽ được lên làm chức vụ quan trọng khi Chúa Jesus làm vua. Hay cũng có thể vì Giu-đa không thỏa lòng về Chúa Jesus điều nào đó trong suốt thời gian sống với thầy, giữ kín trong lòng và nay muốn có cơ hội để trả thù chăng? Dẫu cho lý do gì đi nữa, Giu-đa không thể biện minh cho hành động hoàn toàn sai lầm và bất nhân tâm của mình. Nguyên nhân sâu xa việc làm của Giu-đa đã được sứ đồ Giăng ghi lại như sau: “ma quỉ đã để mưu phản Ngài vào lòng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt” (Giăng 13:2). Ma quỉ chẳng có thể để mưu phản vào lòng của Giu-đa nếu ông không bằng lòng mở ra để cho ma quỉ bước vào! Bởi lòng tham tiền, lòng tham mê quyền lực, hay lòng ganh ghét Giu-đa đã mở cửa lòng cho ma quỉ bước vào hành động theo ý muốn của nó. Thật nguy hiểm vô cùng!

Để thực hiện mưu đồ của mình, Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đã cấu kết với những nhà lãnh đạo tôn giáo Do-thái. Họ bằng lòng trả cho Giu-đa ba mươi nén bạc để tìm dịp nộp Chúa Jesus. Các nhà lãnh đạo Do-thái và Giu-đa đã gặp nhau tại một tụ điểm: Jesus, nhân vật đối kháng và kẻ thù cần phải thanh toán! Về phần các nhà lãnh đạo tôn giáo Do-thái, họ cảm thấy sung sướng vì có một người trong 12 sứ đồ phản thầy, để họ có thể sử dụng người đó thực hiện mưu đồ giết Chúa. Về phần Giu-đa, ông vui mừng vì mượn được tay người khác để thực hiện ước muốn của mình mà lại được một món tiền. Nhưng trên hết, tất cả những điều này phải xảy ra để chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời cho nhân loại được thực hiện. Đức Chúa Trời vẫn có thể sử dụng lòng căm thù, ganh ghét, tham mê tiền bạc như là “phương tiện” để qua đó Ngài làm nên chương trình của Ngài. Con người có thể hành động cách vô thức hay có ý thức thì cũng không thể nằm ngoài chương trình của Chúa. Nhưng điều đó không có nghĩa là con người không chịu trách nhiệm gì về hành động của mình. Chúa Jesus nói về Giu-đa như sau: “Con người đi, y theo lời đã chép về Ngài; song khốn nạn thay cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn!” (Ma-thi-ơ 26:24). Giu-đa cất tiếng hỏi Ngài rằng: “Thưa thầy, có phải tôi chăng? Ngài phán rằng: Thật như ngươi đã nói” (Ma-thi-ơ 26:25). Chúa Jesus thấy thật đáng tiếc và đau buồn khi nghĩ về Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Đức Chúa Trời đã ban cho ông một cuộc đời và được Chúa Jesus chọn làm một trong 12 sứ đồ thân cận của Ngài, ông đã không dùng cuộc đời mình cho việc công chính nhưng cho việc bất nghĩa. Chính vì thế mà Chúa Jesus nói ước chi Giu-đa “thà nó chẳng sanh ra thì hơn!” Sanh ra là ước muốn của cha mẹ Giu-đa. Nhưng sống và nên người là ước muốn của Giu-đa.

Sau khi thấy Chúa Jesus bị bắt và bị kết án tử hình thì Giu-đa hối hận về việc làm của mình. Nhưng mọi việc cũng đã quá muộn để thay đổi bản án của Chúa Jesus. Để giải quyết nỗi đau khổ đang dày vò tận tâm can của mình, Giu-đa chẳng biết làm gì hơn là đem tiền ném trả lại cho các nhà lãnh đạo Do-thái. Điều tủi nhục cho Giu-đa trong lúc này là ông quay lại xưng tội và thú nhận với những người đồng mưu ác với mình: “Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội!” (Ma-thi-ơ 27:4a). Nhưng mỉa mai thay, chính những người trước đây đã vồn vả tiếp đón, trò chuyện, toan tính với Giu-đa để bắt Chúa Jesus. Nay họ trở mặt lạnh nhạt và buông ra câu nói đầy phủ phàng: “Sự đó can gì đến chúng ta? Mặc kệ ngươi!” (Ma-thi-ơ 27:4). Đó là một bài học đầy cay đắng cho Giu-đa và cũng cho những ai hùa nhau để làm điều ác. Trước sau gì những người đó sẽ quay lưng và phủ nhận tất cả! Điều đáng tiếc là Giu-đa thay vì quay trở lại với Chúa Jesus là thầy của mình như Phi-e-rơ, ông lại nhìn vào chính mình và tự kết liễu cuộc đời của mình. Giu-đa chết ôm theo mình bao nhiêu tội lỗi đã phạm cùng với nỗi căm hờn và tủi nhục do mưu ác gây ra. Giu-đa đã được Đức Chúa Trời ban cho quá nhiều nhưng rồi chỉ vì lòng dục xác thịt đã đánh mất tất cả. Thật là một cuộc đời vô cùng đáng tiếc!

