Monday, May 27, 2013

MỘT CUỘC ĐỜI CAO ĐẸP

Ê-xơ-tê (Esther) 10:1-3

Vua A-suê-ru bắt xứ và các cù lao của biển nộp thuế. Các công sự về quyền thế và năng lực người, cả sự cao trọng của Mạc-đô-chê, vua thăng chức người lên làm sao, thảy đều có chép vào sách sử ký các vua nước Mê-đi và Phe-rơ-sơ. Vì Mạc-đô-chê, người Giu-đa, làm tể tướng của vua A-suê-ru; trong vòng dân Giu-đa người được tôn trọng, đẹp lòng các anh em mình, tìm việc tốt lành cho dân tộc mình, và nói sự hòa bình cho cả dòng dõi mình.

Now King Ahasuerus laid a tribute on the land and on the coastlands of the sea. And all the accomplishments of his authority and strength, and the full account of the greatness of Mordecai to which the king advanced him, are they not written in the Book of the Chronicles of the Kings of Media and Persia? For Mordecai the Jew was second only to King Ahasuerus, and great among the Jews and in favor with his many kinsmen, one who sought the good of his people and one who spoke for the welfare of his whole nation.

Dưỡng linh:

Mạc-đô-chê xuất hiện trong lịch sử dân tộc thánh và đã qua đi, để lại một hình ảnh đẹp về cuộc đời như một món quà quý Đức Chúa Trời ban cho dân sự của Ngài. Ông xuất hiện giữa đêm tối dày đặc của kiếp lưu đày, đắm mình và đi chung với dân sự Đức Chúa Trời trong những chuỗi ngày trong chốn đọa đày khổ nhục. Cũng từ nơi đó, Đức Chúa Trời dấy Mạc-đô-chê lên như một ngôi sao mai, phản chiếu ánh sáng công chính và yêu thương của Chúa Hằng Hữu, đem lại niềm hy vọng, an ủi, và phước hạnh cho dân sự Ngài. Mạc-đô-chê qua đi nhưng những dấu chân của ông vẫn còn in  hằn rõ nét trong lòng của dân sự Đức Chúa Trời. Trên bia mộ của ông, người ta đọc thấy mấy dòng chữ ngắn gọn, súc tích, nhưng đầy đủ ý nghĩa: “Mạc-đô-chê, người Giu-đa, làm tể tướng của vua A-suê-ru; trong vòng dân Giu-đa người được tôn trọng, đẹp lòng các anh em mình, tìm việc tốt lành cho dân tộc mình, và nói sự hòa bình cho cả dòng dõi mình.”

Mạc-đô-chê là người Do-thái bị bắt đi làm phu tù Ba-by-lôn trong đợt thứ hai chung với vua Giu-đa là Giê-cô-nia, tức Giê-hô-gia-kim (Ê-xơ-tê 2:5-7, 15). Theo Targum Sheni, sau khi bị vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt làm phu tù đợt đầu, Mạc-đô-chê quay trở lại Giê-ru-sa-lem; và rồi sau đó ông bị vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt lưu đày lần thứ hai (so sánh 2 Vua 24:14; 25:12, 21). Theo kinh Talmud, Mạc-đô-chê là dòng dõi Bên-gia-min của vua Sau-lơ và là tiên tri. Ông nói tiên tri trong năm thứ hai đời vua Đa-ri-út (Meg. 10b, 15a; Hul. 139b). Mạc-đô-chê là thành viên của Tòa Công Luận Tối Cao (the Great Sanherin) của người Do-thái. Mỗi thành viên trong tổ chức này thông thạo đến 70 thứ tiếng khác nhau! Với khả năng này, Mạc-đô-chê giải quyết những vấn đề khó khăn liên quan đến việc tuân giữ nghi lễ, và được gọi là Thầy Rabbi “Pethahiah” (Shek. V. 2; Men. 64b-65a). Sau khi đế quốc Ba-by-lôn sụp đổ vào tay người Mê-đô Ba-tư (Medo-Persian) năm 539 BC, số đông người Do-thái được chuyển đến các vùng khác của vương quốc mới. Mạc-đô-chê sống tại thủ đô Su-san của Ba-tư, ngồi ngay tại cổng cung điện của vua. Chính vì vốn ngoại ngữ phong phú, Mạc-đô-chê đã nghe được âm mưu lật đổ vua của hai hoạn quan vì họ nói bằng tiếng Tarshish, là tiếng bản xứ của họ họ nghỉ rằng không ai có thể hiểu được (Meg. 13b; so sách Targum Sheni với Ê-xơ-tê 2:22). Cũng chính vì công trạng to lớn này, Mạc-đô-chê đã được lên làm tể tướng của vua A-suê-ru.

