Wednesday, February 19, 2020

CHÚA JESUS LÀ SỰ SÁNG CỦA THẾ GIAN

Giăng (John) 8:3-12
Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ri-si dẫn lại cho Ngài một người đàn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người giữa đám đông, mà nói cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm. Vả, trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; còn thầy, thì nghĩ sao? Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi nữa, thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người. Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất. Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước; Đức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đàn bà, người vẫn đang đứng chính giữa đó. Đức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đàn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao? Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội người; hãy đi, đừng phạm tội nữa.] Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.
Suy gẫm:
Lời tuyên bố của Chúa Jesus về chính mình “Ta là Sự Sáng của thế gian, kẻ nào tin ta chẳng đi trong nơi tối tăm nhưng có ánh sáng của sự sống” thường hay được trích như một câu tuyên bố chung chung của Chúa Jesus. Kỳ thật nó được thốt lên trong một bối cảnh rất cụ thể. Nó là câu Chúa Jesus kết luận cho câu chuyện những thầy thông giáo và Pha-ri-si mang một người đàn bà phạm tội tà dâm để giữa mọi người hầu tìm cách kết án Chúa Jesus. Mục đích chính của họ là xem thử Chúa Jesus sẽ phản ứng ra sao giữa việc tuân theo luật pháp của Môi-se và tình yêu của Đức Chúa Trời. Nếu Chúa Jesus đồng thuận tuyên án tử hình người đàn bà phạm tội tà dâm theo luật pháp của Môi-se thì họ sẽ cho rằng Chúa Jesus không có tình yêu thương. Ngược lại, nếu Chúa tha thứ cho người đàn bà này thì họ sẽ kết án Chúa Jesus không vâng giữ luật pháp của Môi-se. Đàng nào Chúa Jesus cũng “kẹt” không cách nào để chạy thoát khỏi âm mưu thâm độc của họ. Nhưng chúng ta thấy Chúa Jesus vô cùng khôn ngoan và đầy tình yêu. Thay vì họ làm cho Chúa Jesus là trọng tâm của mọi vấn đề thì Chúa Jesus biến họ trở nhân vật chính của cuộc đấu tố rất tàn nhẫn của họ. Chúa Jesus dùng cơ hội này để phơi bày tận gốc rễ bản chất thâm độc và gian ác của họ là giới lãnh đạo tôn giáo chỉ có hình thức bên ngoài mà bên trong là “xương cốt hôi thúi và mục rữa.”
Trước hết, chúng ta nói đến người đàn bà phạm tội tà dâm. Chắc hẳn đây không phải là lần thứ nhất bà đã phạm tội trọng này. Nhưng có thể “đi đêm có ngày gặp ma” là như thế. Đây là một cuộc đời sống trong sự tối tăm, theo đuổi những mối tình vụng trộm chỉ để thoả mãn nhục dục trong đời sống hay có thể vì miếng cơm manh áo chăng? Chúng ta chẳng hiểu lý do tại sao đã đưa đẩy cuộc đời của người đàn bà này vào trong bóng đêm của cuộc đời thật kinh tởm và vô dụng. Tội lỗi đã lấy mất đi sự trinh khiết, tốt đẹp, và quý báu của món quà tình dục (sex) mà Đức Chúa Trời đã ban cho con người nói chung và cho bà nói riêng. Khi đắm mình trong nhục dục thì linh hồn của bà bị tàn diệt, tấm lòng của bà trở nên cứng cõi, và thể xác của bà trở thành một món đồ chơi cho nhục dục và xác thịt. Cuộc sống của bà là một cuộc sống trong bóng đêm, lén lút, vụng trộm, và sợ hãi trước sự dòm ngó của người khác. Bà không thể sống chân thật với chính mình nhưng phải sống hai mặt. Chúng ta chẳng biết bà có gia đình chưa hay là gái mãi dâm? Dẫu cho thế nào đi chăng nữa thì tội lỗi và lòng dâm dục đã biến cuộc sống của bà là một cõi địa ngục không hơn không kém. Cuộc đời này khi đối diện với Chúa Jesus thì được tha thứ và giải cứu. Chúa Jesus không nói bà vô tội. Nhưng Ngài nói “hãy đi đừng phạm tội nữa.” Khi đối diện với Chúa Jesus thì ánh sáng của sự tha thứ và công nghĩa chiếu rọi vào trong cuộc đời và giải thoát cuộc đời của bà ra khỏi ngục tù của sự tăm tối. Để từ này, bà không còn bước đi trong sự tối tăm nữa nhưng có ánh sáng của sự sống. Đây là một cuộc đời tăm tối cần Chúa Jesus là sự sáng của thế gian!