Nếu ngồi bình tâm suy nghĩ, mỗi người chúng ta được Đức Chúa Trời ban cho quá nhiều điều để cảm tạ Ngài phải không? Có lẽ khi so sánh mình với người khác, chúng ta cảm thấy mình không bằng ai. Nhưng khi đem mình so với sự ban cho phỉ phu của Đức Chúa Trời thì chúng ta thấy mình được Chúa đoái đến và làm quá nhiều điều mà chúng ta không đáng nhận. Nhưng điều lớn lao nhất mà Đức Chúa Trời làm cho cuộc đời chúng ta là Ngài đã “cải tử hoàn sinh” cuộc đời tội lỗi chết mất này để trở nên con cái Đức Chúa Trời. Kể từ dạo đó, Đức Chúa Trời đã đem thiên đàng vào trong đời sống chúng ta qua sự hiện diện của Chúa Cứu Thế Jesus. Kèm theo sự cứu rỗi này, Đức Chúa Trời đã chúc phước ban ơn cho chúng ta cách không siết kể. Điều Ngài mong muốn chúng ta là cứ tiếp tục bước đi trong con đường kính sợ và hầu việc Ngài cách trung thành. Dẫu vậy, cũng chẳng hơn gì Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, chúng ta vẫn có thể là món mồi ngon của ma quỷ, tác động qua lòng dục xác thịt của chúng ta để chống trả Chúa, làm điều không đẹp lòng Ngài, và có thể đi đến chỗ “bán” Ngài cách này hay cách khác bởi nếp sống vô đạo của chúng ta. Tuy nhiên, giá phải trả cho sự nhượng bộ xác thịt trong đời sống chúng ta không phải là nhỏ. Ma quỷ luôn luôn quyến dụ để chúng ta cảm thấy phạm tội là điều ngọt ngào, làm điều ác là sung sướng, hùa nhau làm điều tội lỗi là an toàn! Nhưng không đâu. Chính những người cùng với chúng ta phạm tội và làm điều ác trước mặt Chúa, một ngày nào đó họ sẽ quay mặt khỏi chúng ta khi chúng ta bị Chúa bỏ hay “bị thất sủng” (disgraced). Lúc đó, chúng ta sẽ học những bài học vô cùng cay đắng của cuộc đời! Vì thế, nhờ ơn Chúa ban cho, chúng ta hãy dùng cuộc đời này Chúa ban để làm điều thiện cho mọi người (Ga-la-ti 6:10) thay vì làm điều ác, và bước đi trong con đường công chính, vì “đường kẻ ác rồi bị diệt vong” (Thi thiên 1:6).

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin giúp con thấy được sự diệt vong dành cho những kẻ bỏ chánh lộ mà đi theo con đường tà của ma quỷ và sự ưa muốn của bản tánh xác thịt. Xin Chúa Thánh Linh nhắc nhở con mỗi ngày để đầu phục Ngài, chống trả ma quỷ, giữ đời sống mình trong sự công bình và chánh trực của Chúa. Chúa ôi, khi nào con muốn chìu theo ước muốn của xác thịt, nghe theo lời dụ dỗ đường mật của ma quỷ, xin Chúa đoái thương mà thức tỉnh con và đem con trở lại với Ngài. Xin cho những ngày của cuộc đời con chỉ làm điều thiện cho mọi người, làm cho Ngài vui lòng, và danh Ngài được vinh hiển qua cuộc đời con. Amen!