Mạc-đô-chê là một con người cương trực, kính sợ Chúa, không bao giờ quên nguồn gốc dân tộc mình là người Do-thái. Dầu ở trong địa vị nào, ông luôn luôn suy nghĩ đến những gì có thể làm cho dân tộc mình. Chính vì Mạc-đô-chê có tâm tình và tấm lòng đối với dân tộc như thế, Đức Chúa Trời đã sử dụng ông để giải cứu dân sự của Ngài nằm trong tình huống vô cùng nguy kịch với âm mưu tàn hại dân sự Chúa bởi tay độc ác Ha-man. Tính khẳng khái của Mạc-đô-chê đã khiến cho Ha-man trở nên căm gan, chẳng những  muốn giết Mạc-đô-chê mà luôn cả dân Do-thái nữa để hả giận căm hờn! Lý do Mạc-đô-chê không bao giờ chịu cúi lạy Ha-man là vì Ha-man là dòng dõi Ê-sau bị Chúa rủa sả, còn Mạc-đô-chê là dòng dõi Gia-cốp được Chúa chọn. Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu nguyện của dân sự Ngài và giải cứu họ khỏi tay của Ha-man. Sau đó, Đức Chúa Trời thấy cần bênh vực cho dân sự của Ngài giữa đất ngoại bang, nên Ngài đã dấy Mạc-đô-chê lên làm tể tướng hầu ông có cơ hội cống hiến nhiều hơn cho dân sự của Ngài. Vì nhận thức ra địa vị hèn hạ của mình được Đức Chúa Trời đóai đến và chỉ vì dân sự Đức Chúa Trời mà Ngài ban cho mình chức vụ cao trọng, Mạc-đô-chê đã hết lòng tận hiến chính mình cho Chúa và cho dân sự của Ngài. Với chức vụ cao quý Chúa ban cho, Mạc-đô-chê không dùng nó để trục lợi cho chính mình, mang lại lợi ích cho gia đình mình, hay hành quyền để làm tàn hại người khác. Ngược lại, ông luôn “tìm việc tốt lành cho dân tộc mình, và nói sự hòa bình cho cả dòng dõi mình.” Vì thế, Mạc-đô-chê được tôn trọng giữa vòng dân sự của Ngài, và được đẹp lòng anh em mình. Thật là một cuộc đời cao quý và đẹp đẽ vô cùng!

Mỗi người chúng ta chỉ có một cuộc đời Chúa ban cho. Đây là món quà quý nhất trên trần gian này mà chúng ta có được. Vì thế, chúng ta nhờ ơn Chúa sống sao cho tốt đẹp qua lời nói và việc làm để mang lại ích lợi cho người khác và cho danh vinh hiển của Ngài. Hoàn cảnh không phải là yếu tố quyết định cho sự thành công hay thất bại của chúng ta trong việc xây dựng cuộc đời mình. Chính tấm lòng của chúng ta đối với Chúa và đối với dân tộc chúng ta sẽ quyết định tất cả. Khi chúng ta yêu mến Chúa và yêu mến dân tộc mình, thì dẫu cho hoàn cảnh có đen tối đến đâu chăng nữa cũng không thể nhận chìm cuộc đời chúng ta được. Trái lại, trong những ngày đen tối đó, Đức Chúa Trời có thể làm công việc kỳ diệu của Ngài để nâng chúng ta lên và ban cho chúng ta những chỗ đứng cao trọng giữa vòng dân sự của Ngài. Khi Đức Chúa Trời làm điều đó, chúng ta phải nhớ rằng không phải vì chúng ta mà Ngài ban cho địa vị hay chức vụ cao trọng giữa dân sự, bèn là vì ích lợi của dân sự Ngài và trên hết là cho danh vinh hiển của Ngài.