Ngoài cuộc đời tăm tối của người đàn bà phạm tội tà dâm bị bắt quả tang rất dễ cho chúng ta nhận ra, trong câu chuyện này còn chỉ ra cho chúng ta thấy một hạng người nữa đang sống trong tăm tối mà chính họ không nhận ra. Đó là những thầy thông giáo và Pha-ri-si. Bề ngoài xem dường như họ là những con người của sự sáng nhưng trong tâm địa họ rất tăm tối:
a)     Lòng độc ác của họ thể hiện qua việc họ phơi trần tội lỗi của người khác nhằm mục đích gài bẫy Chúa Jesus. Đây là hành động quá ư gian ác và khốn nạn. Lòng gian ác và giả trá của họ được gói bằng lớp giấy hoa tôn giáo thánh thiện. Nghe tưởng chừng là họ làm theo luật pháp và sống theo luật pháp của Chúa nhưng kỳ thật họ dùng nó nhưng một phương tiện để làm việc đại ác, thoả mãn lòng hận thù cá nhân. Họ “bắn một viên đạn nhưng giết hai con chim”: Chúa Jesus và người đàn bà tà dâm. Họ sử dụng người đàn bà tà dâm như một loại vũ khí tôn giáo để đánh trận với Chúa Jesus.
b)     Lòng kiêu ngạo về đạo đức. Họ tưởng rằng mình là những con người đạo đức hơn người đàn bà phạm tội nhưng kỳ thật lòng họ chất chứa bao nhiêu thứ kiêu căng, tự phụ, và xoi mói tội lỗi của người khác. Họ thấy tội của người đàn bà mà không thấy sự giả hình và kiêu căng của mình qua việc lên án tội lỗi người khác. Chúa Jesus muốn dùng câu chuyện đầy kịch tính của người đàn bà tà dâm để lên án hành động và bản chất độc ác của họ. Chính Chúa Jesus để cho họ tự án chính mình.
Tất cả ai đến với Chúa Jesus sẽ tìm thấy một trong hai điều này: (a) nhận được ân sủng và sự tha thứ của Ngài bao phủ; hay (b) bị lên án cách nghiệt ngã về bản chất gian ác và giả trá của mình. Chính Chúa Jesus là sự sáng của thế gian. Không một cuộc đời nào có thể thoát khỏi ánh mắt phán xét hay yêu thương của Ngài tùy thuộc vào thái độ và sự nhân chân ra mình là ai? Nguyện Chúa cho chúng ta thấy chính mình mỗi ngày qua Lời Chúa và sự hiện diện của Chúa Thánh Linh đang cư trú trong đời sống chúng ta là môn đồ thật của Ngài. Xin Chúa mang chúng ta đến chỗ nhận mình cần được tha thứ tội lỗi, quyền năng biến đổi và tái tạo của Ngài để giải thoát chúng ta ra khỏi bản chất gian ác, xấu xa, và kiêu ngạo thăm căn cố đế thừa hưởng từ nơi tổ phụ mình. Như điều sứ đồ Phi-e-rơ khuyên như sau:
Hãy nên thánh, vì ta là thánh. Nếu anh em xưng Đấng không tây vị ai, xét đoán từng người theo việc họ làm, bằng Cha, thì hãy lấy lòng kính sợ mà ăn ở trong thời kỳ ở trọ đời nầy, vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít, đã định sẵn trước buổi sáng thế, và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em, là kẻ nhân Đức Chúa Jêsus tin đến Đức Chúa Trời, tức là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, và ban sự vinh hiển cho Ngài đến nỗi đức tin và sự trông cậy anh em được nương nhờ Đức Chúa Trời (I Phi-e-rơ 1:16-21)
Cầu nguyện:
Cầu xin Chúa ban cho con thái độ nhu mì khiêm nhường để ánh sáng của Ngài có thể chiếu tận nơi sâu thẳm của tấm lòng con để nhận chân ra được bản chất thật của chính mình. Và xin Chúa cũng phản chiếu sự sáng của Ngài qua con để dẫn đưa những ai đang sống trong tăm tối có thể đến với Ngài để được tha thứ và trở nên con cái của Ngài. Amen!