Monday, June 3, 2013

CON NGƯỜI CAO THƯỢNG

Sáng thế ký (Genesis) 50:14-21

Chôn cha xong rồi, Giô-sép cùng các anh em và các người đi lên theo đưa xác cha, đều trở xuống xứ Ê-díp-tô. Các anh Giô-sép thấy cha mình chết rồi, thì nói với nhau rằng: Có lẽ Giô-sép sẽ ganh ghét chúng ta, và trả thù việc ác chúng ta đã làm cho người chăng. Các anh bèn sai người đến nói cùng Giô-sép rằng: Trước khi qua đời, cha em có trối rằng: Hãy nói lại cho Giô-sép như vầy: Ôi! xin hãy tha điều ác, tội phạm của các anh con đi, vì chúng nó đã lỗi cũng con đó; nhưng bây giờ cha xin con hãy tha tội kẻ tôi tớ của Ðức Chúa Trời cha. Nghe qua mấy lời nầy, Giô-sép bèn khóc. Chánh các anh người đến sắp mình xuống dưới chơn mà nói rằng: Các anh đây thật là kẻ tôi tớ của em đó. Giô-sép đáp rằng: Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Ðức Chúa Trời sao? Các anh toan hại tôi, nhưng Ðức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo. Vậy, đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng các anh và con cái các anh. Ðoạn, Giô-sép an ủy các anh, và lấy lời êm dịu mà nói cùng họ.

Dưỡng linh:

Sau khi lo chôn cất cha, lòng Giô-sép bị xâm chiếm bởi nỗi sầu khổ, hụt hẫng, trống vắng vì mất cha. Còn lòng các anh thì bị chiếm ngự bởi nỗi mặc cảm tội lỗi gặm nhấm kéo theo nỗi sợ hãi bị báo thù theo đuổi hằng bao năm nay. Đối với các anh, cái chết của cha không phải là cơ hội mang lại sự hiệp một và tha thứ giữa vòng anh em. Có lẽ đây là cơ hội cho em mình là Giô-sép báo thù thẳng tay! Chính vì chưa lần nào các anh giải quyết vấn đề tội lỗi của chính mình với em, mặc dầu Giô-sép đã từng tuyên bố sự tha thứ đối với các anh (Sáng 45:4-8). Vì thế, tội lỗi vẫn còn nằm đó và mặc cảm tội lỗi tiếp tục quấy phá cuộc đời của họ. Kết cuộc là các anh “suy bụng ta ra bụng người.” Để trốn chạy khỏi “con ma” đang đeo đuổi họ, các anh phải bịa ra câu nói của người cha quá cố để nài xin, và cúi lạy trước mặt em để cầu xin lòng thương xót của em. Khi tội lỗi không được giải quyết cách đúng đắn thì sẽ dẫn đến những tội lỗi khác nữa. Đó là quy luật của sự tội và sự chết. Sự gian dối ngày xưa nằm trong con người của Gia-cốp, gạt cha, gạt anh, gạt cậu. Nay cũng còn nằm trong máu huyết của các anh, gạt nhau…

Đối với Giô-sép, đứng trước sự ra đi của cha, đây là cơ hội để bày tỏ lòng yêu thương, tha thứ, yên ủi nhau khi mọi người con trong gia đình cùng đối diện với sự mất mát lớn lao nhất trong cuộc đời. Giô-sép nhận thức điều này: nỗi buồn của mình cũng là nỗi buồn của các anh; nỗi mất mát của mình cũng là nỗi mất mát của các anh. Mất cha là cha chung! Quả thật đúng như người xưa đã nói: “Con không cha như nhà không nóc!” Bây giờ không còn ai để làm nhịp cầu thông cảm và giải quyết sự xung đột giữa các anh em với nhau. Con người của Giô-sép không tàn ác và nhẫn tâm đến độ muốn chồng chất thêm đau buồn cho gia đình và anh em trong lúc này. Không gì thiêng liêng và đáng trân trọng cho bằng giây phút tang gia bối rối. Đối với Giô-sép, đây là lúc cần phải gạt bỏ qua tất cả để thực hiện nguyên tắc vàng: “Chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.” Ông muốn dùng cơ hội này để chúc phước, hàn gắn lại những gì đã bị đổ vỡ hằng bao năm nay trong tình anh em, mà lỗi lầm không phải do ông gây ra. Giô-sép suy nghĩ đến cha, nghĩ đến anh, và trên hết nghĩ đến Chúa. Ông muốn làm điều mình có thể làm được để mang lại niềm vui và an ủi cho mọi người trong lúc này. Con người Giô-sép cao thượng là chỗ đó!