“Thần học về hình ảnh Đức Chúa Trời” trong con người (theology of the image of God) luôn luôn đi đôi với “Thần học về đặc tính dân tộc” (theology of ethnic/racial identity). Trong việc Đức Chúa Trời tạo dựng con người chúng ta trong hình ảnh của Ngài, trong đó bao gồm tính chất đặc thù của từng dân tộc. Chính vì thế, mỗi chúng ta không thể tách rời chính mình khỏi cộng đồng và không có trách nhiệm với dân tộc mình. Chúng ta không thể tách rời lòng yêu mến Đức Chúa Trời và lòng yêu mến dân tộc ra khỏi nhau vì chính trong mỗi người đều có hình ảnh của Đức Chúa Trời. Môi-se và Mạc-đô-chê đã khám phá ra điều này trong chính mình và họ đã sống chết cho dân tộc của mình. Lòng yêu mến Chúa của chúng ta sẽ được thử nghiệm bằng lòng yêu dân tộc. Lòng yêu mến dân tộc của Cơ-đốc nhân phải vượt lên trên những hàng rào cản về chính trị, tôn giáo, giai cấp xã hội, và ngay cả trình độ tri thức v.v. . . Chúng ta yêu mến và sống cho dân tộc chúng ta không phải trong những lúc chúng ta được người khác tôn trọng và hoàn cảnh thuận lợi dễ dàng. Lòng yêu mến và tận hiến cho dân tộc của chúng ta sẽ được thử nghiệm và thách thức bản chất thật của nó khi chúng ta bị từ khước, thậm chí bị dân mình khinh chê và chà đạp trên danh dự và tự ái của mình. Chúa Jesus đã đi qua con đường này thì chúng ta là “trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ.” Xin Chúa giúp chúng ta sống sao để khi nằm xuống, những lời đã nói về cuộc đời Mạc-đô-chê cũng sẽ là những lời nói về cuộc đời của mỗi chúng ta. Hơn thế nữa, Chúa sẽ nhìn cuộc đời chúng ta và Ngài mỉm cười cách mãn nguyện vì đã có một cuộc đời được Ngài ban cho, đã sống xứng đáng, và đã kết thúc cách tốt đẹp!

Cầu nguyện:

Lạy Cha yêu thương, con cảm tạ Chúa về cuộc đời Mạc-đô-chê mà Ngài đã ban cho dân sự của Ngài ngày xưa. Ông trở thành nguồn cảm hứng để con có thể sống và đeo đuổi một lý tưởng cao đẹp của cuộc đời của một người thuộc về Ngài. Xin giúp con sống mỗi ngày yêu Chúa cách hết lòng, tìm những điều tốt lành để làm và những lời hòa bình để nói hầu mang lại niềm an ủi và chữa lành cho dân tộc Việt của con đã chịu quá nhiều đau khổ và tang thương. Xin cho dân tộc con sớm biết Chúa Jesus qua từng cuộc đời nhỏ bé của chúng con là những người tự xưng mình thuộc về Ngài. Amen!

Monday, May 20, 2013

BIẾT VỀ CHÚA và BIẾT CHÍNH NGÀI

Mác (Mark) 4:35-41

Ðến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy qua bờ bên kia. Khi cho dân chúng tan về rồi, Ðức Chúa Jêsus cứ ở trong thuyền, và môn đồ đưa Ngài đi; cũng có các thuyền khác cùng đi nữa. Vả, có cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước; nhưng Ngài đương ở đằng sau lái, dựa gối mà ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy mà thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao? Ngài bèn thức dậy, quở gió và phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt và đều yên lặng như tờ. Ðoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao? Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy là ai, mà gió và biển đều vâng lịnh người?

On that day, when evening came, He said to them, “Let us go over to the other side.” Leaving the crowd, they took Him along with them in the boat, just as He was; and other boats were with Him. And there arose a fierce gale of wind, and the waves were breaking over the boat so much that the boat was already filling up. Jesus Himself was in the stern, asleep on the cushion; and they woke Him and said to Him, “Teacher, do You not care that we are perishing?” And He got up and rebuked the wind and said to the sea, “Hush, be still.” And the wind died down and it became perfectly calm. And He said to them, “Why are you afraid? Do you still have no faith?” They became very much afraid and said to one another, “Who then is this, that even the wind and the sea obey Him?”

Dưỡng linh:

Mác ký thuật sau những ẩn dụ Chúa Jesus nói về vương quốc của Đức Chúa Trời (4:1-34). Nó lại bắt đầu một loạt bốn phép lạ: quở sóng gió yên lặng, đuổi quỉ ra khỏi con người, ban sự sống cho con cái Giai-ru, và chữa lành người đàn bà mất huyết (4:35-5:43). Tất cả những điều này bày tỏ uy quyền của Chúa Jesus trong việc công bố sứ điệp về nước Đức Chúa Trời và thẩm quyền của Ngài trên các thế lực chống nghịch Đức Chúa Trời; đặc biệt, trên những điều ô uế như: mồ mả, xác chết, và huyết lậu. Trong câu chuyện này bày tỏ hai điều rất quan trọng về chính Chúa Jesus. Trên phương diện thần tánh, Ngài chính là Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa đang cầm quyền trên toàn vũ trụ và vạn vật. Trên phương diện nhân tánh, Chúa Jesus là con người giống như chúng ta. Hơn nữa, Mác muốn cho độc giả của ông biết rằng trong Chúa Jesus, Đức Chúa Trời khôi phục lại uy quyền đồng cai trị với Ngài mà Ngài đã ban cho con người trước sự sa ngã (Sáng thế ký 1:28).

Tại đây chúng ta thấy có hai hình ảnh hoàn toàn trái ngược nhau. Chúa Jesus bình thản và ngủ giữa lúc những lượn sóng đang muốn nhận chìm thuyền. Trong khi đó, các môn đồ hoảng hốt, bối rối, tìm đủ mọi cách để chống chọi với sự gầm thét của biển cả. Lý do khiến cho các môn đồ có phản ứng như vậy vì họ không biết Ngài là ai. Họ thấy Chúa Jesus đang dựa gối ngủ đằng sau lái và cho rằng Ngài chẳng biết điều nguy kịch đang xảy đến và họ đang cực nhọc ra sức chống chọi với thần chết đang thăm viếng họ. Họ đánh thức Chúa Jesus dậy và nói: “Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao?” Điều này chứng tỏ rằng đối với họ, Chúa Jesus chỉ là người thầy, con người giống như họ. Họ đồng hóa chính Ngài với họ trong hoàn cảnh sóng gió họ đang đối diện. Ngoài ra, trong câu nói trên hàm ý họ trách thầy của mình là một người vô trách nhiệm trước một tình cảnh vô cùng nguy hiểm như thế! Nhưng chỉ trong phút chốc, sự suy nghĩ của các môn đồ về Chúa Jesus hoàn toàn thay đổi khi Ngài thức dậy quở sóng gió và quở trách tình trạng thiếu đức tin của họ. Chúa Jesus đã bày tỏ Ngài là ai cho các môn đồ không phải bằng lời nói mà bằng bản thể và hành động của Ngài. Ngài quan tâm đến họ cách thật sự, thấu hiểu và chấp nhận tình trạng đức tin non nớt của họ. Ngài sẵn lòng đi với họ trong hành trình đức tin, cho đến khi họ thật sự trưởng thành trong đức tin và sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời. Một trong những chiến lược của Chúa Jesus trong việc huấn luyện các môn đồ của Ngài là đem họ vào hoàn cảnh thực tế của cuộc sống thường nhật để dạy họ qua kinh nghiệm. Để có thể đi đến chỗ khám phá và nhận biết Chúa Jesus là ai và chuẩn bị họ cho chức vụ sau này, các môn đã trải qua những giờ phút căng thẳng, hoảng hốt, và tuyệt vọng khi đối diện với giây phút sống còn của cuộc đời.