Tại sao Giô-sép không báo thù các anh? Câu nói của Giô-sép với các anh chính là câu trả lời: “Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Ðức Chúa Trời sao? Các anh toan hại tôi, nhưng Ðức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi…” Khi Giô-sép nói: “tôi há thay mặt Đức Chúa Trời sao?” có nghĩa là “tôi há dám đứng vào chỗ của Đức Chúa Trời để phán xét và báo thù các anh sao?” “Đức Chúa Trời là Đấng đã cho phép những sự việc xảy ra, cho các anh toan làm hại tôi nhưng rồi Ngài dùng điều ác của các anh để làm ích lợi cho tôi, nhờ đó tôi lên làm tể tướng cho Pha-ra-ôn hầu cứu biết bao nhiêu mạng sống tại xứ Ê-díp-tô và toàn thế giới.” Đem so sánh cái ác mà các anh hại Giô-sép không nghĩa lý gì do với phước hạnh được Đức Chúa Trời sử dụng lớn lao như vậy. Giô-sép biến điều tiêu cực trở thành tích cực, biến điều gian ác trở nên thiện hảo. Hơn thế nữa, Giô-sép hứa với các anh là sẽ lo cho họ và gia đình. Giô sép dùng lời nói mình để an ủi và lấy lời êm dịu để nói với họ!“Lời nói êm dịu” là những lời nói ra từ đáy lòng của ông đụng chạm đến tấm lòng của họ (“spoke to their hearts”) và có sức mạnh biến đổi họ từ những con người gian ác trở nên thánh thiện. Tấm lòng của họ trong lúc này đang bối rối cần những lời nói chân thật và yêu thương như thế. Thật là tuyệt vời!

Trong những giây phút mất mát, đau khổ nhất của cuộc đời, đó là cơ hội để chúng ta bày tỏ lòng nhân ái của chúng ta đối với người khác. Người có tình yêu thương thật sự từ nơi Chúa sẽ ban cho người khác sự tha thứ và an ủi ngay trong những giờ phút đau buồn nhất của cuộc đời. Chỉ có người gian ác và vô tâm mới chà đạp lên người khác khi đứng trước sự ra đi của người thân yêu. Khi tấm lòng của chúng ta lạnh nhạt và hững hờ với Chúa thì chắc chắn chúng ta trở nên cứng cỏi, thô bạo, và dửng dưng với những khổ đau của người khác, và thấy nỗi khổ đau của mình lớn hơn của người khác. Nhưng khi linh hồn chúng ta gần gủi và gắn bó với Chúa, tấm lòng chúng ta trở nên mềm mại, đầy lòng thương cảm với khổ đau của người khác, bao dung và sẵn lòng tha thứ cho người khác. Hội Thánh ngày nay có quá nhiều câu chuyện thương tâm, đổ vỡ, chia rẽ, phân hóa, thù hận v.v… Hội Thánh cần có những con người như Giô-sép sẵn lòng tha thứ, yêu thương và lấy lời ngọt ngào để an ủi và lời êm dịu để hàn gắn những vết thương lòng của con dân Chúa. Quá đủ cho chúng ta là những con cái và tôi tớ Chúa xâu xé nhau, chống đối nhau, trả thù nhau bằng cách này hay cách khác. Lòng của Đức Chúa Trời mong muốn Hội Thánh phải là nơi mà thế gian rách nát và thù hận tìm thấy tình yêu chân thật, sự tha thứ và sự chữa lành. Vấn đề là mỗi chúng ta có bằng lòng để cho Chúa chiếm hữu, biến đổi và sử dụng chúng ta như một tác nhân của tình yêu và ân sủng của Ngài hay không?

Cầu nguyện:

Lạy Chúa là Đấng đã làm việc lớn lao trong đời sống của Giô-sép, xin Ngài cũng làm việc trong đời sống của chúng con như vậy. Xin chính Chúa tiếp tục chiếm hữu, hành động trong chúng con, và giúp chúng con có thể tha thứ được cho kẻ làm hại mình và bày tỏ tình yêu vô điều kiện của Ngài đối với họ. Amen.