Cuộc đời của Cơ-đốc nhân là kết tinh của những sự khám phá đầy bất ngờ và hào hứng về Con Đức Chúa Trời. Trong hành trình đức tin này, chúng ta sẽ khám phá Chúa là ai qua những kinh nghiệm nghiệt ngã và đầy tính chất mạo hiểm của đời sống. Có những lúc chúng ta hốt hoảng vì dường như bị Chúa quăng hay dẫn vào những hoàn cảnh hay tình huống đầy tuyệt vọng và tưởng chừng như Chúa cũng “bó tay” như chúng ta. Chúng ta cho rằng chẳng những Chúa không biết những gì xảy ra, mà nếu có Ngài ở đây thì Ngài cũng chẳng làm được gì! Tại sao Chúa lại cho phép thế lực tội ác hoành hành và phá hoại hội thánh của Chúa, để cho những khó khăn vùi dập đời sống con dân của Ngài? Ngài có thật sự hay biết không? Hay là Ngài đang ngủ? Nhưng chúng ta quên rằng dẫu cho Chúa Jesus có ngủ đi chăng nữa thì Ngài đang dựa gối ngay đằng sau lái. Nghĩa là Ngài đang điều khiển mọi sự và cho phép mọi sự xảy ra, và Ngài đang theo dõi tất cả những biến chuyển xảy đến cho hội thánh của Ngài và cho từng đời sống con dân Chúa. Lý do duy nhất Chúa cho phép mọi sự xảy ra là để đem chúng ta đến sự hiểu biết mới mẻ về Ngài và đưa chúng ta vào mối liên hệ thâm sâu với Ngài hơn. Qua đó, chúng ta mới thật sự biết Ngài bằng kinh nghiệm thay vì chỉ bằng tri thức về một mớ giáo điều chết cứng và khô khan. Sự hiểu biết về Chúa chẳng mang chúng ta đến gần cổng của thiên đàng. Chỉ có sự hiếu biết chính mình Ngài bằng kinh nghiệm mới đem chúng ta vào bên trong và phơi bày trước mắt chúng ta bao nhiêu sự đẹp đẽ và cao trọng vinh hiển của cõi đời đời. Khi chúng ta càng biết Chúa rõ bao nhiêu, chúng ta càng bình tĩnh trước mọi sóng gió của cuộc đời bấy nhiêu. Chính mối liên hệ thâm sâu giữa chúng ta với Chúa sẽ ban cho chúng ta sự can đảm và bình an để đối đầu với mọi thế lực của ma quỷ và xác thịt hành động trong hội thánh của Đức Chúa Trời, trong gia đình và trong đời sống cá nhân. Biết rằng cuối cùng sự công chính chắc chắn sẽ chiến thắng tất cả. Ha-lê-lu-gia!!!

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin giúp con vững tin nơi Ngài trong mọi hoàn cảnh của đời sống cá nhân của con và của hội thánh của Ngài. Xin giúp cho mối tương giao giữa con với Ngài ngày càng thâm sâu và đức tin con ngày càng mạnh mẽ để con sống cho Chúa cách đắc thắng giữa những phong ba bão táp của cuộc đời. Amen!

Monday, May 13, 2013

NHỮNG GÌ CÒN LẠI ĐỜI ĐỜI

2 Cô-rinh-tô (Corinthians) 4:16-18

Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên, bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy.

Therefore we do not lose heart, but though our outer man is decaying, yet our inner man is being renewed day by day. For momentary, light affliction is producing for us an eternal weight of glory far beyond all comparison, while we look not at the things which are seen, but at the things which are not seen; for the things which are seen are temporal, but the things which are not seen are eternal.

Dưỡng linh:

Sanh, lão, bệnh, tử là quy luật tất cả mọi người đều phải đi qua. Cơ-đốc nhân không được miễn trừ khỏi quy luật này. Sứ đồ Phao-lô cũng là con người như chúng ta. Ông đi qua bao thăng trầm trong đời sống, tạo nên nhiều đổi thay từ tinh thần đến thể xác. Trong phần kinh văn trên (4:7-15), Phao-lô nói đến những từng trải đau khổ trong cuộc đời theo Chúa và phục vụ Ngài. Những điều này làm cho thể xác của ông ngày càng trở nên già nua và tàn tạ. Đã là con người, Phao-lô chắc có những lúc nhìn vào chính mình cảm thấy buồn bã và chán nản, thậm chí có lúc tự hỏi rằng theo Chúa và phục vụ Ngài mà chịu quá nhiều đau khổ như thế để được cái gì? Chính những giây phút này ông phải tự khám phá cho mình một lối thoát trong tư tưởng và câu trả lời cho tất cả vấn nạn trong đời sống. Chỉ có một trong hai thái độ Phao-lô phải chọn trong lúc này: (a) để cho những khổ đau và thử thách nhận chìm cuộc đời mình xuống và đi vào quên lãng; hay (b) sống vượt lên trên tất cả với cái nhìn xuyên qua bức màn đen tối của hoạn nạn thử thách hiện tại, chuẩn bị chính mình đi thẳng vào tương lai rạng rỡ đời đời. Nói cách khác, Phao-lô phải xây dựng cho mình thái độ tích cực hay tiêu cực khi đối diện với thực tại của đời sống. Kết cuộc, ông đã chọn cho mình thái độ tích cực thay vì tiêu cực.

Sứ đồ Phao-lô không phủ nhận thực tại nhưng không để cho thực tại hãm ép mình, khiến ông đi đến chỗ ngã lòng. Trong nguyên văn, “ngã lòng” là một từ ngữ được dùng diễn tả việc từ bỏ chính mình để đi đến chỗ hoàn toàn chấp nhận hoàn cảnh cách ương hèn. Ông không để cho sự “hư nát” của thân xác hoành hành trong tâm trí và tình cảm của mình, nhưng chiến thắng nó bằng cách đánh đổi nó với sự làm nên mới con người bề trong. Phao-lô không thể chận đứng thời gian hay làm chậm tiến trình “lão hóa” của thân thể. Điều ông có thể làm là dùng tiến trình “lão hóa” như là phương tiện ân sủng của Chúa làm cho con người bề trong mỗi ngày càng đổi mới, trở nên giống Chúa Cứu Thế Jesus và chuẩn bị chính mình cho sự vinh hiển đời đời. Phao-lô được mở mắt ra để thấy vinh hiển của cõi đời đời không có gì có thể ví sánh được. Khi thấy được điều này thì những khổ đau trong hiện tại trở thành vô nghĩa và không còn làm vướng bận tâm trí của ông.

Càng trở về già, con người càng muốn níu kéo lấy thời gian và tìm đủ mọi cách để tập luyện thân thể và ăn uống kỹ lưỡng hơn, với hy vọng kéo dài cuộc đời của mình được ngày nào hay ngày nấy! Con người không ai muốn đối diện với sự thật phủ phàng của cuộc đời. Tuy nhiên, chúng ta không thể đi lùi lại thời gian và chận đứng những gì có thể xảy đến mà không do chúng ta quyết định. Tìm cách níu kéo lại thời gian và tránh thử thách hoạn nạn bất như ý trong đời sống dường như là điều hoàn toàn bất năng đối với con người. Thậm chí, chúng ta cũng không thể ngăn cản được những điều người khác muốn làm hại chúng ta. Tất cả những điều này là một phần của đời sống con người sau sự sa ngã. Đừng bao giờ phung phí thì giờ và sức lực của tâm trí để vật lộn và lý lẽ với chúng. Điều chúng ta có thể làm là nhìn thẳng vào chúng và đón nhận chúng như là phương tiện và món quà của ân sủng Đức Chúa Trời muốn ban cho chúng ta để biến đổi người bề trong ngày càng hơn, và chuẩn bị chúng ta cho một tương lai vinh hiển đời đời. Một tương lai rạng rỡ vượt quá trí tưởng tượng và hiểu biết của con người trong hiện tại. Tất cả mọi sự mà chúng ta thấy hiện tại đều sẽ qua đi, ngay cả thân xác mà chúng ta đang mang mỗi ngày. Chỉ có những gì mà sự cứu rỗi trong Chúa Jesus mang đến cho chúng ta, trong đó, tâm linh được biến đổi và thân xác được biến hóa sẽ tồn tại đời đời. Đó là những gì thật sự còn lại sau khi một cuộc đời hiện ra và đi qua trên trần gian này.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ Ngài vì sự cứu rỗi Ngài ban cho con trong Chúa Jesus Christ đã thay đổi nhân sinh quan và thế giới quan của con. Xin cho con vui lòng chấp nhận những gì con không thể thay đổi được. Nhưng xin ban cho con cặp mắt thiêng liêng để nhìn xuyên qua những gì của thực tại thấu suốt vào cõi đời đời vinh hiển. Xin giúp con nhận biết mỗi ngày là một món quà Chúa ban cho để chuẩn bị chính mình con sự vinh hiển hầu đến, là điều không gì trên trần gian này có thể so sánh được. Amen!

Monday, May 6, 2013

SỰ THỜ PHƯỢNG THẬT

Rô-ma (Romans) 12:1-2

Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Ðức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Ðức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Ðừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Ðức Chúa Trời là thể nào.

Dưỡng linh:

Trong Cựu Ước, tất cả sự thờ phượng gắn liền với việc dâng của tế lễ cho Đức Chúa Trời. Sau khi Chúa Jesus đến thế gian hy sinh làm của tế lễ dâng lên cho Đức Chúa Trời để chuộc tội cho nhân loại, Cơ-đốc giáo không còn nói đến việc dâng tế lễ bằng con sinh trong sự thờ phượng. Thay vào đó, sự thờ phượng của Cơ đốc giáo liên quan đến việc dâng chính đời sống của tín nhân như là của tế lễ cho Đức Chúa Trời. Sau khi nói đến ân ban phỉ phu của Đức Chúa Trời cho con người qua công lao cứu chuộc của Chúa Jesus Christ (Rô-ma 1-11), sứ đồ Phao-lô kêu gọi tín hữu đáp ứng lại bằng sự vâng phục xuất phát từ lòng biết ơn. Sự đáp ứng này không gì khác hơn ngoài việc dâng chính mình cho Đức Chúa Trời như là một của tế lễ. Xuất phát từ lòng yêu thương con người tội lỗi, Đức Chúa Trời đã sai Con một yêu dấu của Ngài đến thế gian. Nay bởi lòng thương xót của Ngài, Cơ-đốc nhân được kêu gọi dâng hiến chính mình cho Đức Chúa Trời. Con người tội lỗi chẳng có giá trị gì để dâng cho Đức Chúa Trời nếu không phải do lòng thương xót của Ngài để nhận lấy chính họ lại cho Ngài.

Sự thờ phượng ra từ con người và từ con người mới có sự thờ phượng. Vì thế, trong sự thờ phượng không thể thiếu sự dâng hiến chính mình cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chấp nhận sự thờ phượng không phải vì hành động thờ phượng mà là vì con người thờ phượng. Sự dâng mình ở đây bao gồm: ý chí, lý trí, tình cảm, và thể xác. Toàn bộ con người (the whole being) phải được đầu phục ý muốn của Đức Chúa Trời. Trong ngôn ngữ của sự thờ phượng, “thân thể” phải được dâng lên làm của lễ “sống, thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời.” Ngày xưa con sinh phải được giết trong việc dâng tế. Ngày nay, Chiên Con của Đức Chúa Trời đã bị giết để dâng làm của tế lễ thay cho con người bởi đó được sống để dâng chính mình cho Đức Chúa Trời. Sự sống con người là một sự vay mượn từ nơi Đức Chúa Trời. Vì thế, việc Cơ-đốc nhân dâng chính mình cho Đức Chúa Trời là sự đáp ứng lại với điều Đức Chúa Trời đã làm cho con người. Của lễ này là “thánh” có nghĩa là được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời để thuộc về Ngài và cho Ngài sử dụng. Trong sự thờ phượng, Cơ-đốc nhân một lần nữa xác quyết rằng mình thuộc về Đức Chúa Trời trọn vẹn và bằng lòng để cho Ngài sử dụng cuộc đời mình. Đó là ý nghĩa của động từ “dâng.” Qua công lao cứu chuộc của Chúa Jesus, Cơ-đốc nhân trở thành của lễ “đẹp lòng Đức Chúa Trời” hay “được Đức Chúa Trời chấp nhận.” Ngoài Chúa Jesus ra, không có điều nào từ nơi con người mà Đức Chúa Trời có thể chấp nhận.

Những yếu tố “sống, thánh, và đẹp lòng Đức Chúa Trời” hình thành nên sự thờ phượng “phải lẽ” của Cơ-đốc nhân. Từ ngữ “phải lẽ” được sử dụng hai lần trong toàn bộ Kinh Thánh Tân Ước (Rô-ma 12:1; 1 Phi-e-rơ 2:2). Nó mang tính chất thuộc linh (spirituality) và chứa đựng tính chất lý lẽ (reason). Nguyên gốc của từ ngữ này liên hệ mật thiết với từ “ngôi lời” (logos) trong Giăng 1:1, chỉ về Chúa Cứu Thế Jesus là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời. Như vậy, điều này cho chúng ta thấy, Chúa Jesus chính là nền tảng của sự thờ phượng của Cơ-đốc nhân. Nếu không được đặt trên công lao cứu chuộc của Chúa Jesus Christ, tất cả sự thờ phượng của Cơ-đốc giáo hoàn toàn sụp đổ và vô nghĩa đối với Đức Chúa Trời. Bao nhiêu lần con người muốn thờ phượng Đức Chúa Trời bằng chính năng lực của mình và phương cách của mình. Nhưng chỉ có sự thờ phượng qua công lao cứu chuộc của Chúa Jesus Christ mới được Đức Chúa Trời chấp nhận vì do chính Đức Chúa Trời thiết lập sự thờ phượng ấy. Chúng ta thường hay nói đến những yếu tố của sự thờ phượng Đức Chúa Trời như: ca ngợi, dâng hiến, sứ điệp v.v. . . nhưng tất cả chưa phải là sự thờ phượng chân chính cho đến khi nào những điều đó xuất phát từ con người được Chúa Jesus Christ cứu chuộc và Thánh Linh của Đức Chúa Trời hành động để tận hiến cho Đức Chúa Trời nơi sâu thẳm của ý chí, lý trí, tình cảm của con người. Khi đó sự thờ phượng “phải lẽ” mới thật sự xảy ra.

Vì sự thờ phượng liên quan mật thiết với chính con người thờ phượng hơn là hành động thờ phượng, cho nên trong sự thờ phượng chính con người phải được chuẩn bị trước hết thay vì chỉ chuẩn bị chu đáo những hành động của sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Có những hành động thờ phượng mà Đức Chúa Trời không kể là sự thờ phượng chân chính vì nó không xuất phát từ con người thờ phượng. Danh từ “thờ phượng” có nghĩa là “hầu việc” hay “dâng tế lễ” cho Đức Chúa Trời (Giăng 16:2; Rô 9:4; 12:1; Hê 9:1, 6). Thờ phượng đồng nghĩa với sự phục vụ trong ngôn ngữ của Tân Ước. Như thế, sự thờ phượng của Cơ đốc giáo không chỉ bị giam hãm trong bốn bức tường của ngôi thánh đường, nhưng nó đi vào tất cả mọi ngỏ ngách và từng nẻo đường của cuộc đời của Cơ-đốc nhân. Hơn thế nữa, sự thờ phượng của Cơ-đốc nhân không phải chỉ là những gì con người hướng đến Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế Jesus, nhưng còn là chỗ con người mở toát cuộc đời mình ra để cho Ngài biến đổi mình trở nên giống như Con Ngài. Khi Cơ-đốc nhân càng thờ phượng Đức Chúa Trời, người ấy càng được biến đổi trở nên giống Chúa Jesus Christ. Khi càng giống Chúa Jesus Christ thì Cơ-đốc nhân sẽ càng ít giống đời này. Khi đó, Cơ-đốc nhân sẽ khám phá ra ý muốn của Đức Chúa Trời là “đẹp lòng và trọn vẹn” là thể nào.

Cầu nguyện:

Con cảm tạ ơn Chúa Jesus đã đến trần gian này để chết thay cho con và làm sinh tế chuộc tội lỗi của con để con được sống. Nay con xin hiến dâng cuộc đời con cho Ngài một lần nữa như là hành động của sự thờ phượng. Xin chính Chúa giúp con luôn sẵn lòng mở cuộc đời ra để Chúa Thánh Linh tiếp tục biến đổi và tái tạo con ngày càng trở nên giống Con yếu dấu của Ngài hầu con khám phá ý muốn của Ngài là tốt lành và trọn vẹn mỗi ngày. Amen!